Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 91
Hợp năm nước, Tô Tần tung thân
Nguyện đi sứ, Trương Nghi liều mạng

❊ ❊ ❊

Từ lúc quân Sở tới ải Lam Điền cho tới khi bốn nước liên hoành phạt Sở, từ lúc quân Tề tập kích giết chết Đường Miệt cho tới khi quân Tần thu hồi toàn bộ Thương Ư, chiếm đoạt quận Hán Trung, đại quân liên hoành của bốn nước đã chiến thắng liên hoàn, đại bại quân Sở. Hai quân Hàn, Ngụy đều có thu hoạch, thấy đủ là dừng, còn chư tướng quân Tần lại khí thể sục sôi, đua nhau thỉnh chiến lên Tần Vương, những mong thừa thắng xua quân thẳng tới Sính Đô, cắm cờ Tần khắp giang sơn Đại Sở.

Tần Huệ Vương đứng ngồi không yên.

Tần Huệ Vương cũng đã động lòng.

Tần Huệ Vương cứ đứng chôn chân trước sa bàn, cặp mắt chim ưng đã già nua chầm chậm di chuyển trên hai vùng đất mới vừa được mở mang, mỗi vùng rộng đến vài trăm dặm vuông là Kiềm Đông và Hán Trung. Trước sau chưa đầy hai năm, màu cờ trên hai vùng đất rộng lớn này đã từ màu đỏ của Sở đổi sang màu đen của Tần, chóng vánh như một phép màu.

Ánh mắt Tần Huệ Vương lại tiếp tục di chuyển khỏi hai vùng đất đó, từ Hán Trung lên tới Dung Trung. Dung Trung vốn là đất phát nguyên của người Ba, hiện đã thành huyện Phòng Lăng của nước Sở. Giáp ranh với huyện Phòng Lăng là Kinh Sơn, qua Kinh Sơn, sông ngòi ngang dọc, nước trời một sắc, Sính Đô của Đại Sở toạ lạc trên vùng đồng bằng Giang Hán rộng lớn mênh mông không thấy chân trời.

Ánh mắt Tần Huệ Vương tiếp tục di chuyển tới quận Kiềm Đông, rồi lại từ Kiềm Đông di chuyển về phía đông, lên phía bắc…

Đất Sở thực quá rộng lớn!

Tần Huệ Vương khẽ hít sâu vào một hơi, từ từ bước về bên án.

Trên án bày một dãy tấu chương, mỗi tấu chương đều rành rành hai chữ “thỉnh chiến”.

Bên ngoài có tiếng bước chân vọng lại, một lúc sau, nội thần dẫn Trương Nghi bước vào.

Vua tôi hành lễ xong xuôi, Tần Huệ Vương chỉ vào đống tấu chương trên án: “Mấy ngày nay, quả nhân nhận được vô số biểu tấu của chư tướng sĩ, đều thỉnh cầu đánh tới Sính Đô. Quả nhân vời tướng quốc tới đây, là muốn nghe thử ý khanh!”

“Dám hỏi đại vương, những người dâng tấu, rốt cuộc là chư tướng, chư sĩ, hay là chư tướng sĩ?” Trương Nghi không xem biểu tấu, chỉ nhìn Huệ Vương mà hỏi.

“Là chư tướng, Ngụy Chương, Tư Mã Thác, Doanh Hoa cũng đều dâng tấu!”

“Bởi vậy đại vương mới không thể ngồi yên, cũng muốn thừa thắng đánh tới Sính Đô, một đòn toàn thắng?”

“Có thể cho là vậy. Hiện tại là thời cơ tuyệt diệu, ba quân tan tác, Hùng Hoè hoảng loạn, Đại Sở cô độc, Sinh Đô cũng đã gần trong gang tấc.” Dừng lại một thoáng, Huệ Vương chỉ vào đống tấu chương, “có điều, những thứ này cũng là vô nghĩa, quả nhân chỉ muốn nghe khanh.” Mỉm cười, “khanh hãy quyết đoán xem, nếu được, quả nhân lập tức hạ chỉ, nếu không được, quả nhân sẽ không hạ chỉ.”

“Thần không thể quyết đoán.” Trương Nghi sắc mặt nghiêm trang, “thỉnh cầu đại vương hãy mời tới một viên trướng phòng11, để hắn quyết đoán mới được.”

“Ồ…” Huệ Vương nheo mắt, ngẫm nghĩ một lát, chỉ vào Trương Nghi, “nghe nói hồi tướng quốc mới rời Quỷ Cốc, từng làm trướng phòng cho hàng thịt ở đất Sở, thông thạo sổ sách.” Vòng tay, “quả nhân có lời mời Trương trướng phòng!”

“Đại vương đúng là tai mắt tinh tường!” Trương Nghi mỉm cười, đáp lễ Huệ Vương, rồi bắt đầu gập ngón tay tính toán, “theo bản trướng phòng được biết, trong hai trận chiến với Sở, trận đầu ở Đan Dương, ta thủ thắng trong đường tơ kẽ tóc, tướng sĩ tuẫn quốc hơn sáu vạn, trọng thương hơn vạn, cộng lại không dưới tám vạn không còn có thể ra trận. Trận sau ở Lam Điền, ta tuẫn quốc gần tám vạn, thọ thương gần ba vạn, cộng lại tổn thất hơn chục vạn. Qua hai cuộc chiến, tổn thất tổng cộng mười tám vạn, tức non nửa tổng số binh lính của Đại Tần ta.”

Huệ Vương hít sâu vào một hơi, nhắm mắt lại.

“Vương huynh,” Trương Nghi cười gượng, chỉ vào tấu chương, “số tấu chương này, đều là của chư tướng dâng lên, bởi lẽ họ đều là người chiến thắng, chưa từng chiến bại, thứ họ nhìn thấy, là thất bại dồn dập của Đại Sở, là cơ hội có một không hai, mà hoàn toàn không nhận thấy bản thân cũng đầy mình thương tích, nguyên khí kiệt quệ, không thể tiếp tục! Đại vương cớ sao không thử đi vào doanh trại, hỏi han sĩ tốt, nghe xem ý họ thế nào?”

“Sĩ tốt lẽ nào không muốn lập công?”

“Họ đã lập công rồi, điều họ mong muốn bây giờ, chính là sống sót trở về nhà để tận hưởng chiến công, chứ không phải tử trận nơi đất khách quê người, để kẻ khác hưởng thụ chiến công đánh đổi bằng sinh mạng họ!” Trương Nghi khẽ nhún vai, “nếu thần là một binh sĩ, chắc chắn thần cũng nghĩ vậy. Hai quân giằng co, sống chết gang tấc, họ đã tận mắt chứng kiến quá nhiều!”

“Khanh nói phải!” Huệ Vương gật đầu, nhìn sang Trương Nghi, “vậy theo tính toán của tướng quốc, bước tiếp theo…”

“Thần còn chưa tính xong,” Trương Nghi tiếp tục gập ngón tay, “nay đại vương dốc hết quốc lực khai chiến với Đại Sở. Binh lính thiện chiến của ta không quá ba chục vạn, còn lại đều là dân binh, nô bộc. Hơn ba mươi vạn, giờ đã hao hụt quá nửa, số còn lại liền năm chinh chiến, đã mệt mỏi rồi. Ngược lại, hãy nhìn nước Sở, lãnh thổ năm nghìn dặm, bị ta chiếm cứ, chẳng qua chỉ là một xó nhỏ. Ba quân Sở tuy tan tác, song thực sự tử chiến sa trường, chỉ chưa đầy một phần ba. Vả lại số dân binh, nô bộc của Sở lại gấp đôi ta. Không chỉ có thế,” nhìn thẳng vào Huệ Vương, cất giọng rành rọt, “quan trọng nhất là, người Sở gần đây thắng nhiều bại ít, chưa từng nếm mùi thất bại thê thảm nhường này. Quả là đại vương đã cho người Sở một trận đòn đau.”

“Đòn đau có gì không tốt?”

“Đau sẽ tỉnh!”

Huệ Vương lại hít sâu vào một hơi, trịnh trọng gật đầu: “Khanh nói phải!”

“Còn nữa,” Trương Nghi vẫn thao thao bất tuyệt, “nước Sở không phải là Ba, Thục. Sở diệt Việt, là cá lớn nuốt cá bé. Tần diệt Ba, Thục, cũng là cá lớn nuốt cá bé. Dù là cá lớn nuốt cá bé, nếu không dùng mưu kế, cũng khó thành công. Tần với Sở lại khác hẳn, là cá bé nuốt cá lớn, là rắn nuốt voi. Sở Vương không phải là Việt Vương mê kiếm, càng không phải là Thục Vương si tình. Dám hỏi đại vương, dựa vào thực lực của Tần hiện tại, liệu ta có thể một miếng nuốt chửng Đại Sở mênh mông?” Chi vào tấu chương trên án, “chư tướng lúc này đang nhiệt huyết sục sôi, nhưng theo thần thấy, chỉ dựa vào đó, không những đừng mong đánh tới Sính Đô, mà dù có đánh tới Sính Đô, họ cũng sẽ mau chóng nếm mùi khốn đốn!”

Huệ Vương lại hít vào một hơi lạnh toát.

“Còn một khoản nữa,” Trương Nghi vẫn tiếp tục, “chính là vị sư huynh của thần. Nếu không ngoài dự liệu của thần, quân Tề lui binh chính là bởi Tô Tần can thiệp. Còn có Công Tôn Diễn ở Ngụy, sẽ không đồng tâm với ta. Hệ trọng nhất chính là Triệu Vương, cho cả nước mặc áo Hồ rèn kỵ xạ, thu phục Lâu Phiền, Lâm Hồ, chỉ trong hai năm ngắn ngủi, đã mở mang lãnh thổ gấp rưỡi, thế lực không thể xem thường. Triệu Vương nghe ai? Tô Tần! Và còn nước Yên. Yên Vương mới tức vị, tuy nói là cốt nhục của đại vương, song đưa Yên Vương lên ngôi lại không phải là đại vương, mà là Triệu Vương, là Tô Tần, xét theo lợi ích, Yên Vương ắt sẽ nhập tung thân. Nay ta sở dĩ thắng được Sở, là nhờ vào bốn nước kết minh. Nay Tề đã lui, Ngụy khác lòng, đại vương có thể dựa vào, chỉ còn một nước Hàn yếu ớt. Hàn Vương đã được Uyển Thành, khiến liệt quốc đố kỵ, giờ tâm nguyện lớn nhất của Hàn Vương, chỉ là giữ vững được Uyển Thành. Từ đó mà thấy, người Hàn cũng không thể dựa vào. Không còn chỗ dựa, mà đại vương lại muốn dùng sức của mình mình, xua hơn chục vạn sĩ tốt không còn lòng dạ viễn chinh đánh tới Sinh Đô của Sở, chẳng phải hoang đường lắm ư?”

Trương Nghi lập luận tầng tầng, Tần Huệ Vương nghe mà mồ hôi đẫm trán.

“Vậy nên thần có lời can gián,” Trương Nghi đổi giọng, “đại vương hãy thấy đủ thì dừng, giảng hoà với Sở. Qua trận chiến này, Sở đã kiệt sức, đại vương không còn lo lắng phía nam. Về kế sách tương lai, đại vương nên nghỉ ngơi dưỡng sức, phía nam giảng hoà với Sở, phía đông mưu cầu Trung Nguyên, quan trọng nhất là chờ thời cơ làm suy yếu Tề, Triệu, làm tan rã tung thân của Tô Tần.”

“Khanh nói chí phải!” Huệ Vương đã bị thuyết phục hoàn toàn, “chỉ là, Sở Vương… có chịu không?”

“Theo thần được biết,” Trương Nghi đáp lời, “Sở Vương là người nhiệt huyết. Người nhiệt huyết thì bổng bột, không để bụng, bị đại vương đấm cho một quyền, sẽ nhảy dựng ngay dậy, đại vương xoa vài cái, có lẽ sẽ lại ngồi yên. Hơn nữa, với Sở Vương lúc này, nước nào cũng thù địch, trận nào cũng thảm bại, quân nào cũng tan rã, Sở Vương ý chí suy sụp, ước vọng tiêu tan, đang lúc tâm can mềm yếu nhất. Chỉ cần đại vương xoa cho một cái đúng lúc đúng chỗ, rất có thể…” Trương Nghi tự tin đáp.

“Theo kế của tướng quốc, quả nhân nên xoa thế nào?”

“Chẳng phải kẻ này một lòng muốn đòi lại Thương U?” Trương Nghi chỉ vào sa bàn, “đại vương đã chiếm được quận Hán Trung, sơn cốc Thương Ư không còn quá hệ trọng nữa, ta có thể trả lại mười lăm ấp tại đất Ư phía đông ải Vũ Quan, bởi những ấp ấy vốn do Thương Quân cướp của người Sở. Còn đất phía tây Vũ Quan là do tiên tổ nước Sở tặng cho tiên tổ của đại vương, đại vương có lý do để không trả lại. Còn đất Kiềm Đông, nếu người Sở dứt khoát đòi về, đại vương cũng có thể tạm trả cho họ.”

“Cứ theo lời tướng quốc!” Huệ Vương lập tức chấp thuận, “ai có thể đi sứ?”

“Thần tiến cử Doanh Tật.”

Đường đường ba quân Đại Sở, chỉ một sớm một chiêu đã tan tác chim muông, tơi bời hoa lá, Sở Hoài Vương bất luận thế nào cũng không thể tin rằng đây chính là kết cục.

Tuy nhiên, sự thực đã phơi bày trước mắt. Người Tần không chỉ cướp lại toàn bộ đất Thương Ư đã mất vào tay Sở, mà còn chiếm thêm đất Kiềm Đông vài trăm dặm vuông, quận Hán Trung cũng vài trăm dặm vuông, cờ đen của Tần đã cắm tới tận trước cửa nhà. Quận Kiềm Đông thì không nói làm gì, dù sao cũng là vùng đất hoang vu hẻo lánh, cách Sính Đô hơn nghìn dặm, núi sông trùng trùng ngăn cách, Sở cũng không lấy làm đáng tiếc. Song quận Hán Trung thì khác. Sở có Hán Trung, về tây có thể uy hiếp Tân Trịnh, cắt đứt Tần và Ba Thục, giờ Tần có được Hán Trung, có thể xuôi thuyền theo dòng Hán Thuỷ, uy hiếp Sính Đô.

Mối uy hiếp này, Hoài Vương không thể chống đỡ.

So với người Tần, người Hàn càng khiến Hoài Vương oán hận hơn nữa. Chính người Hàn đã phá Phương Thành của Sở, chiếm kinh đô ô kim của Sở! Người Hàn đã có Nghi Dương, giờ lại có được Uyển Thành, ô kim trong thiên hạ đều đã nằm gọn trong tay người Hàn. Và còn người Ngụy, âm thầm chiếm mất Diệp Thành và Thượng Sái, hai nơi này tuy không trọng yếu bằng Phương Thành và Uyển Thành, song cũng khác nào khoét mất một miếng thịt trong tim.

Vừa mệt mỏi, vừa phẫn hận, Sở Hoài Vương đổ bệnh.

Sở Hoài Vương cơm không muốn ăn, nước không thiết uống, cả ngày ở lì trong tẩm cung, việc trong triều đều phó thác cho thái tử Hoành và lệnh doãn Chiếu Tuy.

Hoài Vương dưỡng bệnh suốt hai tháng trời, tới tháng thứ ba, cảm thấy đỡ hơn chút ít, mới lại thượng triều.

Nước Sở vẫn là của Hoài Vương. Hay tin Hoài Vương lên triều, triều thần đều vào chầu đông đủ, đứng chật kín triều đường.

Sở Hoài Vương nhìn khắp lượt, thấy gần một phần ba số triều thần không hề quen mặt, thì hiểu rằng họ đều là con cháu của triều thần tử trận, chiếu theo chế độ thế tập của Sở, mà được bổ khuyết vào chức của cha ông. Có người tuổi còn rất nhỏ, đai mũ thùng thình, đứng lọt thỏm trong hàng ngũ.

“Các khanh,” Hoài Vương đưa mắt nhìn khắp lượt triều thần, giọng nói sang sảng, ngữ khí nặng nề, “Đại Sở ta từ khi lập nước, chưa từng trải qua thất bại nhường này. Nguyên do thất bại, không phải bởi binh sĩ ta bất dũng, không phải bởi tướng soái ta bất tài, mà bởi sai lầm của một mình quả nhân!”

Thấy Hoài Vương nhận hết lỗi lầm về mình như vậy, triều thần thảy đều bất ngờ.

“Bệ hạ…” Chiêu Tuy quỳ xuống, bật khóc thành tiếng. Toàn bộ triều thần cũng theo nhau quỳ xuống, tiếng khóc rộ khắp triều đường.

“Song Đại Sở ta đã bao giờ khuất phục?” Hoài Vương thình lình cao giọng, lời lẽ đanh thép, “chưa từng! Nhớ năm xưa, Ngũ Tử Tư dẫn quân Ngô cướp bóc Sánh Đô ta, ở trong cung thất ta, đồ sát gia tộc ta, sỉ nhục vợ con ta, huỷ hoại tông miếu ta, đào bới lăng mộ ta, giày xéo thi thể tổ tiên ta, nhưng Đại Sở ta có chịu khuất phục? Ta có nghĩa sĩ Thân Bao Tư, ta có trung thần Tử Kỳ, ta có muốn vạn con dân Đại Sở! Ngày nay cũng vậy! Quả nhân may mắn nhường nào, bởi quả nhân có Mị Sửu, có Khuất Cái, có Khuất Dao, có hàng vạn nghĩa sĩ xả thân tuẫn quốc, có hàng vạn hậu bối bất khuất kiên cường!”

Trước khí khái hào hùng của Hoài Vương, quần thần không ai không chấn động, không ai không nhiệt huyết sục sôi.

“Chư vị hiền thần,” Hoài Vương tiếp lời, “suốt hai tháng qua, quả nhân ngã bệnh. Là bệnh gì? Có hai bệnh, một bệnh ở thân, một bệnh ở tâm. Bệnh ở thân, quả nhân chịu được; bệnh ở tâm, quả nhân khó lòng chịu đựng, dằn vặt khổ sở, ngày dài như năm!”

Triều đường lặng phắc như tờ, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Hoài Vương.

“Tâm bệnh của quả nhân, gốc rễ chỉ ở hai chữ,” Hoài Vương chậm rãi nói tiếp, ngữ khí trầm nặng, “một là chữ hận, một là chữ hối. Quả nhân hận ba thứ, một là người Tần, hai là người Hàn, ba là người Ngụy! Quả nhân hối hai điều, một là hối vì nghe theo lời kẻ tiểu nhân bất tín Trương Nghi, hai là hối vì tuyệt giao với Tề Vương!” Ánh mắt lạnh băng quét về phía Ngận Thượng, từ trong lỗ mũi “hừm” lên một tiếng.

Ngận Thượng nhìn tận mắt, nghe tận tai, bất giác rùng mình ớn lạnh.

“Các khanh,” giọng Hoài Vương bỗng quyết liệt sục sôi, “quả nhân hiểu, quả nhân không phải là vua hiền, nhưng quả nhân biết liêm si! Khổng Tử có câu, biết liêm sỉ thì sẽ dũng!” Quay sang nội doãn, “lấy nghiên!”

Nội doãn lấy nghiên mực, bày trước mặt Hoài Vương. Hoài Vương chậm rãi rút thanh bảo kiếm, đặt ngang trên án, chìa một ngón tay, kề vào mũi kiếm, ấn mạnh.

Quần thần thảy đều bàng hoàng kinh hãi.

Mũi kiếm đâm thủng ngón tay, máu tươi nhỏ ròng ròng vào trong nghiên.

“Bệ hạ.” Chiêu Tuy khóc mà gọi. Quần thần cũng đều khóc theo.

Thấy máu đã nhỏ đầy trong nghiên, Hoài Vương nhìn sang ngự sử: “Dùng máu của quả nhân, soạn chi!”

Ngự sử quỳ xuống, hai tay bưng nghiên máu, giọng run run: “Thần lĩnh mệnh!”

Hoài Vương gằn từng tiếng: “Thiên kinh địa nghĩa, nợ máu đến máu. Quả nhân tiên phong, con dân Đại Sở, phàm là trai tráng, tất cả tòng quân, múa đao luyện thương, giết chết sài lang, dùng máu kẻ thù, thu hồi lãnh thổ, tế hồn tử sĩ!”

Triều thần có mặt không ai không cảm động, quỳ rạp dưới đất, nước mắt rưng rưng, đồng thanh hổ lớn: “Thần thụ mệnh!”

Sau khi bãi triều, Khuất Bình hồi lâu vẫn chưa thể trấn tĩnh.

Trước khi vào chầu, Khuất Bình đã đoán được Hoài Vương hôm nay sẽ làm ra việc gì đó kinh hãi lòng người, nhưng vẫn không ngờ hành vi của Hoài Vương còn đáng kinh hãi hơn mường tượng, lại một lần nữa thổi bùng ý chí căm thù, tiếp tục châm ngòi chiến hoa.

Nhìn những thiếu niên non nớt lên triều, Khuất Bình chỉ thấy bị thương, còn Hoài Vương lại thấy hùng tráng.

Tuy nhiên trên triều đường, Khuất Bình lại không nói lời nào.

Kinh qua sóng gió đã nhiều, Khuất Bình học được cách nhẫn nhịn. Khuất Bình hiểu, Hoài Vương một khi đã khăng khăng quyết ý làm gì, sẽ không chịu nghe bất cứ lời nào trái ngược.

May mắn thay, trong ba điều hận của Hoài Vương lại không gồm cả người Tề. Khuất Bình hiểu, không phải Hoài Vương quên, mà là không thể hận được người Tề, bởi chính Hoài Vương đã chủ động tuyệt giao. Với việc của Tống Di, nếu đổi lại là Hoài Vương, e rằng không chỉ đơn giản là quăng vào vạc nấu.

Kế trước mắt, là cầu cứu vương thúc.

Trong những ngày Hoài Vương nằm liệt giường, vương thúc là người bận rộn nhất trong số triều thần nước Sở. Trên triều đường tuy có thái tử Hoành, song người thực sự xử lý quốc sự, vẫn là vương thúc; toàn lực thống lĩnh quân Sở trực chiến đề phòng ba quân Tần, Hàn, Ngụy đánh vào Sính Đô, cũng là vương thúc. Nửa tháng trước, vương thúc tới Đan Dương thị sát quân tình, lúc này hẳn đã quay về.

Khuất Bình sai Khuất Dao tới phủ vương thúc thăm dò, nào ngờ vương thúc lại lên xe ngựa của Khuất Dao tới tận nhà cỏ tìm Khuất Bình.

Khuất Bình hay tin, vội ra ngoài cổng nghênh đón.

Vương thúc nắm chặt tay Khuất Bình mà nói: “Giờ Nhân định đêm qua, lão phu mới về tới phủ, sáng nay mỏi mệt, chưa thể lên triều, đang định tìm Khuất Tử trò chuyện thì Khuất Dao tới, lão phu bèn nhân tiện lên xe tới đây, thực là vừa khéo!”

“Tạ ơn vương thúc nhớ tới!” Khuất Bình đỡ vương thúc bước vào trong cổng, đi tới thảo đường, rồi ngồi xuống chiếu.

Khuất Dao mang kỷ án tới, bày trà.

“Buổi chầu sáng nay,” Khuất Bình nhìn thẳng vào vương thúc, nói ngay vào chuyện, “đại vương cắt máu thảo chiếu, lệnh cho toàn bộ con dân Đại Sở, phàm là trai tráng đều phải đầu quân, để báo thù ba nước Tần, Hàn, Ngụy. Vãn bối cho là bất trí. Sai lầm không quá ba lần, đại vương đã phạm sai lầm hết lần này tới lần khác rồi, vương thúc!”

“Than ôi,” vương thúc rầu rĩ thở dài, “Khuất Tử đã đúng, đại vương u mê rồi, lão phu… cũng u mê rồi. Trước là tin tưởng Trương Nghi, sau lại không nghe lời khuyên của Khuất Tử, quyết ý phạt Tần, để rồi nhận phải trái đắng. Lão phu đã hại Đại Sở rồi!”

“Vương thúc,” Khuất Bình cất giọng kiên định, “ngày qua không thể theo đuổi, ngày mai có thể chờ mong. Bất luận thế nào, Đại Sở ta vẫn là Đại Sở!”

“Phải!” Vương thúc quay về hiện tại, ngả người lại, nhìn xoáy vào Khuất Bình, “lão phu tới đây, chính là muốn nghe mưu kế lâu dài của Khuất Tử.”

“Tạ ơn vương thúc tin tưởng!” Khuất Bình vòng tay cảm tạ, đoạn dõng dạc nói, “vãn bối không có mưu nào khác, vẫn là tạo hiến cải chế, kết Tề chế Tần.”

“Được!” Vương thúc dứt khoát, “lão phu theo lời Khuất Tử, tạo hiến cải chế, kết Tề chế Tần!”

“Vương thúc… nói thật ư?” Khuất Bình không dám tin vào tai mình.

“Thật!” Vương thúc ngữ điệu bình thản, song đầy uy lực.

“Vân Nhi!” Khuất Bình lấy làm xúc động, ngửa cổ nhìn lên, vừa hay trông thấy một áng mây trắng lờ lững giữa trời, bèn nghẹn ngào mà nói, “nàng nghe rồi chứ Vương thúc… cha nàng… đã chấp thuận tạo hiến cải chế…”

Nghe Khuất Bình nói vậy, vương thúc cũng ngửa cổ nhìn trời, nước mắt ứa ra.

Hai người sụt sùi một hồi, rồi bắt đầu bàn bạc về tạo hiến cải chế, suốt hai canh giờ không nghỉ.

Sau những ngày này, rõ ràng vương thúc đã suy nghĩ lại, cũng đưa ra một loạt cải cách cho giới quý tộc, một điêu quan trọng trong đó là cách phong thưởng quân công. Bất luận là ai, toàn bộ phong thưởng đều phải liên quan tới ruộng đất. Phàm những ai giết địch lập công, hoặc xả thân tuẫn quốc, không những có thể bảo toàn tước vị vốn có, mà còn có thể tấn tước gia phong; những ai hèn nhát không đánh, hoặc trốn tránh tòng quân, sẽ thu hồi toàn bộ quyền lợi thế tập. Còn những người lập công sa trường, hoặc hy sinh trong trận mà xuất thân thường dân, sẽ được phong thưởng tuỳ vào công trạng.

So với cách thẳng tay xoá bỏ chế độ thế tập của Khuất Bình trước đó, đề xuất của vương thúc rõ ràng mềm mỏng hơn nhiều. Hiện nay, giặc ngoài xâm phạm, quốc gia nguy nan, con dân Đại Sở đều phải dốc sức vì nước, thưởng công phạt tội là lẽ đương nhiên, không thể phản bác.

Hai người bàn bạc xong xuôi, Khuất Bình lấy những bản hiến lệnh đã soạn trước đây ra, sửa lại từng điều theo kiến nghị của vương thúc, soạn thành một bộ hiến chế hoàn chỉnh. Đến sáng hôm sau, bèn cùng vương thúc vào cung, tấu lên Hoài Vương.

Hoài Vương đọc kỹ một lượt, đặt lại xuống án, nói với Khuất Bình: “Đây là kế sách lâu dài, không phải là việc cấp bách. Việc cấp bách hiện tại, là chiêu mộ tráng đinh, sung vào ba quân, quyết chiến với Tần, Hàn, Ngụy, thu hồi đất đai đã mất!”

Khuất Bình nhìn sang vương thúc.

“Vương huynh,” vương thúc lên tiếng, “thần đệ mới đi thị sát ba quân ở Đan Dương trở về. Hiện tại nếu như khai chiến, e rằng ta không đánh nổi nữa rồi. Ba quân khí thế sa sút, cần có thời gian để chấn chỉnh sĩ khí. Vả lại, lương thảo thiếu hụt nghiêm trọng, sau thiên tại lớn, ta chinh chiến liên miên, kho lẫm đều đã trống rỗng từ lâu. Thần đệ cho rằng, việc cấp bách hiện tại là cùng dân nghỉ ngơi. Quân tử báo thù, mười năm chưa muộn.” Rồi chỉ vào bản hiến chế trên án, “hiến lệnh này, là do thần đệ cùng Tam Lư đại phu soạn ra, chỉ cần đại vương dốc sức thực thi, không cần tới mười năm, là có thể phục hưng nước Sở, thu phục đất đai đã mất!”

Thấy vương thúc đã đổi ý, lại còn ủng hộ Khuất Bình, Hoài Vương lấy làm kinh ngạc.

“Đại vương!” Thấy Hoài Vương cứ ngồi im không nói năng gì, Khuất Bình tiếp lời, “cho dù có trưng binh mộ dịch, nếu vương chế không đổi, dân chúng cũng sẽ không ủng hộ. Nếu như cải cách vương chế, đại vương khích lệ bằng ruộng đất, phong thưởng theo công lao, sẽ khiến người dân phấn chấn. Đại Sở ta đất rộng người đông, nếu như có thể thưởng phạt công bằng, không phân biệt xuất thân, dân chúng sẽ vui vẻ đầu quân ra trận, nhất là nô bộc!”

“Hai khanh nói phải!” Hoài Vương qua cơn sửng sốt, dần trấn tĩnh lại, trầm ngâm chốc lát rồi quyết đoán, “vậy thì hai việc cùng làm, một bên trưng binh mộ dịch, một bên ban bố lệnh này, khích lệ phong thưởng, vừa cày ruộng vừa đánh giặc.

Đây cũng có thể coi là kế sách lưỡng toàn, Khuất Bình, vương thúc đều không tiện nói gì thêm.

“Dám hỏi đại vương,” Khuất Bình lên tiếng, “tướng sĩ tử trận hoặc lập công lần trước, có được phong thưởng theo hiến lệnh mới ban chăng?”

Đây là một việc lớn, một khoản chi tiêu khổng lồ.

Mấu chốt là ở chỗ, cuộc chiến lần trước toàn quân bại, chiến bại mà được ban thưởng, là chuyện xưa chưa từng có.

Hoài Vương do dự một lát, nhìn sang vương thúc. Vương thúc nhìn Khuất Bình.

Hoài Vương cũng nhìn theo.

“Thần cho rằng,” Khuất Bình tâu bày, “phàm là tướng tử trận, đều là tuẫn thân báo quốc, đại vương nên có phủ tuất.”

“Phủ tuất thế nào?” Hoài Vương cười gượng, nhìn sang thúc, “quân chiến bại, thưởng thế nào đây? Nếu như thưởng, sau này ai còn dũng cảm lập công nữa?”

“Thần cho rằng,” Khuất Bình kiên quyết, “chiến tranh bại, liên quan tới người sống sót chứ không liên tới người tử trận. Binh sĩ ra trận, là để chiến đấu. Với tử trận, thắng thua đã không còn liên quan. Quân thắng hay quân bại trận, đều là chỉ những người còn . Đại vương ban thưởng quân thắng trận, trừng phạt thua trận, đều là ban thưởng và trừng phạt người , còn người tử trận sa trường mới thực sự là dũng sĩ! Đại vương nếu không hậu táng liệt sĩ, trọng thưởng liệt sĩ, lại tiếp tục giao chiến, liệu còn có ai sẵn sàng liều chết? Bởi vì, chỉ có sống sót trở về, mới là đắc lợi!”

“Khanh nói phải.” Hoài Vương sắc mặt rầu rĩ, “nhưng mấy trận giao tranh, người tử chiến không dưới hai chục vạn, mà quốc khổ thì…”

“Đại vương,” Khuất Bình tiếp lời, “tiền bạc, đều là dùng vào sản vật. Quốc khố không còn tiền bạc, song đất Sở ta tài vật dồi dào, đại vương lại không hề thiếu sản vật. Với người tử chiến, đại vương có thể lệnh cho tư doãn chế sách ghi công, lập bia dựng đền, khắc tên ghi công, ban cho của cải, tặng cho gia sản. Mọi người thấy đại vương hậu táng trọng thưởng, có chết cũng không phải lo, nếu ngày sau ra trận, ắt sẽ dũng cảm xông pha. Quân không sợ chết, đánh ắt thắng.”

“Được!” Hoài Vương chỉ vào cuộn thẻ tre trên án, “hãy ghi lại những điều này vào trong hiến chế.”

Khuất Bình đổi ngồi thành quỳ, dập đầu mà nói: “Thần thay mặt binh sĩ tử trận cùng gia quyến, tạ ơn đại vương!”

“Than ôi, cảm tạ gì kia!” Hoài Vương thở dài, “Khuất Bình, khanh là bậc đại tài, chỉ tiếc là quả nhân nhiều lần không chịu tin khanh, hối cũng đã muộn. Chuyện hiến lệnh, đã có vương thúc trợ giúp, quả nhân yên tâm rồi. Đợi khanh soạn xong, quả nhân lập tức ban chiếu, lệnh cho phủ lệnh doãn gấp rút thực thi. Mối lo bên trong đã lo liệu xong, còn kẻ địch bên ngoài thì sao? Thu phục lãnh thổ, xua đuổi ba giặc thế nào, khanh hẳn có kế hay?”

“Thần vẫn theo kế của Tô Tử, hợp tung chế Tần.” Khuất Bình ngồi lại xuống chiếu, dõng dạc đáp lời.

“Hợp tung cái gì?” Hoài Vương cười nhạt, “Hàn, Ngụy còn đang chiếm đất của ta!”

“Kết minh với Tề. Ta có cường Tề, có thể chế Tần!”

“Than ôi,” Hoài Vương thở dài, “là quả nhân u mê, đã để Tống Di kia cắt đứt đường lui!”

“Đường lui bị cắt, có thể sửa lại!”

“Quả nhân cũng có ý này, chuyện của nước Tề, chỉ khanh có thể đảm đương. Khanh hãy sang Tề một chuyến, thay quả nhân nhận lỗi với Tề Vương. Nước Tề đã đổi vua mới, thử nghe xem kẻ hậu sinh kia ý tứ thế nào!”

“Thần thụ mệnh!”

Khuất Bình soạn xong hiến lệnh, giao cho vương thúc, rồi nhận sứ tiết, vội vã lên đường tới Lâm Truy.

Khuất Bình đi khỏi chưa tới mười ngày, sứ Tần Doanh Tật đã tới Sính Đô, trình lên quốc thư, cầu kiến Sở Vương.

Hoài Vương từ chối không gặp, cũng không nhận quốc thư.

Doanh Tật bèn tới phủ lệnh doãn, trình lên bái thiếp.

Người canh cổng nhận bái thiếp, lát sau trở ra, nói rằng lệnh doãn không có nhà.

Doanh Tật hiểu, là do Chiêu Tuy không muốn gặp.

Doanh Tật ở lại sứ quán hai ngày, tới chập tối ngày thứ ba, tìm tới gọi cổng nhà Ngận Thượng.

Đi cùng còn có Xa Vệ Tần.

“Ối chao, định hại chết tại hạ đấy ư!” Ngận Thượng giật mình kinh hãi, vội kéo phắt hai người vào trong cổng, rõ ràng đã hiểu lý do họ tìm tới đây, bèn hạ thấp giọng nói với Xa Vệ Tần, “đi tìm Chiêu Tuy!”

“Hắn không chịu gặp!”

“Hãy chờ đi!” Ngận Thượng chỉ về phía Chiêu phủ cách đó không xa, giọng càng thì thào, “hắn vào cung rồi, đại vương triệu kiến, hẳn là vì chuyện của hai vị, lúc này có lẽ chưa về!”

Hai người không nói thêm gì, vội vã từ biệt, sang ngay Chiêu phủ, chờ ở ngoài cổng chưa được bao lâu, đã nghe có tiếng xe ngựa lại gần, quả nhiên là Chiêu Tuy về phủ.

Doanh Tật liền bước ra chỗ sáng, hướng vào Chiêu Tuy đang bước xuống xe, vòng tay vái dài: “Sứ Tần Doanh Tật bái kiến lệnh doãn đại nhân!”

“Chiêu Tuy bái kiến sứ Tần!” Chiêu Tuy đáp lễ.

“Doanh Tật hôm trước có tới cầu kiến, đúng lúc đại nhân không có trong phủ. Hôm nay lại tới, đại nhân cũng đi vắng, tại hạ không biết làm sao, đành chờ ở đây, quả nhiên chờ được đại nhân rồi!” Doanh Tật tươi cười nói.

“Chiêu Tuy thất lễ!” Chiêu Tuy chia tay, “sứ Tần, mời!” Doanh Tật bước vào, Xa Vệ Tần là hộ vệ, phải đợi bên ngoài.

“Sứ Tần cất công chờ tại hạ, không phải để hạ chiến thư đấy chứ?” Chiêu Tuy nhìn xoáy vào Doanh Tật, ánh mắt có phần khiêu khích.

“Doanh Tật không dám!” Doanh Tật vòng tay, “ngoài Thương Quân, người Tần chưa từng khiêu chiến với Đại Sở, mong lệnh doãn minh xét!”

“Nếu không phải tới để hạ chiến thư, dám hỏi sứ Tần chờ tại hạ là vì chuyện gì?”

“Phụng chỉ Tần Vương, giảng hoà với Đại Sở, kết tình láng giềng hoà mục!”

“Nghe hai tiếng giảng hoà thốt ra từ miệng sứ Tần, người Sở lấy làm rùng rợn!” Chiêu Tuy cất giọng giễu cợt.

“Nói quá rồi chăng?” Doanh Tật mỉm cười, “tính kỹ ra, Tần Sở giao hảo, ít cũng đã hơn trăm năm, Tần Công còn đem năm tấm da dê để đổi lấy hiền tướng Bách Lý Hệ kia mà.”

“Vậy nên mới nói, người Tần xưa nay không có chuyện buôn bán lỗ vốn!” Chiêu Tuy nhìn sang, hỏi thẳng vào chuyện chính, “nếu đã là tới để giảng hoà, xin hỏi sứ Tần, giảng hoà thế nào?”

“Hồi bẩm đại nhân,” Doanh Tật thu lại nụ cười, ngữ khí trịnh trọng, “lấy oán báo oán, oán thù không dứt, chỉ khổ cho con dân hai nước, vậy nên Tần Vương mới sai tại hạ đi sứ sang Sính giảng hoà, kể từ hôm nay, xoá hết oán thù ngày trước, Sở Tần lại kết minh, tiếp tục mối giao hảo trăm năm.”

“Điều tại hạ muốn hỏi, sứ Tần lấy gì để giảng hoà và kết tình giao hảo?”

“Sở Vương hưng binh phạt Tần, mục đích chẳng qua là vì sơn cốc Thương Ư. Chuyện của Thương Ư khá là phức tạp, có điều, Tần Vương đã tế cáo tiên miếu, quyết định hoàn trả vùng đất phía đông ải Vũ Quan mà Thương Quân đã chiếm, tổng cộng mười lăm thành ấp.”

“Thế còn mười lăm thành ấp phía tây Vũ Quan?”

“Mười lăm ấp phía tây Vũ Quan là do tiên tổ Đại Sở tặng cho tiên tổ nước Tần, để kết tình giao hảo giữa hai bang, khế ước vẫn còn đó, Tần Vương không thể nhận lời, mong lệnh doãn đại nhân hiểu cho!”

“Còn nữa không?”

“Còn!” Doanh Tật nói tiếp, “Tần Vương còn hứa trả lại đất Kiềm Đông, biên giới giữ nguyên như trước cuộc chiến.”

“Quận Hán Trung thì sao?” Chiêu Tuy nhìn xoáy vào Doanh Tật.

“Người Sở vô cớ dấy binh, đánh tới trước cửa nước Tần, suýt chút nữa là đánh tới tận Hàm Dương, Tần giữ nhà giữ nước, dũng sĩ tử thương hơn hai mươi vạn, chỉ lấy quận Hán Trung để đổi lại mười lăm ấp sơn cốc Thương Ư, không tính là quá đáng chứ?” Doanh Tật hai mắt như kiếm, chiếu thẳng vào Chiêu Tuy.

“Cái gì mà vô cớ dấy binh?” Chiêu Tuy đùng đùng nổi giận, đấm mạnh xuống án, “dưới gầm trời này, làm gì có quân chủ nào lại thiêu huỷ minh ước? Làm gì có sứ thần nào lại tráo trở lật lọng đến thế. Tướng Tần Trương Nghi đi sứ sang ta, thề thốt hứa hẹn, tuyên bố trả lại ta sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, lại lập minh ước làm bằng, kết quả thì sao? Minh ước kia đã bị Tần Vương thiêu rụi, Trương Nghi cũng biến báo ngay sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư thành sáu dặm Ư Thành! Chuyện này mà nhẫn nhịn được, còn chuyện nào không nhẫn nhịn được?”

“Lệnh doãn đại nhân bớt giận,” Doanh Tật khẽ cười, ung dung đáp, “nếu tại hạ nhớ không nhầm, người theo Trương tướng quốc đi sứ sang Tần chính là đại nhân đấy.

Người khác nói gì cũng mặc, duy có đại nhân không thể nói vậy. Minh ước kia quả đã bị Tần Vương một mồi lửa thiêu rụi, song thứ bị Tần Vương đốt, có phải minh ước? Theo tại hạ biết, Tần Vương xưa nay chưa từng lập minh ước về sơn cốc Thương Ư với bất kỳ ai! Còn như lời hứa hẹn và ấn triện của Trương tướng quốc, đó là việc của Trương tướng quốc, Tần Vương không hề hay biết. Trương Nghi đi sứ sang Sở, Tần Vương chỉ giao phó cho một sứ mệnh duy nhất, đó là cầu hôn công chúa Mị Nguyệt, kết mối giao hảo trăm năm giữa hai nước, đây là chuyện đã định. Còn như Trương tướng quốc tới Sính Đô cớ sao lại thay đổi sứ mệnh, lập minh ước về sơn cốc Thương Ư cùng quý quốc, Tần Vương không hề hay biết, đây chính là nguyên do Tần Vương nổi giận thiêu huỷ khế ước vào lúc lệnh doãn đại nhân tới đòi Thương Ư. Có điều, trước là Đan Dương, sau là Lam Điền, hai trường huyết chiến đã khiến đại vương ta thông suốt, nước lớn đối đầu, hai bên đều chịu tổn thương, đã không tạo phúc cho lê dân, cũng không hợp với lợi ích lâu dài của hai nước. Hai bang tắm máu, đều vì sơn cốc Thương Ư, bởi vậy lần này, Tần Vương đặc phái tại hạ đi sứ Sính Đô lần nữa, chỉ vì một việc, lập minh ước về sơn cốc Thương Ư. Thật thì không thể giả, giả thì không thể thật, lệnh doãn đại nhân, lẽ nào đại nhân nhất quyết không phân biệt thật giả, nhất quyết không quan tâm tới dân đen sống chết, nhất quyết muốn dồn người Sở và người Tần đến bước đường đồng quy ư tận? Lệnh doãn đại nhẫn, xin nói thực một lời, người Tần không đánh nổi nữa, Tần Vương không muốn đánh nữa.

Có điều, nếu Sở Vương cho rằng nước Sở vẫn có thể đánh tiếp, nếu Sở Vương vẫn khăng khăng đánh tiếp, người Tần cũng dứt khoát không sợ!”

Thấy lời đã nói tới nước này, Chiêu Tuy cũng dần dần điềm tĩnh lại.

Thân là lệnh doãn, không ai biết rõ bằng Chiêu Tuy, rằng nước Sở thực sự không thể đánh tiếp.

“Lời gan ruột của sứ Tần, tại hạ lấy làm cảm động!” Chiêu Tuy giọng đã hoà hoãn lại, khẽ vòng tay nói, “giờ đã muộn rồi, sứ Tần hãy về trạm dịch nghỉ ngơi, đợi ngày mai tại hạ bẩm tấu lên đại vương về thỉnh cầu của sứ Tần, tất cả sẽ do đại vương định đoạt!”

“Đa tạ lệnh doãn!”

Sáng hôm sau, Chiêu Tuy vào cung, bẩm báo lên Hoài Vương đầu đuôi mọi chuyện, từ việc sứ Tần đợi mình trước cổng cho đến sứ mệnh của sứ Tần lần này.

“Nếu nói như vậy,” Hoài Vương giọng đầy uất hận, “toàn bộ mọi chuyện đều do Trương Nghi kia bày ra, đúng là hạng tiểu nhân vô sỉ…” Hai hàm răng nghiến vào nhau ken két.

“Hồi đáp sứ Tần ra sao, vẫn xin đại vương định đoạt.”

“Ý khanh thế nào?” Hoài Vương nhìn Chiêu Tuy.

“Thần cho rằng,” Chiêu Tuy đáp lời, “đại vương có thể đồng ý với thỉnh cầu của sứ Tần, nhận lấy mười lăm ấp U Thành phía đông Vũ Quan, thu lại Kiềm Đông. Còn như quận Hán Trung, chờ ta phục hồi nguyên khí, sẽ nghĩ cách lấy lại.”

“Kiềm Đông gì kia?” Hoài Vương hừ lớn một tiếng, “nếu như Tần Vương đã không thừa nhận minh ước đó, tức là Trương Nghi kia tự tung tự tác. Tháo chuông phải tìm người buộc chuông, Trương Nghi sinh sự, cớ sao Tần Vương lại phải người khác tới?” Nói đoạn vung tay, đập đánh chát xuống án, “khanh hãy hiểu dụ sứ Tần, quả nhân không cần gì hết, chỉ cần Trương Nghi! Hoặc là Tần Vương giao nộp Trương Nghi, hoặc là quả nhân sẽ đánh tới Hàm Dương.”

“Đại vương?” Chiêu Tuy sững sờ.

“Đi, hãy nói với hắn y lời quả nhân!” Hoài Vương chỉ ra cửa điện.

Khuất Bình đi sứ sang Tề, suốt dọc đường đi miết không nghỉ, sau chừng chục ngày, cuối cùng cũng tới Tương Lăng.

Vào ngày khởi hành, Khuất Bình đã phái đám Khuất Dao chia nhau tới ba nơi Đại Lương, Hàm Đan và Kế Thành để thăm dò tin của Tô Tần, hẹn gặp nhau tại Tương Lăng. Khuất Bình hiểu, giờ đây đi sứ sang Tề, muốn làm tròn sứ mệnh, không thể thiếu Tô Tần.

Khuất Bình đợi ở Tương Lăng chừng mười ngày thì Khuất Dao tới, nói rằng Tô Tần đã tới Lâm Truy, có sai người mang thư tới, nếu không ngoài dự liệu, hẳn là lúc này Tô Tần đang đợi ở Lâm Truy. Khuất Bình mừng vui khôn xiết, bèn cùng Khuất Dao tức tốc lên đường, đi suốt ngày đêm, ngựa không dừng vó, chưa đầy ba ngày đã tới Lâm Truy.

Tô Tần vẫn ở trong trạch viện tại Tắc Hạ, nghe tiếng xe ngựa, bèn ra ngoài cửa nghênh đón.

“Tô Tử…” Khuất Bình vội vã sải bước tới trước mặt, nắm chặt tay Tô Tần.

“Khuất Tử…” Tô Tần cũng đưa bàn tay kia lại, nắm chặt lấy tay Khuất Bình.

Hai người xúc động hồi lâu, Khuất Bình mới buông tay, lùi lại một bước hành đại lễ: “Sứ Sở Khuất Bình bái kiến tướng quốc sáu nước Tô đại nhân!”

Tô Tần đáp lễ, dắt Khuất Bình vào trong, cùng ngồi một chiếu, hâm rượu hàn huyên, tâm sự tới sáng.

Người nói chủ yếu là Khuất Bình. Khuất Bình như gặp người thân, chuyện của nước Sở, bất kể lớn bé, đều kể hết với Tô Tần, cuối cùng thở dài rầu rĩ: “Than ôi, binh bại như núi lở, kể từ khi Đường Miệt tử chiến, vài chục vạn binh mã Đại Sở từ nam chí bắc lập tức tan tác tựa lá khô. Tô Tử có điều không biết, trong những ngày đó, tại hạ ngày ngày chỉ nghe rặt những hung tin, muốn khóc không lệ, sống không bằng chết!” Gạt nước mắt mà tiếp, “việc có thể làm, Bình đều làm cả, nhưng đại vương… không chịu nghe theo!”

“Than ôi,” Tô Tần cũng thở dài, “nước Sở có ngày hôm nay, cũng là tất yếu. Đây gọi là cắm sào sâu khó nhổ!”

“Không giấu Tô Tử,” Khuất Bình tiếp lời, “lúc đó, chiến trường tình thế giằng co, khiến tại hạ thực sự lo lắng, chính là Phương Thành, là Lỗ Quan, tại hạ có nằm mơ cũng không thể ngờ, kẻ phá vỡ thế cục giằng co lại là người Tề!”

“Cũng không thể trách người Tề.” Tô Tần đáp. “Ồ?” Khuất Bình sửng sốt.

“Khi bốn nước phạt Sở,” Tô Tần tiếp lời, “tại hạ đang cùng Triệu Vương ở Bắc Hô, sau khi hay tin, bèn vội vã từ đất Hồ tới Đại Lương, bất ngờ lại gặp Tê Thủ. Nghe Tê Thủ nói về cách bài bố binh lực các nơi, tại hạ thở phào nhẹ nhõm, cho rằng nước Sở vẫn có thể chống đỡ, bởi trong binh mã bốn nước, có lòng muốn đánh chỉ có Tần, Hàn. Chủ tướng Ngụy là em họ của Tê Thủ, đã được mật lệnh của Tê Thủ, xuất trận không xuất chiến. Chủ tướng quân Tề Khuông Chương, tại hạ cũng đã gửi mật thư, cũng không xuất chiến.”

“Thế nhưng Khuông tướng quân…”

“Phải,” Tô Tần đáp, “tại hạ cũng lấy làm khó hiểu, đợi Khuông tướng quân trở về, tại hạ có hỏi chuyện này, tướng quân mới lấy ra một mật hàm, là của hắc điêu nước Tần gửi tới, nói rằng chủ tướng Phương Thành Cảnh Thuý bí mật điều động hơn mười vạn đại quân, bao vây quân Tề từ bốn phía, muốn ra tay đánh úp để tiêu diệt toàn quân. Tiếp đến, quân Tề phái thám mã bủa đi các ngả kiểm tra, thấy tin của người Tần không hề giả. Mắt thấy đường lui bị cắt, lọt giữa vòng vây Sở, Khuông Chương vạn bất đắc dĩ, mới tiên hạ thủ vi cường, vượt sông tấn công, giết chết Đường Miệt.” Khép mắt chốc lát, “nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, là người Sở đã trúng kế người Tần.”

“Là Lãnh Hướng!” Khuất Bình buột miệng thốt lên. “Lãnh Hướng?” Tô Tần ngẩn người.

“Uyển Thành thất thủ, Cảnh Thuý rút xuống phía nam, giữa đường gặp tại hạ, có kể với tại hạ chuyện của Uyển Thành, nói rằng được bạn cũ tên gọi Lãnh Hướng tìm tới mật báo, rằng người Tề đã giao ước với người Tần, tránh thực đánh hư, tấn công Sính Đô! Thấy sự việc nguy cấp, nên Cảnh tướng quân mới…”

Nghĩ tới Lãnh Hướng, Tô Tần khép mắt hồi lâu, rầu rĩ thở dài, nói: “Là Trương Nghi đã bày ra thế cục này!”

“Trương Nghi?” Khuất Bình sửng sốt. “Tại hạ đã từng gặp Lãnh Hướng, là người của Thương Quân, sau khi Thương Quân chết đã quay về quê cũ ở đất Hàn. Khi Sở phạt Tần, Trương Nghi sang Hàn, cấu kết với Hàn Vương đuổi Tê Thủ đi, trọng dụng Lãnh Hướng, giờ lại sai kẻ này đi làm gián điệp. Lãnh Hướng lúc ở Tần qua lại thân thiết với Cảnh Giám, Cảnh Giám là chú ruột của Cảnh tướng quân, Trương Nghi sai Lãnh Hướng làm gián điệp, Cảnh tướng quân mắc mưu cũng là khó tránh.”

Nhìn lại thất bại của nước Sở, hai người đều than ngắn thở dài.

Sáng hôm sau, Tô Tần dẫn Khuất Bình vào cung yết kiến Tề Mẫn Vương, tướng quốc Điền Văn ngồi cạnh bồi tiếp. Khuất Bình thuật lại lời của Sở Hoài Vương, thay mặt Sở Vương tỏ lời tạ lỗi, ngỏ ý muốn kết tình láng giềng hoà mục, lời lẽ rất mực chân thành.

“Sứ Sở,” Mẫn Vương nhìn thẳng vào Khuất Bình, “lời tạ lỗi cùng thành ý của Sở Vương, quả nhân đã nghe rồi. Lần trước Sở Vương phái Tống Di đi sứ, lăng nhục tiên vương ta giữa chốn triều đình, thiên hạ không ai không biết. Sở Vương tuy đã hối hận, song việc liên quan tới tiên vương, quả nhân không thể tự quyết. Sứ Sở hãy cứ về trạm dịch, chờ quả nhân tố cáo tiên vương, chiêm bốc ý trời, rồi sẽ hồi đáp, được chăng?”

“Bình thay Sở Vương đa tạ đại vương khoan hậu!” Khuất Bình vòng tay cảm tạ, đoạn lui ra.

“Tô Tử dừng bước!” Mẫn Vương giữ Tô Tần lại.

Thấy Khuất Bình đã đi xa rồi, Mẫn Vương nhìn sang Tô Tần và Điền Văn hỏi: “Việc của nước Sở, ý của hai vị thế nào?”

Điền Văn nhìn sang Tô Tần.

“Bẩm đại vương,” Tô Tần vòng tay đáp, “thần cho rằng, trường sách của Tề vẫn là hợp tung chế Tần. Hoà mục với Sở, là vì tung thân, hợp với trường sách nước Tề, bởi lẽ sau nước Ngụy, cường quốc thiên hạ không ai khác ngoài ba nước Tề, Sở, Tần. Tần liên hoành bốn nước đánh Sở, nước Sở chiến bại, mất đất hao binh, quốc lực kiệt quệ, thiên hạ tương lai, kẻ mạnh thực sự chỉ còn hai nước Tề, Tần. Tề, Tần cùng mạnh, ắt có giao tranh. Sở tuy thất lợi, song đất đai rộng lớn, tài vật dồi dào, dân chúng đông đúc, quốc lực vẫn không thể xem thường. Nước Sở phía tây giáp Tần, phía đông liền Tề, hai nhà Tần, Tề, nhà nào được Sở, sẽ chiếm tiên cơ trong đại chiến tương lai.”

“Phải phải,” Mẫn Vương gật đầu lia lịa, “Tô Tử nhìn xa trông rộng, rất hợp với ý quả nhân. Có điều, Sở Vương tự mình đi vào tuyệt lộ, nếu chỉ tạ lỗi suông ngoài miệng, e là chưa thể chứng tỏ thành ý.”

“Đại vương nói chí phải!” Tô Tần đáp lời, “xin hỏi đại vương, Sở Vương nên làm thế nào để tỏ bày thành ý?” Mẫn Vương nhìn sang Điền Văn.

“Thần cho rằng,” Điền Văn hiểu ý, vòng tay đáp lời, “Sở Vương nếu muốn tỏ bày thành ý, có thể làm hai việc sau. Thứ nhất, cho thái tử sang Tề làm tin; thứ hai, không can dự vào chuyện nước Tống nữa!”

“Phải phải phải,” Mẫn Vương vuốt chòm râu ngắn, khen liền mấy tiếng, “lời tướng quốc rất hợp ý quả nhân! Tô Tử, quả nhân đã quyết, là hai điều này, nhất là điều thứ hai, giờ Tô Tử có thể đi báo với sứ Sở.”

“Ngoài những điều này, dám hỏi đại vương còn mong muốn gì khác chăng?”

“Ờ,” Mẫn Vương lại vuốt râu ngẫm nghĩ một hồi, đoạn nói, “không còn gì nữa, chỉ hai điều này. Kỳ thực, đối với Sở, quả nhân chỉ muốn một điều, một ngày nào đó quả nhân nổi hứng, xuất binh đánh Tống, Sở Vương chở có nhiều lời. Còn điều còn lại, là để chặn họng Sở Vương, để sau này biết kiêng dè, tránh gây phiền phức.”

“Thần thụ mệnh!”

Tô Tần tới trạm dịch, truyền lại ý chỉ của Tề Vương với Khuất Bình, đoạn cười gượng gạo mà nói: “Thiên hạ ngày càng nhộn nhạo. Triệu Vương một lòng toan tính Trung Sơn, Tề Vương ý ở nước Tống, Ngụy Vương ngày đêm trăn trở với nước Vệ giờ đã như vật trong túi của mình, còn các nước Tứ Thượng như Lỗ, Đằng, Trâu, có cũng như không, nhìn chung chỉ là giữ được từ đường. Nhìn vào tình thế đó, thiên hạ quả như tiên sinh dự đoán, đã sắp đến hồi nhất thống rồi.”

“Nếu mà nhất thống, theo ý Tô Tử, nên nhất thống ở nước nào?”

“Tần.” Tô Tần đáp ngay không cần suy nghĩ.

“Tần?” Khuất Bình sửng sốt, “theo ý Tô Tử, thiên hạ sẽ nhất thống ở liên hoành của Trương Nghi ư?”

“Liên hoành chỉ là thủ đoạn, thứ thực sự khiến Tần nhất thống, chính là pháp của Thương Quân.” Tô Tần ngoảnh nhìn về tây, “thiên hạ ngày nay, không có bất cứ sức mạnh nào có thể ngăn cản được một đất nước sài lang toàn dân là quân, cả nước cấy cày đánh trận!” Thở dài buồn bã, “tại hạ dốc hết sức mình, chẳng qua chỉ là nhất thời cản trở thế nhất thống ấy mà thôi, đáng buồn thay!”

“Không thể nào!” Khuất Bình lo lắng, “Tô Tử, trước khi nó nhất thống, chúng ta hãy hợp lực thiên hạ mà diệt nó đi! Tô Tử hãy sửa lại tông chỉ tung thân, thay chế Tần thành diệt Tần!”

“Diệt Tần?” Trong mắt Tô Tần ánh lên một tia sáng, song rất nhanh đã tắt, bên tai lại như văng vẳng tiếng nói của Quỷ Cốc Tử: “Tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung. Thiên hạ đại ngã, công tư tư công.” Phải, diệt Tần tức là bỏ hoành, bỏ hoành thì không tung. Tung hoành thiếu một, sẽ không thành cục. Cũng theo lý đó, không có tung thân của Tô Tần, hoành cục của Trương Nghi cũng không xuất hiện.

Vả lại, theo như tình thế của sáu nước hiện tại, liệu có thể diệt Tần? Dù có thể chăng nữa, sau khi diệt Tần, thiên hạ sẽ ra sao?

Tô Tần không dám nghĩ tiếp.

“Tô Tử, hãy tin tại hạ, chỉ cần sáu nước hợp lực, chúng ta nhất quyết diệt được bạo Tần!” Khuất Bình kiên định siết chặt tay quyền.

Phải, quan trọng là hợp lực.

“Khuất Tử,” Tô Tần nhìn thẳng vào Khuất Bình, “lập tức phái người cấp tốc về Sính, hồi báo Sở Vương, sau đó hãy cùng tại hạ tới ngay Đại Lương, kết minh với Ngụy. Có tại hạ ra mặt, Triệu, Yên cũng sẽ thuận theo. Nước Sở chỉ cần liên minh khăng khít với Tề, Ngụy, chúng ta có thể tung thân năm nước, rồi chờ nước Hàn đổi ý. Nếu liên minh sáu nước kết thành, Tần hẳn sẽ phải nghĩ lại, thiên hạ hoặc giả vẫn còn hy vọng. Khuất Tử có thể tấu rõ với Sở Vương ý của tại hạ, rằng nước Tống giờ là chuyện nhỏ, trước mắt nước Sở hiện thời, chỉ có duy nhất con đường hợp tung. Giả như Sở Vương có thể theo lời Khuất Tử, bên trong tạo hiến cải chế, chỉnh đốn quan lại, bên ngoài bỏ qua ân oán, tung thân năm nước, sẽ có cơ đấu lại với Tần. Bằng không, Đại Sở tiêu vong chỉ còn là sớm muộn!”

“Bình thụ mệnh.”

Đêm đó, Khuất Bình soạn tấu báo, cho người cấp tốc phi ngựa về Sính Đô bẩm lên Sở Vương. Sáng sớm hôm sau, Khuất Bình theo Tô Tần tới Ngụy, được Công Tôn Diễn dẫn vào cung yết kiến Tương Vương.

Tề còn dễ nói, còn Ngụy và Sở muốn hoà hảo lại khó khăn hơn nhiều. Vào thời Bàng Quyên, tranh chấp ở Tống. Sở phạt Tống, Ngụy cứu viện, tiện tay chiếm luôn trọng ải Hình Sơn phía bắc nước Sở. Sau khi Bàng Quyên chết, thế Ngụy suy yếu, Sở cậy mạnh phản công, đoạt lấy Tương Lăng. Hiện giờ Sở sa cơ, Ngụy dựa thể Tần, đoạt lại Diệp Thành, Thượng Sái, đã đánh vào tận trong lòng nước Sở.

Xét trên toàn cục, Sở, Ngụy giao tranh, bên thiệt thòi chính là nước Sở. Thân là sứ giả, Khuất Bình không dám làm nhục sứ mệnh, mới nói Hình Sơn và Tương Lăng coi như bù trừ, về lý mà nói, nước Ngụy nên hoàn trả Diệp Thành và Thượng Sái vô điều kiện.

“Tê Thủ,” Tương Vương khẽ hừ mũi một tiếng, nhìn sang Công Tôn Diễn, “hai đất này là do khanh đánh lấy, giờ sứ Sở đòi lại, khanh hãy nói xem, quả nhân có nên trả hay không?”

“Hồi bẩm đại vương,” Công Tôn Diễn vòng tay đáp, “thời loạn cậy lực, kẻ mạnh là vua, không có chỗ cho nên hay không nên. Ngụy, Sở sông núi liền kề, chỉ có chung sống hoà mục, mới hợp với phúc chỉ lâu dài của hai nước. Nay Sở Vương đặc phái sứ thần tới đây, thành ý cầu hoà, đại vương cũng nên lấy lòng thành đáp lại. Bởi vậy thần nghĩ, đại vương có thể hoàn trả Diệp Thành cho Sở. Còn Thượng Sái, là kế an nguy của Hình Sơn, đại vương hãy tạm giữ lại phòng xa, để xem mai sau thế nào.”

Ý của Công Tôn Diễn, quả là kế tam toàn, một là hoàn trả Diệp Thành, giữ thể diện cho Sở Vương và sứ Sở; hai là Diệp Thành cách Đại Lương quá xa, nước Ngụy muốn cai quản cũng khó; ba là Diệp Thành nằm giữa Tân Trịnh và Uyển Thành, Ngụy hoàn trả thành này cho Sở, tức là siết lấy yết hầu giữa kinh đô nước Hàn và Uyển Thành, bức bách người Hàn từ bỏ đất Uyển.

Tương Vương gật gù hài lòng, nhìn sang Khuất Bình: “Tướng quốc ta đã nói vậy, ý sứ Sở thế nào?”

“Tạ ơn đại vương!” Khuất Bình vòng tay đáp, “đại sự đất nước, thần không dám tự quyết, đợi thần về tấu lại với vua thần, rồi sẽ phục mệnh đại vương!”

“Hay lắm!” Tương Vương phẩy tay, “chỉ cần Sở Vương chấp thuận ý của tướng quốc, quả nhân sẽ lập minh ước lân bang, đời đời hoà mục!”

Khuất Bình bái biệt, lại phái người tức tốc phi ngựa về bẩm tấu Sở Vương.

Cùng lúc này, Tô Tần cũng phái người tới Hàm Đan và Kế Thành, tấu thỉnh hai vua nhập liên minh ba nước Sở, Tề, Ngụy. Năm nước sẽ chọn đất mở hội thể, hợp tung để chế Tần, Hàn.

Một tháng sau, Khuất Bình nhận được chỉ dụ của Sở Vương, chấp nhận điều kiện của hai nước Tề, Ngụy. Tô Tần cũng nhận được lời chấp thuận của Sở, Yên, năm nước đồng lòng hợp tung, không xâm phạm lẫn nhau, cùng hợp sức chế cường Tần, việc này đã giúp Triệu Vương an tâm mưu Trung Sơn, Tề Vương an tâm mưu Tống, Ngụy Vương an tâm mưu Vệ, Sở Vương an tâm dựa vào sức mạnh bốn nước tung thân để đối chọi Tần, Hàn, thu hồi đất đai đã mất.

Thoả thuận xong rồi, Tô Tần chính thức gửi thư hẹn với năm nước Sở, Tề, Ngụy, Triệu, Yên, mời đặc sứ năm nước gồm sứ Sở Khuất Bình, sứ Tề Điền Văn, sử Ngụy Công Tôn Diễn, sứ Triệu Phì Nghĩa, sứ Yên Nhạc Nghị vào ngày Trung thu tới kinh đô Đại Lương nước Ngụy cùng bàn chuyện tung thân, lập minh ước.

Trong lúc Doanh Tật đi sứ sang Sở, Khuất Bình đi sứ sang Tề, Trương Nghi cũng đi suốt ngày đêm, gấp rút tới kinh đô Trịnh Thành nước Hàn lần nữa.

Gần đây, Trương Nghi ngày càng thích nước Hàn, thứ nhất vì Hàn Vương đã bị trói chặt vào chiến xa liên hoành, không thể sống thiếu nước Tần được nữa; thứ hai là vì Lãnh Hướng.

Không hiểu vì sao, Trương Nghi ngày càng thích thú với người bạn mới kết giao này. Ở nước Tần, Trương Nghi đường đường là tướng quốc, lại quý vào hàng quốc thích, song sâu thẳm tự đáy lòng lại thường xuyên thấp thoáng một nỗi ớn lạnh khó hiểu, dù có tâm sự cũng không biết giãi bày cùng ai, kể cả với bằng hữu Ngụy Chương. Song Lãnh Hướng thì khác. Có lẽ vì Thi Giảo, có lẽ vì trực giác, Lãnh Hướng tán thưởng Trương Nghi, tin tưởng Trương Nghi, hơn nữa sự tán thưởng và tin tưởng ấy còn trội hơn cả đối với sư huynh Thương Quân năm xưa. Trương Nghi từng muốn đưa Lãnh Hướng về Hàm Dương, song Lãnh Hướng không chịu.

Không những không chịu, Lãnh Hướng còn khuyên Trương Nghi sớm chuẩn bị đường lui, bằng không, rất có thể sẽ theo vết xe đổ của Thương Quân. Điều này, Trương Nghi cũng đã cảm giác thấy, đây chính là một trong những nguyên do khiến hắn dốc sức kết minh với Hàn. Mà muốn liên minh với nước Hàn, trợ thủ đắc lực nhất không còn ai khác ngoài Lãnh Hướng, một người kín tiếng song mưu sự lại kín kẽ không ngờ.

Tô Tần hẹn năm nước hợp tung, gạt Hàn ra ngoài.

Hàn Tương Vương hay tin, tức tốc triệu Trương Nghi, Lãnh Hướng, Công Trọng tới bàn.

“Đại vương,” Trương Nghi cười hỏi, “phải chăng đại vương cũng muốn quay về về tung thân?”

“Ờ…” Hàn Tương Vương bối rối, “quả nhân… triệu chư vị tới đây, là muốn bàn cách ứng phó!”

“Ứng phó có hai cách,” Trương Nghi lập tức tiếp lời, “một là đại vương quay về tung thân, sáu nước hợp tung, chống lại nước Tần; hai là đại vương liên hoành với Tần, chống lại năm nước. Đại vương chỉ có hai đường này, không còn đường nào khác nữa.”

“Chống lại năm nước, ôi chao…” Hàn Tuyên Vương nhìn sang Công Trọng, sắc mặt lo âu.

“Xem ra đại vương muốn quay về tung thân rồi!” Trương Nghi cười nói, “việc này dễ thôi, tại hạ chỉ cần một phong thư là được!”

“Một phong thư?”

“Phải,” Trương Nghi chỉ về phía Mạnh Tân, “sáu nước tung thân, là do Tô Tần khởi xướng, nay Tô Tần lập lại minh ước, nếu thiếu đại vương, chẳng phải là không toàn vẹn? Sở dĩ Tô Tần không mời đại vương, là bởi biết rằng đại vương không tới, cũng không thể tới!”

“Cớ sao quả nhân lại không tới, cũng không thể tới?” Hàn Vương ngơ ngác hỏi.

“Bởi đại vương còn tiếc Uyển Thành!”

“Ngụy Vương thì sao?” Hàn Tuyên Vương lấy làm hồ nghi, “lẽ nào lại không tiếc những nơi đã chiếm?”

“Ngụy Vương có tiếc, song Công Tôn Diễn thì không!”

“…”

“Nếu không ngoài dự liệu,” Trương Nghi thủng thẳng tiếp lời, “Ngụy, Sở kết minh, điều kiện là Ngụy Vương nhường lại Diệp Thành!”

" “Ý khanh là, Diệp Thành trả về cho Sở? ” Hàn Tương Vương rùng mình ớn lạnh.

Trương Nghi khẽ cười: “Hẳn là không bao lâu nữa, Diệp Thành sẽ lại cắm cờ nước Sở!”

Diệp Thành về Sở, vừa hay chẹn ngang giữa Uyển Thành và Tân Trịnh!

Hàn Tương Vương biến sắc, nhìn sang Công Trọng. “Đất Sái thì sao? Ngụy Vương cũng trả lại ư?” Công Trọng hỏi.

“Nếu đại vương là Ngụy Vương, đại vương có nhường lại Thượng Sái chăng?” Trương Nghi hỏi ngược lại.

“Sở Vương chịu ư?”

“Không chịu, liệu còn cách khác?” Trương Nghi nhún vai, “nước chiến bại không thể ra điều kiện.”

“Nước Tề thì sao?” Hàn Tương Vương lại hỏi, “lần trước sứ Sở lăng nhục Tề Vương ngay giữa triều đình, Tề Vương chịu kết minh với Sở ư?”

“Có chứ.” Trương Nghi cười nói, “thứ nhất, Khuông Chương giết chết Đường Miệt, Tề Vương coi như đã báo được thù; thứ hai, có lẽ Sở sẽ tặng cho Tề Vương một món quà lớn.”

“Quà gì?” Hàn Tương Vương vội hỏi.

“Nước Tống.”

“Sao khanh biết được?”

“Sao thần không biết kia?” Trương Nghi khoé miệng khẽ nhếch một nụ cười, “thần còn biết được, nước Triệu nhập tung, là do Ngụy, Tề hứa không can dự vào chuyện của Trung Sơn; nước Ngụy nhập tung, là do Tề, Triệu hứa không can dự vào chuyện nước Vệ. Còn như nước Tống, kể từ khi Sở được Tương Lăng, đã không dính dáng tới Ngụy nữa.” Nói rồi nhìn thẳng vào Hàn Tương Vương, khẽ cười mà tiếp, “giờ đây, hẳn là đại vương đã hiểu, bất luận là Vệ, Tống hay Trung Sơn, đều không liên quan tới nước Hàn, đương nhiên cũng không liên quan gì tới đại vương. Liên quan tới đại vương, duy có kinh đô ô kim Uyển Thành, đại vương có ý trả lại cho Sở chăng?”

“Quả nhân…” Hàn Tuyên Vương do dự một lát, rồi từ từ siết chặt tay quyền, sắc mặt kiên nghị, “không trả!”

“Đại vương uy vũ!” Trương Nghi gật gù khen ngợi, “có điều, nếu đại vương không có ý trả, hãy nghe theo tại hạ, làm hai việc này. Thứ nhất, liên hoành với Tần, Tần Vương đã có được Thương Ư, Hán Trung, Ba Thục và Kiềm Đông, chỉ mất ba ngày là tới Sính Đô, chỉ cần Hàn liên hoành với Tần, chắc chắn Sở Vương kia sẽ không dám vọng động!”

“Còn việc thứ hai?” Hàn Tương Vương nhìn chằm chằm vào Trương Nghi.

“Bỏ tục Sở.”

“Bỏ tục Sở?” Hàn Tương Vương ngơ ngác, “nghĩa là sao?”

“Đổi tên.” Trương Nghi đáp.

“Ồ…” Hàn Tuyên Vương càng thêm khó hiểu, nhìn sang Công Trọng.

“Chính là đổi một cái tên cho Uyển Thành,” Trương Nghi giải thích, “để khiến người Uyển Thành thay đổi ấn tượng. Gọi Uyển Thành, thiên hạ đều biết là của Sở, giờ đại vương không gọi nó là Uyển Thành nữa, mà đổi bằng một cái tên của Hàn, thiên hạ sẽ dần dần thừa nhận.”

“Hay lắm!” Hàn Tuyên Vương thình lình bừng hiểu, vỗ mạnh xuống án, đảo mắt vài cái, nhìn sang Trương Nghi, “sứ Tần, gọi là Nam Dương, thế nào?”

Nam Dương là tên một vùng đất ở phía nam chân núi Thái Hàng, bên bờ bắc Hà Thuỷ, vừa hay chặn ngay lối ra của đường Chỉ Quan, một trong tám con đường núi Thái Hàng, đất này trước thuộc nước Tấn, sau bị Hàn chiếm cứ, thiên hạ không ai không biết Nam Dương là của nước Hàn.

“Tên hay!” Trương Nghi vòng tay khen ngợi.

“Chuyện này đã quyết!” Hàn Tương Vương quay sang Công Trọng, “soạn chiếu, kể từ hôm nay, đổi tên Uyển Thành thành Nam Dương, các thành ấp khác giữ nguyên như cũ.”

“Thần thụ mệnh!” Công Trọng đáp.

“Đại vương anh minh!” Trương Nghi vòng tay, “thần sẽ lập tức quay về Hàm Dương, tâu lên Tần Vương thành ý của đại vương, để kết hoành ước Hàn Tần, đối kháng năm nước tung minh!”

“Xin cậy nhờ vào Trương Tử!” Hàn Tương Vương đáp lễ.

Trương Nghi tức tốc quay về, vừa tới Hàm Dương, bỗng cảm thấy một luồng hàn khí thốc vào trước mặt.

Thậm chí, không thể nói là hàn khí, mà phải là sát khí, một thứ sát khí bức bách người ta vào tử địa.

Sát khí ấy, tới từ trong cung, tới từ thái tử.

Chính phu nhân Tử Vân công chúa đã tiết lộ với Trương Nghi.

Trương Nghi về tới phủ, tắm gội tẩy trần xong, thấy Tiểu Thuận đã đóng xe sẵn sàng, bèn nhảy luôn lên xe, đang chuẩn bị đi, chợt một nữ tỳ hớt hải chạy tới cản Trương Nghi lại.

“Chúa công,” nữ tỳ gọi lớn, “phu nhân có lời mời, là việc gấp!”

Trương Nghi sửng sốt, nhảy xuống khỏi xe, theo nữ tỳ tới nội phòng của phu nhân. Nữ tỳ đóng cửa phòng xong rồi vội vã đi luôn.

Trong phòng không còn ai khác.

Tử Vân ngồi lặng phắc trên tấm thảm lông, đưa tay chỉ vào tấm thảm đối diện.

“Phu nhân?” Trương Nghi ngồi xuống, nhìn nàng khẽ gọi.

“Có người muốn gây bất lợi cho phu quân!” Tử Vân nhìn thẳng vào Trương Nghi, cất giọng bình thản. “Ai kia?” Trương Nghi kinh ngạc.

“Thái tử.”

“Vì sao?” Trương Nghi càng kinh ngạc hơn nữa, bất giác cao giọng hỏi.

“Vì Tật huynh.”

“Tật huynh?” Trương Nghi nheo mắt, “đã đi sứ Sở về rồi?”

“Về đã mấy hôm.”

“Nàng hãy nói mau, đã có chuyện gì?”

ý “Sở Vương đồng ý kết minh, với điều kiện, hoặc là hoàn trả cho Sở Kiềm Đông, quận Hán Trung và toàn bộ sơn cốc Thương Ư, hoặc là đưa phu quân tới Sở!”

Trương Nghi bàng hoàng kinh hãi.

“Vương huynh triệu người tới bàn, nghe nói bàn đi bàn lại những mấy lần, tranh cãi kịch liệt, đa phần đều chọn cách đưa phu quân tới Sở, duy chỉ Ngụy Chương tướng quân và Tật huynh phản đối.” Tử Vân nhìn Trương Nghi, hai mắt đỏ học, “phu quân, chàng dứt khoát không thể đi, nghe Tật huynh nói, Sở Vương hận chàng thấu xương tuỷ.”

“Những ai muốn gửi ta tới Sở?”

“Điện hạ, Cam Mậu, Tư Mã Thác.”

“Tư Mã Thác?” Trương Nghi nheo nheo mắt, rồi nhìn sang Tử Vân, “Doanh Tật, Doanh Hoa thì sao?”

“Tật huynh không đồng ý, Hoa huynh không nói gì.”

“Đại vương thì sao?”

“Vương huynh từ đầu đến cuối chỉ ngồi lim dim mắt, không nói một lời.”

“Chuyện cơ mật nhường này, sao phu nhân biết được?”

“Có người tiết lộ với thiếp!”

“Ai kia?”

“Chuyện này phu quân không cần biết.” Tử Vân đáp, “ý thiếp muốn nói, phu quân lần này trở về, nếu chưa kinh động tới ai, chớ vội vào cung, cứ ở yên trong phủ, đợi trời tối hãy xuất thành, lập tức quay về nước Hàn! Chỉ cần chàng không ở trong triều, sẽ không có chuyện gì xảy ra. Thiếp dám nói, vương huynh sẽ không đưa chàng đi đâu.”

Trương Nghi khép mắt lại.

“Than ôi,” Tử Vân than thở, “không giấu phu quân, thiếp đang định sai Thuận Nhi sang Hàn, thỉnh cầu phu quân chớ có trở về, không ngờ phu quân lại trở về trước một bước.”

Trương Nghi đứng dậy, đi qua đi lại một chốc, rồi quay về phía Tử Vân vái một vái mà nói: “Tạ ơn phu nhân nhắc nhở!” Đoạn quay người, đi thẳng ra cửa.

“Phu quân?” Tử Vân vội đuổi theo ra.

“Đã trở về rồi, không vào cung sao được?” Trương Nghi gượng cười với nàng, rồi dứt khoát sải bước mà đi.

Trương Nghi lên xe của Tiểu Thuận đang chờ sẵn, sai đánh đi xung quanh cung thành.

Đi được ba vòng, Trương Nghi vẻ như đã sáng tỏ trong lòng, bèn sai Tiểu Thuận đánh xe thẳng tới cổng cung.

Cung nhân dẫn Trương Nghi tới ngự thư phòng.

Huệ Vương bước ra nghênh đón, hai bên hành lễ xong xuôi, bèn nắm tay Trương Nghi dắt vào trong, phân ngôi vua tôi ngồi xuống.

“Quả nhân đang định sai người tới Hàn triệu khanh về!” Huệ vương cười nói, “em rể vừa tới Trung Nguyên, hãy mau nói xem, tình hình Trung Nguyên thế nào rồi?”

“Tô Tần đã liều mạng!” Trương Nghi đáp.

"Ồ?”

Trương Nghi kể lại vắn tắt một lượt chuyện Tô Tần lần nữa tung thân năm nước.

Dường như hiểu rõ Huệ Vương đã biết hết sự tình, Trương Nghi chỉ sơ lược vài câu, chỉ ra lợi ích tiên quyết của Triệu, Tề, Hàn khi nhập tung, chính là ba nước Trung Sơn, Tống, Vệ.

Huệ Vương hiển nhiên không ngờ tới điều này, bèn hít sâu vào một hơi, chầm chậm thở ra, rồi nhìn sang Trương Nghi: “Theo như lời em rể, thiên hạ tương lai, hẳn sắp có đại biến!”

“Đúng vậy, giữa đất Trung Nguyên sẽ không còn nước nhỏ, Tứ Thượng sẽ bị xoá sổ.”

“Họ đều được lợi, quả nhân thì sao?”

“Thiên hạ!”

“Than ôi,” Huệ Vương buồn bã thở dài, “chuyện quá xa vời, quả nhân không nhìn thấy.”

“Đại vương đã nhìn thấy, là quận Kiềm Đông và quận Hán Trung; đại vương sẽ nhìn thấy, hoặc giả là Hà Đông nước Ngụy, và cả Nghĩa Cừ.”

“Quận Kiểm Đông, quận Hán Trung, e rằng cũng không nhìn thấy!” Huệ Vương lắc đầu, lại thở dài rầu rĩ, “còn như Hà Đông và Nghĩa Cừ, quả nhân nghe theo em rể, liều đánh một phen!”

“Cớ sao đại vương lại không nhìn thấy Kiềm Đông, Hán Trung?”

“Vì Hùng Hoè!”

“Hùng Hoè sao kia?” Trương Nghi vờ như không biết chuyện gì.

“Kẻ này muốn có quá nhiều!” Huệ Vương cười nhạt một tiếng, “muốn lấy lại sáu trăm dặm Thương Ư, muốn lấy lại Hán Trung, còn muốn lấy lại cả quận Kiêm Đông.”

“Đại vương sẽ cho ư?”

“Không cho không được!” Huệ Vương lại cười, “giống như em rể vừa nói, kẻ này nhường lại nước Tống, nhường lại nước Vệ, thậm chí nhường toàn bộ Tứ Thượng, để kết tung thân với bốn nước kia, quả nhân không cho sao được? Chúng ta đã chọc phải một con gấu điên khùng, giờ đây, kẻ này đã ban bố hiến lệnh, khen thưởng quân công, trưng binh mộ dịch, muốn đưa hết trai tráng nước Sở quyết cùng ta tử chiến một phen!” Lại lắc đầu, ngữ điệu có phần cay đẳng, “không giấu em rể, Tứ huynh suy đi tính lại, thực sự không còn đủ sức chống đỡ!” Đoạn nghiến răng rít lên, “trả cho hắn đi!”

“Chuyện lớn nhường này, cớ sao đại vương không triệu triều thần cùng bàn kế sách?”

“Đã bàn rồi.”

“Quần thần nói sao?”

“Không muốn trả!”

“Quần thần đã không muốn trả, cớ sao đại vương lại khăng khăng muốn trả?”

“Bởi họ không hiểu quả nhân!” Huệ Vương xua tay, “thôi không nhắc tới chuyện này nữa. Phải rồi, Tứ huynh đang muốn hỏi, em rể hẳn có kế hay?”

“Thần chỉ có một kế, thỉnh cầu đại vương triệu triều thần nghị sự!”

“Lại triệu triều thần nghị sự?” Huệ Vương ngạc nhiên. “Chính phải.” Trương Nghi ánh mắt nghiêm nghị.

Huệ Vương nhìn xoáy vào Trương Nghi, không hiểu hắn muốn mưu tính điều gì, hồi lâu sau mới quay sang nội thần: “Truyền chỉ các đại thần, vào triều nghị sự!”

“Các đại thần” ở đây, không ai khác là dám thái tử Đãng, Tư Mã Thác, Ngụy Chương, công tử Tật, công tử Hoa, cộng thêm Trương Nghi vừa mới trở về.

Còn có thêm hai người nữa, là Xa Vệ Tần và Xa Vệ Quân. Xa Vệ Quân sớm đã thăng chức ngự sử đại phu.

Xét về ngôi vị, Trương Nghi chỉ sau thái tử Đãng, đứng thứ hai trong các triều thần. Thái tử Đăng là quân vương tương lai, nên xét về lý, ngôi vị này không tính, vì thế trên thực tế, Trương Nghi chỉ dưới một người.

“Chư khanh,” Huệ Vương quét mắt khắp lượt chúng thần, “nay tướng quốc đi sứ sang Hàn đã trở về, thỉnh cầu quả nhân triệu triều thần nghị sự. Vậy nên quả nhân triệu vời chư vị, lại tới bàn về chuyện thiên hạ hiện thời.”

Chúng thần đưa mắt nhìn nhau.

Theo tình thế hiện tại, chính sự hệ trọng nhất chính là xử trí chuyện giữa Tần, Sở. Suốt mấy ngày qua, mọi người hầu hết chỉ bàn chuyện đưa Trương Nghi sang Sở thế nào, mà ai cũng hiểu, đưa Trương Nghi sang Sở, gần như bằng với đưa vào chỗ chết. Lúc này Trương Nghi trở về, không những không trốn tránh, ngược lại còn chủ động thỉnh cầu triều thần nghị sự, quả là ngoài sức tưởng tượng.

“Tướng quốc,” Huệ Vương nhìn sang Trương Nghi, “khanh mới từ Trung Nguyên về, hãy kể sơ qua chuyện của Trung Nguyên!”

! “Đại vương, chư vị đại nhân,” Trương Nghi vòng tay khắp lượt, “chuyện của Trung Nguyên, chư vị hẳn đều đã rõ. Sở Vương phái Tam Lư đại phu Khuất Bình đi sứ, nhờ sự trợ giúp của Tô Tần, trước sau đã giao ước với bốn nước Tề, Ngụy, Triệu, Yên, chỉ trừ nước Hàn, năm nước hợp tung, sắp mở minh hội. Cùng lúc này, nước Sở cũng xảy ra đại sự, Sở Vương ban bố hiến lệnh, sửa đổi cựu chế, phong thưởng quân công, trưng đinh mộ dịch. Người Sở đời đời thế tập, nay Sở Vương cải chế, thưởng phạt dựa theo quân công, phủ tuất binh sĩ tử trận, việc này khác nào ngấm ngầm xoá bỏ thế tập quý tộc, đối với người Sở, chính là đại sự chưa từng thấy xưa nay.”

Chúng nhân thảy đều chấn động.

“Theo như Nghi biết, thiên hạ tương lai, dứt khoát gộp lại thành bảy, Tô Tần lần này tung thân năm nước Sở, Tề, Triệu, Ngụy, Yên, chừa lại cho Đại Tần ta chỉ một nước Hàn!” Trương Nghi dõng dạc tiếp lời, “khi tại hạ rời Hàn, Hàn Vương vô cùng lo lắng, duy có một thứ khiến Hàn Vương tin ta, chính là Uyển Thành. Uyển Thành là trọng địa ô kim của Sở, Sở tuyệt đối không chịu để mất, bởi vậy Sở Vương sẽ nhất quyết huyết chiến với Hàn, cướp lại Uyển Thành.”

Trương Nghi chi vài lời đã chỉ rõ đại thế thiên hạ, hơn nữa đại thế đó, rõ ràng rất bất lợi với Tần.

“Trương tướng quốc,” thái tử Đãng không chờ được nữa, lên tiếng cắt ngang, “chớ dông dài chuyện nước Hàn, hãy nói chuyện nước Sở.”

“Xin hỏi điện hạ, chuyện gì của nước Sở?” Trương Nghi nhìn sang thái tử, vòng tay hỏi.

“Chú Tật?” Thái tử Đãng nhìn sang Doanh Tật.

Trương Nghi cũng nhìn sang.

“Hồi bẩm tướng quốc,” Doanh Tật bị dồn tới chân tường, bất đắc dĩ phải vòng tay đáp, “Tật phụng vương mệnh, đi sứ sang Sở, Sở Vương cho Chiêu Tuy truyền khẩu dụ…” Dừng lại nửa chừng, hít vào một hơi.

“Là khẩu dụ gì?”

“Khẩu dụ rằng,” Doanh Tật ngập ngừng, thấy ánh mắt Trương Nghi nhìn xoáy tới, đành phải tiếp, “hãy hiểu dụ sứ Tần, quả nhân không cần gì hết, chỉ cần Trương Nghi! Hoặc là Tần Vương giao nộp Trương Nghi, hoặc là quả nhân sẽ đánh tới Hàm Dương.”

“Còn gì nữa không?” Trương Nghi gặng hỏi.

“Đã hết.”

“Phải chăng tại hạ nên hiểu,” Trương Nghi nhìn chằm chằm vào Doanh Tật, “nếu tại hạ đi, Sở Vương sẽ không đòi sáu trăm dặm Thương Ư, không đòi quận Hán Trung, không đòi quận Kiềm Đông nữa?”

“Theo như khẩu dụ Chiêu Tuy truyền lại mà suy đoán, hẳn là như vậy.”

“Còn hẳn gì nữa?” Thái tử Đãng cười khẩy một tiếng, “chính là ý này!”

Trương Nghi bỗng phá lên cười lớn.

Hết thảy những người có mặt đều giật mình kinh hãi, thoạt tiên đưa mắt nhìn nhau, tiếp đến không hẹn mà cùng đổ dồn ánh mắt vào Trương Nghi.

“Cũng có nghĩa là,” Trương Nghi thình lình im bặt tiếng cười, trỏ vào mũi mình, “một mình tại hạ, có thể đánh đổi vĩnh viễn mười lăm ấp Ư Thành, và quận Hán Trung, cùng đất Kiềm Đông Nam vốn dĩ thuộc về nước Sở, đúng không?”

Doanh Tật không đáp, nhìn sang chỗ khác.

“Hồi bẩm đại vương,” Trương Nghi quay sang Huệ Vương, vòng tay, “thần có tấu!”

“Tướng quốc cứ nói!”

“Đã có chuyện tốt nhường này, thần xin đi sứ sang Sở, mong đại vương chuẩn tấu!”

“Tướng quốc?” Huệ Vương sửng sốt, nhìn sững vào Trương Nghi, “khanh điên rồi ư?”

“Thần không điên!” Trương Nghi cất giọng rành rọt, đưa mắt quét khắp lượt chúng thần, dừng lại ở thái tử Đãng, “dùng một mạng của thần, Đại Tần ta thu về hơn ngàn dặm đất Sở, quả là hời lớn. Vả lại, ba bảo địa này đều phải đánh đổi bằng sinh mạng và máu tươi của tướng sĩ Đại Tần ta, Sở Vương hứa không đòi lại, chỉ cần mình thần, chuyện tốt nhường này, nghìn năm hiếm gặp, chưa từng thấy trong sử sách! Thần xin đi!”

Quyết định này, khác nào tự đưa mình vào chỗ chết!

Đừng nói là Huệ Vương, đến thái tử Đãng cũng phải sững sờ kinh hãi, định nói gì đó, song mấp máy môi vài cái lại thôi.

“Quả nhân không chuẩn tấu!” Huệ Vương lừ mắt nhìn thái tử Đãng, rồi gắn mạnh từng tiếng, “chuyện tướng quốc tới Sở, kết thúc tại đây, không bàn thêm nữa!” Quét mắt khắp lượt chúng thần, “những việc khác, còn ai muốn nói?”

Không ai dám hé một lời.

“Nghị sự hôm nay, bãi…”

Huệ Vương còn chưa kịp nói nốt chữ “triều”, Trương Nghi đã cắt ngang: “Thần có lời thỉnh cầu!”

“Tướng quốc?” Huệ Vương nhìn sang.

“Thần vẫn tấu thỉnh đi sứ sang Sở!”

“Trương Nghi!” Huệ Vương mặt lộ sắc giận, cao giọng quát lớn.

Trương Nghi từ tốn đứng dậy, bước lại trước án của Huệ Vương, quỳ xuống dập đầu, cất giọng trịnh trọng: “Thần thỉnh cầu đi sứ sang Sở, xin đại vương ân chuẩn!”

Huệ Vương không đáp một lời, chỉ đứng vụt dậy, trừng mắt giận dữ nhìn thái tử Đãng, hừ lớn một tiếng, phất mạnh tay áo bỏ đi.

Huệ Vương triệu triều thần nghị sự, còn chưa tuyên bãi triều đã bỏ đi luôn, khiến những người có mặt sượng sùng ngơ ngác.

Chúng thần đều ngồi lặng tại chỗ.

Tần Vương bênh vực Trương Nghi, còn trữ quân thì ngược lại, muốn dồn Trương Nghi vào chỗ chết. Nếu không có biến cố lớn, trữ quân sẽ là quân vương tương lai, không ai dám đắc tội, và thời khắc này chính là thời cơ để đám bề tôi đứng về phe hắn.

Quần thần chờ cả canh giờ, Huệ Vương vẫn không quay lại, bèn nhìn cả vào Doanh Đãng.

Trương Nghi chủ động thỉnh cầu sang Sở, thái độ vô cùng dứt khoát, hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Doanh Đãng. Hôm nay thấy Trương Nghi xuất hiện giữa lúc triều thần nghị sự, Doanh Đãng đã thủ thế sẵn sàng, muốn quyết một trường ác đấu, nào ngờ chiến hoả chưa kịp châm ngòi, đối thủ đã tự mình nhảy vào lửa trước.

Tình thế trước mắt, lại thành ra bất lợi cho Doanh Đãng. Bất luận thế nào, Trương Nghi cũng vì Tần giao chiến, lại bôn ba khắp bốn phương, lôi kéo bốn nước phạt Sở, để cuối cùng trói chân được Sở. Tần có ngày nay, là công của Trương Nghi. Giờ Trương Nghi lại kiên quyết thỉnh cầu sang Sở, quả là dồn Doanh Đãng đến chân tường, chụp lên hắn cái tiếng bất nghĩa.

Doanh Đãng sắc mặt tím bầm.

Doanh Đãng khinh thường nhất là dạng người lộng ngôn xảo ngữ kiểu này. Chuyện Thương Ư, Trương Nghi lật lọng tráo trở, lừa gạt người Sở, khiến Doanh Đãng khinh bỉ vô cùng. Trận Đan Dương, nếu không phải Doanh Đãng xung phong lâm trận, một đòn thủ thắng, cứ để yên cho Trương Nghi và Ngụy Chương kia giằng co với Sở, không biết còn phải đánh tới bao giờ. Tình thế khi đó, dù là kẻ ngốc cũng hiểu, thời gian càng kéo dài, sẽ càng có lợi cho Sở. Sự thực đúng là như vậy. Người Sở vừa bại trong trận Đan Dương, đã gấp rút tập hợp đại quân, đánh chiếm toàn bộ Thương Ư, công phá Nghiêu Quan Nếu không phải phụ vương thân chinh, người Tần liều thân chống trả, thì giờ đây người Sở hẳn đã tiến vào Quan Trung thật rồi.

Lúc đó, Trương Nghi và Ngụy Chương đang ở đâu? Ngụy Chương tháo chạy vào trong núi, không dám ló mặt ra, còn Trương Nghi thì sao? Cái gì mà liên hoành bốn nước? Không có người Tần chống đỡ trước mặt, Hàn Vương có thể xuất binh? Sứ Sở đến giữa triều đình nhục mạ, Tề Vương có thể không xuất binh? Còn như người Ngụy, chuyện của Tương Lăng, họ vẫn ghi hận trong lòng!

Nói cho đến cùng, Trương Nghi chẳng qua chỉ là một gã xảo ngôn trí trá, đảo lộn thị phi, song phụ vương lại tin hắn. Khiến Doanh Đãng bực bội hơn cả, chính là người Sở đã đánh tới tận cửa nhà mà phụ vương vẫn để người con trai thiện chiến nhất ở lại Hàm Dương, giương mắt nhìn tướng sĩ tiền phương tắm máu trong trận ác chiến với Sở. Phụ vương làm vậy, chỉ vì một nguyên do, chính là né tránh Trương Nghi kia.

Hôm nay mới khéo làm sao, quả đúng với câu “tự tìm đường chết”.

Ngươi đã tự chuốc cái chết cho mình, thì chớ trách bản điện hạ!

Doanh Đãng phẫn hận trừng mắt với Trương Nghi một cái, rồi sầm sầm bỏ đi.

Cam Mậu đứng dậy, đi theo thái tử. Tiếp đó là Tư Mã Thác, công tử Hoa và công tử Tật. Trọng thần triều Tần, người duy nhất còn ở lại bên Trương Nghi, chính là Ngụy Chương.

“Tướng quốc?” Ngụy Chương khẽ gọi.

“Tướng quân sao còn chưa đi?”

“Chờ Trương huynh.”

“Tướng quân không phải chờ nữa.” Trương Nghi đứng dậy, “đại vương lúc này đang chờ tại hạ.” Ôm quyền với hắn, rồi theo cửa bên mà đi.

Trong ngự thư phòng, Huệ Vương quả nhiên đang ngồi chờ.

“Nói đi,” Huệ Vương nhìn xoáy vào Trương Nghi, “khanh đang giận Đãng Nhi ư, hay là giận quả nhân?”

“Thần đâu dám giận ai!” Trương Nghi vòng tay đáp, “thần thực lòng muốn đi sứ sang Sở!”

“Vì sao?”

“Là vì, nếu thần không đi, sẽ có không dưới hai mươi vạn người Tần lại phải lao vào chỗ chết! Và cả người Sở, không biết sẽ lại tử thương bao nhiêu! Vương huynh, xương cốt chất chồng như núi, nếu đều bởi Nghị tiếc cái thân này, bảo thần phải sống tiếp thế nào đây?”

“Em rể…” Huệ Vương nghẹn ngào, nước mắt ứa ra. “Vương huynh, xin hãy ân chuẩn!” Trương Nghi bình thản tiếp lời, “ngoài việc này ra, Nghi còn có hai điều thỉnh cầu!”

“Cứ nói.”

“Thứ nhất, xin được làm sứ thần phụng vương mệnh; thứ hai, xin đại vương lệnh cho nhuệ binh đồn trú Hán Trung, gấp rút chế tạo vũ khí công thành, đồng thời đóng thuyền kết bè dọc theo hai bờ Hán Thuỷ, huấn luyện thuỷ chiến, phô trương thanh thế quân ta.”

“Còn gì nữa không?” Huệ Vương hai mắt sáng rực.

“Được hai điều này, đã đủ!”

“Ai làm phó sứ?”

“Ngụy Nhiễm.”

“Cũng cần có một sứ mệnh?”

“Chấp thuận lời của Sở Vương, việc thần tới Sở, chính là sứ mệnh!”

“Bày tiệc!” Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, quay sang nội thần, “gọi Doanh Hoa, Xa Vệ Tần tới bồi tiếp!”

Tối đó, Trương Nghi uống đến say mềm. Về đến phủ, đã là nửa đêm về sáng.

Là công chúa Tử Vân vào cung, kéo Trương Nghi về bằng được.

Tử Vân đã biết rõ mọi chuyện trong cung, nhìn phu quân say ngủ mê mệt trên giường, nước mắt nàng tuôn rơi lã chã.

Sáng hôm sau, Trương Nghi tỉnh dậy, thấy một bé gái đang ngồi trước giường, chính là con gái Doanh Tường.

Thấy Trương Nghi mở mắt, Doanh Tường rụt rè gọi: “Cha…”

Doanh Tường đã chớm thiếu nữ, mi mục thanh tú, vóc hình yểu điệu, tóc dài ngang lưng, đã bắt đầu ra dáng một mỹ nữ.

“Tường Nhi!” Trương Nghi ngồi dậy, nhìn con gái chăm chú.

“Cha!” Doanh Tường càng bối rối, giọng nói ngượng ngùng, hai mắt lấp lánh nhìn vào người cha hầu như không bao giờ về nhà, có về cũng không dám tuỳ tiện gặp mặt.

“Tường Nhi, lại đây!” Trương Nghi dang tay.

Doanh Tường thoạt tiên kinh ngạc, do dự một lát mới nhích lại bên cạnh. Trương Nghi ôm con gái vào lòng, nước mắt bỗng ứa ra, nhỏ xuống mặt cô bé.

“Cha…” Doanh Tường cũng bật khóc nức nở, ôm lấy người cha chưa từng ôm mình lấy một lần mà hôm nay lại khóc vì mình.

Doanh Tường khóc hồi lâu, rồi gạt lệ, giãy ra khỏi lòng Trương Nghi, lùi lại một bước, quỳ xuống mà nói: “Cha, Tường Nhi cầu xin cha, đừng đi nước Sở!”

Trương Nghi bước xuống, ngồi ở mép giường, nhìn con gái hỏi: “Mẹ đã kể cho con biết?”

“Vâng.” Doanh Tường mắt ngấn lệ gật đầu, “mẹ nói, mẹ không khuyên nổi cha, nhưng con khóc thì cha sẽ mềm lòng. Cha, con… con không thể không có cha!”

“Phu nhân, nàng vào đi.” Trương Nghi quay ra ngoài cửa gọi.

Có tiếng bước chân khe khẽ, rồi Tử Vân tiến vào. “Phu nhân, sao lại nói với con những chuyện thế này?” Trương Nghi khẽ giọng trách Tử Vân, “để Tường Nhi phải sợ hãi!”

Tử Vân quỳ xuống, hai tay ôm lấy chân Trương Nghi: “Phu quân, xin nghe thần thiếp một câu, chớ đi sứ Sở. Chỗ vương huynh, cứ để thần thiếp tâu bày. Và điện hạ, có thần thiếp ở đây, sẽ không dám…”

“Phu nhân?” Trương Nghi sầm mặt xuống, trầm giọng mà nói, “quốc gia đại sự, há lại để nàng…” Dừng lại một thoảng, lại dịu giọng nói tiếp, “sẽ không có chuyện gì đâu, ta phụng vương mệnh đi sứ, nàng cứ an tâm!” Rồi nhìn sang Doanh Tường, “con gái, kể từ hôm nay, cha sẽ thêm vào trước tên của con một chữ!”

“Thưa cha, là chữ gì?”

“Chữ Trương.”

“Cha…” Doanh Tường cũng quỳ xuống, dập đầu mà nói, “Trương Doanh Tường tạ ơn cha ban họ!”

“Không phải ban, đây vốn dĩ là họ của con!” Trương Nghi đỡ con gái dậy, vỗ nhẹ vào lưng, “đi nào, lấy nước cho cha.”

Doanh Tường nhanh nhẹn đi ra.

“Phu nhân, nàng đứng lên đi!” Thấy con gái đã đi xa rồi, Trương Nghi nhìn sang Tử Vân.

“Phu quân.” Tử Vân đứng dậy, ôm lấy Trương Nghi.

“Phu nhân,” Trương Nghi cũng ôm lấy nàng một chốc, rồi buông ra, nhìn thẳng vào nàng, “ta đi chuyến này, nếu như không thể trở về, Doanh Tường giao lại cho nàng, con bé là người của họ Trương ta!”

“Phu quân…” Từ Vân bật khóc.

“Hãy nhớ, đối với họ Doanh của nàng, chuyện nước lớn hơn chuyện nhà; đối với phu quân của nàng, chuyện thiên hạ lớn hơn chuyện nước, đối với Doanh Tường của ta, phúc phận của nó lớn hơn chuyện thiên hạ!”

“Phu quân, Tử Vân đã nhớ!”

Mấy ngày sau đó, hôm nào cũng có triều thần mời Trương Nghi tới phủ, bày tiệc linh đình thết đãi. Hễ có ai mời, Trương Nghi đều không từ chối, tiệc nào cũng uống tuý luý, Tử Vân lại dẫn theo con gái tới đón về.

Mỗi bữa tiệc đều là một trường tiễn biệt.

Không mời Trương Nghi, chỉ có thái tử Đãng và Cam Mậu.

Trương Nghi hiểu, Cam Mậu lúc này đã không còn lựa chọn khác.

Hôm nay, sứ đoàn chuẩn bị đăng trình, phó sứ Nguỵ Nhiễm đã chờ sẵn ngoài cửa.

Trương Nghi thay xong trang phục, gọi Tiểu Thuận vào thư phòng.

Tiểu Thuận vừa bước qua cửa, đã quỳ sụp xuống.

“Thuận Nhi!” Trương Nghi đứng dậy, đi vòng quanh Tiểu Thuận.

“Chúa công…” Tiểu Thuận bật khóc nức nở.

“Thằng ranh này, khóc lóc nỗi gì!” Trương Nghi giơ chân đạp vào mông Tiểu Thuận, Tiểu Thuận mới kìm tiếng khóc, dập đầu sát đất.

“Thằng ranh, nghe đây!” Bước chân Trương Nghi dần chậm lại.

“Chúa công cứ dặn!”

“Qua mấy hôm nữa,” Trương Nghi dừng bước, hạ giọng thật khẽ, “ngươi hãy kiếm cớ để ra ngoài thành, tới Hàn Tuyền cốc, đón Hương phu nhân và Khai Địa, đưa tới kinh đô nước Hàn, nương nhờ thượng khanh Lãnh Hướng. Ở đất Hàn, ta đã mua được mấy toà trạch viện, để hai mẹ con có chỗ an cư.”

Tiểu Thuận sửng sốt há hốc miệng hồi lâu, mới thì thào hỏi: “Chúa công muốn rời Tần?”

“Là để đề phòng vạn nhất.”

“Mấy hôm nay, công chúa khóc suốt, khắp thành đồn đại chuyện chúa công đi sứ sang Sở, chúa công, người đi sứ lần này…” Tiểu Thuận lại rơi nước mắt.

“Thằng ranh này, khóc lóc cái gì!” Trương Nghi lừ mắt, giơ tay cốc xuống đầu Tiểu Thuận, “mạng của ta, người khác không hiểu, lẽ nào ngươi cũng không hiểu? Còn cứng lắm, chưa chết được!”

“Phải, phải,” Tiểu Thuận vội lau nước mắt, “Thuận Nhi và Hương phu nhân sẽ ở nước Hàn chờ chúa công.”

“Thằng ranh, đừng có hão huyền!” Trương Nghi lại cốc cho Tiểu Thuận một cái, “đưa tới nơi rồi, lập tức về ngay, chờ ta ở trong phủ này!”

“Thuận Nhi tuân mệnh!”

“Vạn nhất không chờ được, ngươi hãy dẫn Tiểu Thuy cùng lũ trẻ sang Hàn. Hương phu nhân cùng cháu trai của người lỡ có gì sơ sảy, ta đánh chết ngươi!”

Tiểu Thuận khóc không thành tiếng: “Thuận Nhi vâng mệnh!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử