Thế Cục Quỷ Cốc Tử

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi thứ 75
GIẢNG LỢI HẠI, KHÁCH KHANH TRÙ MƯU
ĐI NƯỚC HIỂM, BÈ ĐẢNG KẾT CÁNH

❊ ❊ ❊

Ngận Thượng, Hạng Lôi ra khỏi cung, mỗi người một tâm trạng, vòng tay chào nhau rồi vội vã ai đi đường nấy.

Hạng Lôi đánh xe lao băng băng, thẳng tới trước phủ lệnh doãn, dặn phu xe quay trở về phủ tư bại trước, còn mình xuống xe, đi vào trong phủ, từ xa đã nghe thấy tiếng đàn bà trẻ con gào khóc thảm thiết, là vợ con Chiêu Thử.

Hạng Lôi không còn tâm trí đâu để quan tâm tới họ, vội vã đến phòng Chiêu Dương, thấy đám Trần Chẩn, Chiêu Tuy, Chiêu Đà đều có mặt, rõ ràng là đang bàn bạc về cái chết thình lình của Chiêu Thử. Thấy Hạng Lôi bước vào, tất thảy đều sửng sốt, đứng bật cả dậy.

Hạng Lôi không kịp cả hành lễ, lập tức kể lại tường tận đầu đuôi mọi chuyện, rằng Chiêu Thử chết bất đắc kỳ tử thế nào, kết quả nghiệm xác ra sao, rồi cùng Khuất Bình vào cung tấu báo thế nào vân vân.

Hiển nhiên, chuyện đã trở nên nghiêm trọng, vượt xa dự liệu của Chiêu Dương, nhất là Ngận Thượng còn tấu thỉnh, không cho Hạng Lôi tham gia điều tra để tránh nghi ngờ, Hoài Vương không những chuẩn tấu, mà còn cho Ngận Thượng cùng điều tra. Ngận Thượng xưa nay bất hoà với Chiêu Dương, lúc này lại cấu kết với đám vương thúc, Trương Nghi. Nếu hắn can dự vào vụ án, thì đen cũng biến thành trắng được.

Chiêu Dương nhìn sang Trần Chẩn.

Mọi ánh mắt cùng đổ dồn vào Trần Chẩn.

“Than ôi,” Trần Chẩn cười nhăn nhó, nhìn sang Chiêu Dương, “hiện tại, chỉ có duy nhất một chứng cứ có lợi, đó là lời cung khai của tội nhân, nhưng đáng tiếc, thực đáng tiếc, lại không được điểm chỉ, nên không những không thể thành chứng cứ, mà ngược lại còn có thể chuốc vạ vào thân, biến thành vu cáo.” Nhìn sang Hạng Lôi, “họ có thể hạ độc giết người ngay trước mũi Hạng đại nhân, cho thấy ngay trong hình ngục đã có ẩn tình. Hạng đại nhân lại buộc phải lánh khỏi cuộc điều tra, thì sự việc trong ngục, còn ai có thể chỉ ra? Sự việc liên quan tới vương thúc, Ngạc Quân, còn ai dám làm rõ?” Nhìn sang Chiêu Tuy, “chỉ cần Ngận Thượng nhúng tay vào, công tử đây dù miệng mọc khắp người, e rằng cũng không thể biện hộ!”

Bị Trần Chẩn bồi thêm vài câu, bầu không khí vốn dĩ đã căng thẳng lại càng thêm căng thẳng, nhất là Chiêu Tuy, mặt cắt không còn hạt máu.

“Trần huynh, Trần thượng khanh,” Chiêu Dương lo cuống lên, “hãy mau nghĩ cách!”

“Cách thì có đấy, chỉ sợ đại nhân không đành lòng mà thôi!”

“Nói mau!” Chiêu Dương thúc giục.

“Kết giao Khuất Bình, đứng về phía đại vương!”

“Chuyện này…” Chiêu Dương cười nhăn nhó, “phía Khuất Bình còn được, nhưng đại vương thì…”

“Muốn đứng về phía đại vương, cần phải hiểu đại vương.” Trần Chẩn cười ranh mãnh, “hiện tại trong lòng đại vương chỉ có một chuyện, chính là học theo tiên Tần Công, biến pháp cải chế. Đại vương biến pháp cải chế, trợ thủ phải là người thân tín, chủ yếu gồm hai phe, một là chư thân vương thất, một là chư thân tông thất. Phía vương thân, đứng đầu là vương thúc; phía tông thân, hiện tại đứng đầu là họ Chiêu. Hôm nay nghe tả đồ kể lại, đại vương quyết chí lập hiến cải chế, mà vương thúc chắc chắn sẽ phản đối cải chế. Chỉ cần Chiêu huynh ra mặt, công khai ủng hộ Khuất Bình, dốc lòng thực thi hiến lệnh, thì đại vương và Khuất Bình mong còn chẳng được. Còn như vụ án Chiêu Thử, Khuất Bình mới là chủ đạo, Ngận Thượng chỉ là trợ thủ mà thôi. Nếu Khuất Bình tra xét công minh, Ngận Thượng sẽ không thể lật đen thành trắng, đen thì vẫn sẽ là đen.”

“Than ôi…” Chiêu Dương cười gượng gạo, “Khuất Bình còn chưa cải chế, mới chỉ đưa ra hiến lệnh cắt giảm dư quan, đã khiến toàn bộ tông thân đùng đùng phẫn nộ. Nghe nói hắn còn có một núi hiến lệnh tiếp theo, nếu như dốc ra hết, há chẳng…”

“Than ôi, Chiêu đại nhân,” Trần Chẩn thở hắt ra, “đại nhân đúng là tham bát bỏ mâm rồi. Có câu, môi hở thì răng lạnh, Chẩn tuy không hiểu việc binh, song hiểu lòng người. Nước Sở của đại nhân trông thì đất rộng người đông, nhưng thực chất lại như một đĩa cát rời, trên chiến trường, quyết không địch nổi người Tần. Trận chiến Tích Thuỷ nói là bại bởi binh khí ô kim của Tần, song chẳng qua chỉ là cái cớ để miễn tội cho Cảnh Thuý mà thôi. Theo như Chẩn thấy, cho dù chủ tướng không phải là Cảnh tướng quân mà là Chiêu huynh đây, quân Sở cũng dùng binh khí ô kim như quân Tần, quân Sở vẫn đông gấp nhiều lần quân Tần, thì liệu Chiêu huynh có thủ thắng được hay không, Chẩn cũng không dám khẳng định.”

“Huynh…” Chiêu Dương máu nóng bốc lên, ngón tay run rẩy.

“Được rồi, không nói chuyện này nữa,” Trần Chẩn cười cười, “vẫn là một câu, môi hở thì răng lạnh. Nhìn vào đại thế, người Tần tây đoạt Khuyển Nhung, nam giành Ba Thục, đông chiếm Hào Hàm, lại còn được Hà Thuỷ hiểm yếu, đúng là chỗ dựa trời cho. Trương Nghi liên hoành mưu Ngụy nhiều năm, tuy thất bại quay về, song vẫn có thành tựu lớn, kết quả thế nào, chư vị đều đã thấy cả, Tam Tấn giao tranh, Ngụy, Tề tử chiến, nước Yên nội loạn, người Tần chỉ tốn chút nước bọt, mà năm nước đã tương tàn đến thế.” Thu lại nụ cười, giọng điệu trịnh trọng, “dưới gầm trời này, địch lại được Tần, duy có Đại Sở, mà Đại Sở thì sao, quý tộc tranh lợi, dân chúng tiếc mạng; từ sang đến hèn, ai cũng chỉ chăm chăm lo cho nhà mình, tham tiếc mạng mình. Ngược lại hãy nhìn người Tần, một người phạm pháp, mười nhà liên đới, một người tiếc mạng, mười nhà chịu phạt. Cứ chém đầu là lập công, cứ lập công là

được thưởng, bất luận xuất thân. Chư vị đều là người am hiểu việc binh, nếu như tâm thái của tướng sĩ hai bên trên chốn sa trường khác nhau như vậy, thắng thua có đoán được không? Chư vị đại nhân, giả như có một ngày, đám người Tần liều thân vong mạng khao khát kiến công lập nghiệp kia hùng hổ kéo tới, mà lính Sở tham tiếc tính mạng tự thấy không thể địch nổi, nháy mắt toàn quân tan vỡ, thì Đại Sở sẽ ra sao? Tại hạ vốn người phiêu bạt, chẳng qua là một khách khanh ở Sở, chỉ một cỗ xe là có thể lang thang thiên hạ. Nhưng chư vị ở đây có thể chạy đi đâu? Gia sản của chư vị, tổ nghiệp của chư vị, thê thiếp của chư vị, có thể chạy đi đâu? Có thể sống tạm bợ chốn sông hồ, ẩn dật nơi rừng núi giống như kẻ tôi tớ tiện dân chăng? Có thể quỳ dưới đất để cầu xin lợi ích với kẻ chiến thắng chăng?”

Từng lời từng chữ của Trần Chẩn, nghe như sấm động bên tai, đám người Chiêu gia, gồm cả Hạng Lôi, thảy đều bàng hoàng kinh hãi.

Sau khi rời cung, Ngận Thượng đi thẳng tới phủ vương thúc.

Vương thúc đang cùng đám Bành Quân, Xạ Cao Quân và Tử Khải bàn chuyện của Chiêu Thử, trông thấy Ngận Thượng, bèn đứng dậy nhường chỗ. Ngận Thượng ngồi xuống, kể lại chuyện xảy ra trong cung, còn đặc biệt nhắc tới tấm áo dính máu.

“Tấm áo làm sao kia?” Bành Quân nhìn sang Ngận Thượng.

“Trên tấm áo có hai chữ máu, một chữ Chiêu, một chữ thúc.” Ngận Thượng đáp.

“Là tại hạ dặn hắn viết.” Bành Quân giải thích, “có gì bất ổn chăng?”

“Hạ quan chưa kịp nhìn kỹ, mới chỉ thoáng liếc qua, thấy có một chỗ bất ổn,” Ngận Thượng nhìn sang Bành Quân, “viết quá ngay ngắn chỉnh tề.”

Bành Quân hít ngược vào một hơi. Rõ ràng, đây là điều hắn không ngờ tới.

“Tấm áo đâu rồi?” Vương thúc nhìn sang.

“Đang ở trong tay Khuất Bình.” Ngận Thượng đáp, “Hạng Lôi mang tấm áo trình lên đại vương, đại vương nổi trận lôi đình, hạ lệnh cho Khuất Bình, tư bại và hạ quan cùng điều tra vụ án. Hạ quan lúc đó chỉ nghĩ tới Hạng Lôi, nên vội tấu thỉnh, nên cho hắn rút lui để tránh nghi ngờ, đại vương đã ân chuẩn. Khuất Bình xin lại áo máu, đại vương tiện tay đưa luôn cho hắn, hạ quan đang định đòi lại, thì Khuất Bình đã cáo lui. Đại vương không những không cho hắn lui, mà còn đuổi hạ quan và Hạng Lôi về, tấm áo máu kia…”

Đây đúng là một sơ suất trí mạng, có tấm áo trong tay, Khuất Bình chắc chắn sẽ tìm ra chân tướng. Sự việc trong ngục nếu bị phơi bày, thì trong trường đại chiến này, bọn họ đã cầm chắc phần thua.

Vương thúc nhắm mắt ngẫm nghĩ một lát, rồi nhìn sang Bành Quân: “Chú mau đi thu xếp chuyện trong hình ngục, nhất là kẻ viết chữ kia.” Rồi quay sang Tử Khải, “có lời mời sứ Tần!”

Bành Quân đi chưa được bao lâu, Trương Nghi đã cùng Tử Khải bước vào.

Hiển nhiên là chuyện trong ngục, Tử Khải đã kể hết với Trương Nghi. Khi ánh mắt vương thúc xoáy tới thăm dò, Trương Nghi lập tức chỉ ra ngay nút thắt, và lập tức đưa ra kế sách tháo gỡ.

Nút thắt, là Chiêu Dương, cách tháo gỡ, là đuổi Chiêu Dương đi.

“Ồ…” Vương thúc ngỡ ngàng, “gốc rễ của chuyện này, không phải là tả đồ ư?”

“Không phải.” Trương Nghi với lấy vài chén trà và một ấm trà, đặt ấm trà ở chính giữa án, “vương thúc hãy xem, đây là đại vương.” Lần lượt để hai chén trà ở phía trước ấm trà, tạo hành một hình tam giác, “bên trái Khuất Bình, bên phải Chiêu Dương, một già một trẻ, cùng đại vương kết thành một hình tam giác. Trong tam giác này, cội gốc ở đây, chính là đại vương.” Nói đoạn, dịch chuyển chén trà tượng trưng cho Chiêu Dương ra xa, dịch chuyển chén trà tượng trưng cho Khuất Bình lại gần, “đại vương không ưa Chiêu Dương, muốn dựa vào Khuất Bình để biến pháp cường Sở, song Khuất Bình ở Sở lại không có nền tảng vững chãi, nhất là sau lần cắt giảm dư quan vừa rồi, đã bị cô lập trong triều. Nếu đại vương muốn cải chế thành công, thì phải lôi kéo Chiêu Dương.” Lại kéo chén trà ở xa lại gần, “để lại thành hình tam giác, đại vương ban mệnh, Khuất Bình tạo hiến, Chiêu Dương hành lệnh, như vậy sẽ thành công.”

“Nút thắt vì sao lại ở Chiêu Dương?” Tử Khải hỏi.

“Biến pháp cải chế, không phải ở chế hiến tạo lệnh, mà là ở thi hành. Thân là vua một nước, đại vương không thể xông pha đi đầu. Khuất Bình tuổi trẻ non nớt, khó khiến người khác phục, dù có thành lệnh doãn, lệnh ban ra cũng khó có thể thi hành. Làm được điều này, duy có Chiêu Dương, thứ nhất tinh khôn lão luyện, thứ hai trị Sở nhiều năm, quan lại khắp trên dưới đều là người của ông ta, thứ ba có cao nhân phía sau chỉ điểm.” Trương Nghi nhấc một chén trà, đặt ở phía sau chén trà tượng trưng cho Chiêu Dương, “chính là kẻ này, Trần Chẩn. Chiêu Dương có sức, Trần Chẩn có mưu, hai người hợp lại, thế như chẻ tre. Năm xưa Nghi bại ở Sở, chính bởi hai người này hợp lực.”

“Nếu nói như vậy, cứ thủ tiêu đi là xong!” Tử Khải buột miệng nói liền.

“Thủ tiêu ai kia?” Trương Nghi nhìn sang Tử Khải.

“Trần Chẩn!” Tử Khải giọng đầy hậm hực, “kẻ này ở đây, chẳng khác nào cây sào khuấy phân! Ta mở lầu Phẩm Hương, hắn cũng mở lầu Nguyên Cát, loáng cái đã cướp trắng bao nhiêu mối làm ăn của ta, tại hạ đã thấy ngứa mắt lâu rồi!”

Trương Nghi bật cười vài tiếng: “Công tử muốn thủ tiêu kẻ này thì quá dễ, nhưng nếu muốn hắn sống tiếp mới khó đấy.”

“Ồ,” Tử Khải ngơ ngác, “cho hắn sống tiếp để làm gì?”

“Sống tiếp mới thú vị. Không có cây sào khuấy phân này, mênh mông Đại Sở sẽ buồn tẻ lắm!”

“Xin hỏi Trương Tử, làm thế nào để đuổi được Chiêu Dương?” Ngận Thượng quay về chuyện chính.

“Nghe nói cách đây không lâu, không ít triều thần đàn hặc tả đồ, tại hạ cho rằng họ đã đàn hặc lầm người rồi. Số tấu chương ấy, đáng lẽ nên dùng cho lệnh doãn mới phải.” Trương Nghi cười nói, “còn đối phó với Khuất Bình, tại hạ vẫn chỉ có mấy chữ này, chất cho cao.”

“Là sai lầm của Mị Thu.” Vương thúc cười gượng, quay sang Tử Khải, “cháu hiền, hãy nghe theo Trương Tử, bảo họ chuyển sang đàn hặc lệnh doãn!”

“Vương thúc,” Trương Nghi mỉm cười, “chuyện gấp trước mắt, lại không phải là lệnh doãn, mà là vụ án Chiêu Thử. Chừng nào tấm áo dính máu kia còn ở trong tay Khuất Bình, ta sẽ không thể yên thân.”

“Trương Tử nói rất phải.” Vương thúc nhìn sang Ngận Thượng, vòng tay, “Ngận đại nhân, đại vương lệnh cho đại nhân hỗ trợ tả đồ điều tra vụ án, lúc nào rảnh rỗi, đại nhân hãy thử tới chỗ tả đồ một chuyến, thứ nhất thăm dò ý tứ, thứ hai lấy cớ điều tra để mang tấm áo về đây.”

“Hạ quan tuân lệnh.” Ngận Thượng đáp.

Cứ như đã được tính toán trước.

Khuất Bình vừa kịp ngồi xuống trước án trong phủ tả đồ, môn uý đã bước vào bẩm báo Trần Chẩn cầu kiến.

“Tiên sinh!” Khuất Bình ra đón, vòng tay chào.

“Đang chờ Khuất Tử đây!” Trấn Chẩn tươi cười, đi theo vào trong, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

“Dám hỏi tiên sinh có gì chỉ giáo?” Khuất Bình hỏi thẳng vào đề.

Trần Chẩn bật cười: “Khuất Tử quả là nôn nóng! Không có chuyện gì, chỉ muốn cầu Khuất Tử một việc.”

“Tiên sinh nói đùa rồi,” Khuất Bình mỉm cười, nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “có việc gì, xin tiên sinh cứ nói!”

“Nghe nói đại vương cho Khuất Tử tạm thay quyền lệnh doãn, để thi hành hiến lệnh, có chuyện này không?”

“Phải,” Khuất Bình khẽ cười, “đại vương đã ban chỉ giữa triều đường.”

“Chẩn còn nghe nói, đại vương còn muốn bỏ luôn mấy chữ tạm thay quyền, bổ nhiệm Khuất Tử làm lệnh doãn, có chuyện này không?”

Đây là lời hẹn bí mật giữa Hoài Vương và Khuất Bình, còn chưa tiết lộ với bất kỳ ai, vậy mà Trần Chẩn lại nói toẹt ra như vậy, Khuất Bình trong lòng giật thột, ngần ngừ một thoáng mới đáp: “Phải!”

“Chẩn mong tả đồ chớ nên nóng vội. Muốn thành đại sự, cần có sức lớn. Đại vương có ngôi vị, Khuất Tử có tri thức, ngôi vị kết hợp với tri thức, có thể mưu đại sự. Nhưng mưu vẫn chỉ là mưu mà thôi, khi đưa mưu vào thực tế, cần có tài cán lớn, cần có sức mạnh lớn.”

“Ý tiên sinh là, tài cán và sức mạnh, đều ở lệnh doãn?”

“Chí ít thì hiện tại là vậy.” Trần Chẩn dõng dạc nói tiếp, “ngôi vị cần phải dựa vào thế, sự việc cần có sức để thi hành. Sở dĩ đại vương có được ngôi vị cao quý, là dựa vào hai thế, một là thế của vương tộc, hai là thế của tông tộc. Sở dĩ vương tộc và tông tộc đều nâng đỡ đại vương, là vì lợi ích. Mưu của tả đồ, là tước đoạt lợi ích của hai thế, song lại không có đủ thế và lực để thi hành, như vậy mà muốn thành đại sự, có khác nào leo cây tìm cá?”

Khuất Bình hít ngược vào một hơi dài. Rõ ràng, từ lúc cha sinh mẹ đẻ, chưa có một ai nói cho Khuất Bình nghe những đạo lý nhường này!

“Lẽ nào đại vương không phải là thế?” Khuất Bình im lặng một thoáng, rồi ngờ vực hỏi, “theo lý mà nói, ngôi cao thì thế phải mạnh!”

“Đại vương ngôi cao quyền trọng, là có đại thế, song thế của đại vương là nhờ có thế ở phía dưới nâng đỡ. Nói thế này đi,” Trần Chẩn đứng dậy, chậm rãi bước quanh phòng, trông như một tiên sinh Tắc Hạ đang đăng đàn diễn luận, hoa tay mà nói, “theo như Chẩn thấy, thế lực nước Sở chia thành ba phần, một phần thuộc về đại vương, một phần thuộc về quý tộc, một phần thuộc về dân chúng. Thế lực quyết định lợi ích, cho nên lợi ích của nước Sở cũng chia làm ba phần, một phần của đại vương, một phần của quý tộc, phần còn lại là của dân chúng. Đại vương chỉ có một mình, còn quý tộc lại chia thành hai phe, một là vương thất, hai là tông thất. Vương thất và tông thất tranh giành lợi ích với đại vương, hình thành nên triều đường nước Sở hiện nay. Ngoài vương thất và tông thất, còn có một nhóm thế lực và lợi ích thứ ba nữa, đã bị triều đường xem nhẹ, cũng chính là bị đại vương và quý tộc xem thường. Mà nhóm này mới là Đại Sở thực thụ, bởi lẽ họ đang nâng đỡ cho cả vương thất và tông thất.”

Cao luận của Trần Chẩn khiến Khuất Bình lấy làm bội phục, hai mắt nhìn chăm chú vào Trần Chẩn.

“Theo lý mà nói, cái gọi là biến pháp cải chế của tả đồ và đại vương, chẳng qua chỉ là sự tranh lợi giữa ba bên mà thôi!”

Hai chữ “tranh lợi” như một mũi dùi, đâm thẳng vào tim Khuất Bình.

Trầm ngâm hồi lâu, Khuất Bình ánh mắt dò hỏi: “Ba bên tranh lợi?”

“Ở nước Sở, quý tộc tranh lợi với dân, dân chúng lầm than. Vương thất tranh lợi với tông thất, tông tộc oán thán; quý tộc ngày càng lớn mạnh, lợi ích của đại vương ngày càng thu hẹp, đại vương không vui. Đại vương tranh lợi, chỉ có thể tranh với quý tộc; quý tộc tranh lợi, chỉ có thể tranh với dân thường. Tranh chấp giữa đại vương và quý tộc, là ở triều đường, tranh chấp giữa quý tộc và dân thường, là ở chợ búa, ở sông hồ, ở ruộng vườn, ở đất đai. Thứ đại vương nhìn thấy trên triều đường, là lợi lớn của quý tộc. Cũng thuộc giới quý tộc, thứ tả đồ nhìn thấy lại là lợi nhỏ của dân thường. Đại vương cải chế, là muốn tranh lợi cho vương thất; tả đồ cải chế, là muốn tranh lợi cho dân thường. Bất kể là đại vương hay tả đồ, mục tiêu có khác nhau, song lợi ích tranh đoạt đều là tước đoạt từ quý tộc, cũng chính là tước đoạt lợi của vương thất và tông thất. Đại vương tranh lợi, ở triều đường, dựa vào triều đường; tả đồ tranh lợi, cũng ở triều đường, dựa vào triều đường. Mà trên triều đường, đại vương chỉ có một người; dân thường tuy đông, song cũng chỉ có một mình tả đồ ở đó. Những người khác, đông nghìn nghịt giữa triều đường, đều là quý tộc. Tả đồ có tri thức, tạo hiến chế lệnh; đại vương có ngôi vị, ban chiếu bố lệnh. Song ai sẽ thực thi những hiến lệnh này? Đương nhiên, vẫn chỉ có thể là quý tộc trong triều, bởi họ đã kiểm soát phủ doãn các cấp. Tả đồ và đại vương cải chế biến pháp bằng cách tước đoạt lợi ích thiết thân của vương thất, tông thất, song lại trông chờ vương thất, tông thất thực thi những hiến lệnh này, chẳng phải là thiếu sáng suốt lắm ư?” Trần Chẩn nói đến đây thì dừng bước, mắt nheo lại như hai đường kẻ chỉ, nhìn xoáy vào Khuất Bình.

Những lời này của Trần Chẩn, khác nào thác đổ trên cao, mạch lạc sáng tỏ, chỉ vài câu mà đã giải thích thông suốt thấu đáo toàn bộ việc tạo hiến bố lệnh và đại thế của nước Sở, khiến Khuất Bình càng thêm thán phục sát đất.

“Tiên sinh quả là kỳ nhân,” Khuất Bình vòng tay khen ngợi, “xin hãy bày cho Nguyên cách thức hoá giải!”

“Cách thức hoá giải chỉ có một, kết thân Chiêu Dương, mượn sức phản kích.”

Khuất Bình khép mắt ngẫm nghĩ chốc lát, rồi nhìn sang Trần Chẩn: “Cải chế biến pháp, chẳng phải cũng tước đoạt mất lợi ích của họ Chiêu ư?”

“Phải, song Chiêu Dương còn có một mối lợi hại khác!”

“Lợi hại khác?”

“Chính là Trương Nghi.” Trần Chẩn khẽ lắc lư đầu, “tả đồ và đại vương chẳng qua chỉ là bớt xén chút lợi ích của họ Chiêu mà thôi, nhưng thứ Trương Nghi muốn tước đoạt, lại là tính mạng của Chiêu Dương! Chiêu Dương vốn muốn tranh lợi với vương tộc, nhưng lúc này, Trương Nghi lại cấu kết với vương thúc, thì đã không còn là chuyện tranh lợi nữa!”

“Lệnh doãn…có ý này chăng?”

“Chẩn chính là từ phủ lệnh doãn tới đây đó.”

Khuất Bình lại khép mắt một lát, rồi nhìn thẳng vào Trần Chẩn: “Nguyên tính tình bộc trực, hiện có một khúc mắc, mong tiên sinh giải thích giúp cho!”

“Tả đồ cứ nói!”

“Nghe nói Sính Đô có lầu Nguyên Cát, lầu này có dây mơ rễ má với tiên sinh, có chuyện này chăng?”

“Phải.”

“Nghe nói trước cuộc chiến Hà Tây giữa Tần và Ngụy, tại An Ấp nước Ngụy cũng có hai lầu, một lầu Miên Hương, một lầu Nguyên Hanh, tiên sinh hẳn có biết?”

“Biết. Lầu Nguyên Hanh là do Chẩn gây dựng, còn lầu Miên Hương của một người tên gọi Thiên Hương.”

“Thiên Hương là ai?”

“Hắc điêu thuộc Hắc Điêu đài nước Tần.”

“Lầu Miên Hương xảy ra vụ án mưu sát, tiên sinh hẳn có biết?”

“Là do Thiên Hương sắp đặt.”

“Đã là lầu của nàng ta, cớ sao lại phải làm như vậy?”

“Giá hoạ cho Công Tôn Diễn.”

“Cớ sao người Tần lại giá hoạ cho Công Tôn Diễn?”

“Vì muốn ép Công Tôn Diễn sang Tần.”

“Sao tiên sinh lại biết rõ đến vậy?” Khuất Bình ngạc nhiên hỏi.

“Bởi vì Chẩn lúc đó là thượng khanh nước Ngụy, vụ án này do Chẩn phụng vương mệnh điều tra.”

“Tiên sinh…” Khuất Bình không còn gì để hỏi, cúi đầu xuống, hồi lâu sau mới lẩm bẩm thốt ra một câu, “Sính Đô mở một lầu Phẩm Hương.”

“Chủ lầu vẫn là Thiên Hương đó, Chẩn biết nàng ta.”

“Chính vì thế nên tiên sinh mới mở lầu Nguyên Cát?” “Phải.”

“Tiên sinh, Khuất Bình có một khúc mắc, An Ấp có hai lầu này nên mới mất Hà Tây?”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài, “tả đồ có điều không biết, dù An Ấp không có hai lầu này, Hà Tây cũng sẽ mất, chẳng qua là theo một cách khác mà thôi.”

“Nghĩa là sao kia?” Khuất Bình ngẩng phắt lên hỏi.

“Bởi nước Ngụy có một tiên Ngụy Vương, nước Tần có một tiên Tần Công.”

Tiên sinh chưa từng tự trách mình ư?”

“Có chứ.”

“Trách như thế nào?”

“Mờ mắt bởi ngôi tướng quốc Đại Nguỵ. Than ôi,” Trần Chẩn lại thở dài một tiếng, rồi cười gượng nhìn Khuất Bình, “tả đồ còn muốn hỏi gì nữa không?”

“Hết rồi.” Khuất Bình vòng tay, “tạ ơn tiên sinh đã thẳng thắn giải đáp.”

“Hẳn là tả đồ đã hiểu, cớ sao Chẩn lại muốn mở lầu Nguyên Cát rồi chứ?” Trần Chẩn nhìn Khuất Bình, ánh mắt đầy xảo trá, “ở nước Sở, cơm áo của Chẩn chính là Chiêu Dương, mà địch thủ của Chiêu Dương là Trương Nghi, tai mắt của Trương Nghi là Điêu đài, yếu huyệt của Điêu đài là lầu Phẩm Hương. Chẩn có thể tiết lộ với tả đồ, trong lầu Nguyên Cát, đâu đâu cũng có tai mắt của Chẩn, phàm những khách đỏ đen đã từng tới lầu Phẩm Hương, đều nằm trong tầm mắt của Chẩn hết. Đến một phát rắm ở trong lầu Miên Hương, Chẩn cũng biết có mùi gì.”

“Tiên sinh mưu sự, quả không tầm thường!” Khuất Bình vòng tay, “hồi ở Nghiết Tang, Tô Tử từng dặn vãn sinh, nếu gặp chuyện lớn, hãy thỉnh giáo tiên sinh, nay Nguyên tin rồi!”

“Tạ ơn Khuất Tử tin tưởng!” Trần Chẩn đáp lễ, rồi cười buồn bã, “không giấu gì tả đồ, Chẩn dốc lòng dốc sức phò trợ tả đồ, cũng là bởi nhận uỷ thác của Tô Tử.” Nói đoạn rút từ trong tay áo ra một bức thư, chìa ra trước mặt Khuất Bình, rồi lại thu về, “Chẩn một đời này, chưa từng biết kính phục ai, chỉ ngoại trừ Tô Tử.” Dõi mắt về phía xa xăm, buông lời cảm khái, “quả là thánh nhân của đời nay.”

“Đại đức của tiên sinh, Nguyên giờ đã hiểu.” Khuất Bình lại vòng tay, “giờ vãn sinh sẽ lập tức vào cung, bẩm rõ lợi hại với đại vương, tin rằng đại vương sẽ xoá bỏ hiềm khích cũ, dùng lại lệnh doãn, thực thi vương mệnh. Còn về phía lệnh doãn, phiền tiên sinh nói giúp!”

“Nếu được như vậy, Đại Sở có hy vọng rồi!”

Khuất Bình vừa rời khỏi phủ tả đồ, Ngận Thượng đã tìm tới.

Ngận Thượng lần này tới đây, chỉ vì một chuyện, chính là tấm áo dính máu mà Trương Nghi căn dặn. Ngận Thượng đã suy tính, nếu Khuất Bình có trong phủ, sẽ mượn cớ điều tra để đòi Khuất Bình giao áo ra, rồi tìm cách tiêu huỷ hòng xoá bỏ bằng cứ. Nếu Khuất Bình không có mặt, sẽ tự ý lấy đi.

Khuất Bình vừa hay vắng mặt.

Ngận Thượng lục tìm khắp lượt, dò hỏi vài người, song chẳng tìm ra một dấu vết nào. Nhưng rồi bỗng sực nghĩ ra một chỗ, Ngận Thượng bèn đánh xe thẳng tới nhà cỏ của Khuất Bình.

Nghe thấy tiếng xe lọc cọc, lão bộc ra đón, thấy là Ngận Thượng, biết rõ đây là nhân vật thế nào, bèn bẩm báo tả đồ đã ra khỏi nhà từ sáng sớm.

Ngận Thượng khẽ đảo mắt, rồi nói: “Ta đã hẹn với Khuất đại nhân, chốc nữa đại nhân sẽ về tới, ta sẽ ở đây chờ đại nhân.”

Lão bộc không tiện nói gì thêm, gọi ngay đứa bé gái lại, sai dẫn Ngận Thượng vào nhà cỏ ngồi đợi. Bé gái dẫn Ngận Thượng vào trong phòng khách, rót trà mời. Ngận Thượng uống vài ngụm, rồi đứng dậy đi về phía thư phòng của Khuất Bình. Bé gái đi sát theo sau, không rời nửa bước.

“Ngươi tên gì?” Ngận Thượng cười hỏi.

Tôi tên là Nam Nam.” Cô bé đáp.

“Ta đã tới đây vài lần, nhưng chưa từng thấy ngươi!”

“Tôi cũng chưa từng thấy đại nhân.” Cô bé cười, “đại nhân đang tìm gì thế?”

“Ngươi có trông thấy một chiếc áo máu không?”

“Áo máu là gì kia?”

“Là một chiếc áo có dính máu, chiếc áo màu xám trắng, giống như thế này.” Ngận Thượng lấy ra một tấm áo giống như áo của Chiêu Thử, giũ ra trước mặt cô bé.

Cô bé lắc đầu.

Ngận Thượng đang lấy làm thất vọng, chợt trông thấy hai bên thư án của Khuất Bình xếp hai chồng thẻ tre cao ngất, cùng hiến lệnh vừa mới viết xong đang bày trên mặt án, thì hai mắt vụt sáng, ngồi ngay xuống trước án, mở ra đọc ngấu nghiến.

Đọc được một lát, Ngận Thượng trán rịn mồ hôi.

Dường như đến lúc này, tấm áo dính máu kia đã không còn quan trọng nữa.

Đang say sưa đọc, Ngận Thượng bất chợt nhận ra Nam Nam vẫn đứng ngay trong cửa, đôi mắt to tròn nhìn mình chằm chằm.

“Nam Nam,” Ngận Thượng đặt thẻ tre xuống, “ta sẽ ngồi đây đọc sách để đợi Khuất đại nhân, ngươi cứ ra ngoài chơi đi!”

“Tôi không chơi đâu,” Nam Nam đáp, “tôi sẽ đứng hầu ở đây!”

“Ồ…” Ngận Thượng nhíu mày, “khi Khuất đại nhân đọc sách, ngươi cũng đứng hầu bên cạnh thế này?”

“Không đâu, bởi Khuất đại nhân cần yên tĩnh.”

“Ta đọc sách, cũng cần yên tĩnh đấy.” Ngận Thượng cười nói.

“Nhưng tôi không quen đại nhân!” Nam Nam chớp mắt, “hay là, đại nhân ở trong phòng đọc sách, tôi ngồi ở ngoài cửa?”

“Được.”

Nam Nam bèn bước ra ngoài cửa, ngồi xuống ngay dưới mái hiên.

Ngận Thượng vội vã đọc lướt qua số thẻ tre trên bàn, vắt óc suy nghĩ một chốc, ánh mắt bỗng dừng lại trên bút nghiên bên cạnh, thấy trong nghiên còn nhiều mực, chợt nảy ra một ý, bèn rút chiếc áo mang theo ra, cầm bút chấm mực, viết lia lịa lên trên áo.

Ngận Thượng viết gần hai canh giờ mới chép xong một bó thẻ tre, toàn bộ tấm áo chi chít những chữ, đến cả cổ áo cũng viết kín, mới gấp áo lại, nhét vào trong ngực áo, xếp số thẻ tre vào chỗ cũ, rồi chầm chậm đứng dậy, vươn vai, hít sâu một hơi, đoạn sải bước đi ra.

“Đại nhân không đọc nữa ư?” Nam Nam đang gà gật ngoài hiên, nghe thấy tiếng chân bước, vội đứng bật dậy.

“Không đọc nữa.” Ngận Thượng đáp, “ta không chờ được đại nhân của ngươi, ta về đây.”

Đến tận giờ Thân buổi chiểu, Khuất Bình mới từ trong cung trở về, vội vàng bước vào nhà cỏ, cầm lấy hiến lệnh trên án, vừa định đi luôn thì Nam Nam chạy ào vào gọi lớn: “Thưa chú, sáng nay có một ông bác tới tìm chú, đã chờ rất lâu!”

“Ông bác?” Khuất Bình sửng sốt, “hắn chờ ta ở đâu?”

“Ở trong thư phòng.”

Khuất Bình giật nảy mình kinh hãi, mồ hôi lạnh túa khắp người, vội vã quay vào, kiểm tra một lượt mọi thứ trong thư phòng, thấy không mất mát gì, lại giở hiến lệnh mới soạn ra xem, một tấm thẻ tre cũng không thiếu.

“Ông bác ấy ngồi ở chỗ này, lật xem những tấm thẻ tre này,” Nam Nam chỉ vào cuốn thẻ tre, “cháu đứng ngoài cửa nhìn, ông ta bèn bảo cháu ra ngoài vì muốn yên tĩnh, cháu bèn ra ngoài cửa ngồi, ở chỗ này.” Chỉ ra chỗ mình ngồi khi đó, “cháu ngồi mãi, ngồi mãi, đến khi ngủ gật thì ông bác ấy mới đi ra, nói rằng phải về.”

Khuất Bình đi ra sân, gọi lão bộc tới, nôn nóng hỏi: “Buổi sáng ai đã tới đây?”

“Là thượng quan đại nhân, nói rằng có hẹn với đại nhân, muốn vào trong nhà đợi. Tiểu nhân đang bận dựng giàn nên gọi Nam Nam dẫn thượng quan đại nhân vào.” Lão bộc đáp.

Hiển nhiên, đây tuyệt đối không phải chuyện thường. Ngận Thượng không hề hẹn Khuất Bình, song lại nói là đã hẹn, rõ ràng là nói dối.

Tuy nhiên, vì sao lại phải nói dối?

Khuất Bình nhắm mắt suy nghĩ.

“Thưa chú,” Nam Nam như đã nhớ ra, nói tiếp, “ông bác ấy muốn tìm áo máu gì đó, lục lọi một hồi không thấy đâu, mới hỏi Nam Nam có thấy không, cháu nói cháu không biết.”

Khuất Bình lại giật mình sửng sốt.

Phải rồi, Ngận Thượng tới đây vì tấm áo, dầu không lấy được, nhưng đã xem trộm được những hiến lệnh vừa soạn thảo.

Khuất Bình mọi bữa tối mịt mới về, hôm nay trở về vào lúc này, là vì phụng vương chỉ về lấy hiến lệnh.

Sáng nay, sau khi từ biệt Trần Chẩn, Khuất Bình lập tức vào cung yết kiến Hoài Vương. Không may Hoài Vương đang bận, phải chờ tới giờ Ngọ, Khuất Bình mới được dẫn vào. Khuất Bình đem những điều Trần Chẩn nói với mình tâu lên Hoài Vương. Những lý lẽ cao thâm thông tuệ đó đã khiến Hoài Vương chấn động. Hoài Vương quyết định nghe theo Khuất Bình, tiếp tục trọng dụng Chiêu Dương, thực thi hiến lệnh. Hoài Vương hỏi tới hiến lệnh, Khuất Bình nói đã thảo xong. Hoài Vương lập tức sai người vời Chiêu Dương tới, rồi bảo Khuất Bình quay về lấy hiến lệnh, để ba người cùng bàn luận trước khi ban bố.

Nào ngờ Ngận Thượng đi trước một bước, đã đọc hết hiến lệnh rồi.

Là mệnh quan triều đình, Ngận Thượng tự ý lẻn vào nhà của tả đồ, công nhiên nói dối, lại còn đọc trộm hiến lệnh vương mệnh chưa ban bố, nếu như làm lớn chuyện, sẽ bị khép vào trọng tội xử trảm. Mặt khác, Khuất Bình cũng lấy làm hối hận vì mình quá sơ suất, không đề phòng cẩn thận, một thứ quan trọng nhường vậy mà lại để tênh hênh trong thư phòng. Lẽ ra phải mang hết tới phủ tả đồ, giao cho hàm doãn cất giữ.

Khuất Bình kiểm tra kỹ lưỡng một lượt nữa, chắc chắn là không mất mát thứ gì. Còn những hiến lệnh này, nếu như thuận lợi, chỉ hai ba hôm nữa sẽ ban bố rộng khắp, dù Ngận Thượng đã xem trộm cả, chẳng qua cũng chỉ là xem trước vài ngày mà thôi! Hơn nữa, thượng quan cũng là thân tín của đại vương, hẳn không đến nỗi…

Nghĩ tới đây, Khuất Bình cũng bớt lo lắng phần nào, liền bó hết hiến lệnh lại, chuyển cả lên trên xe, đánh thẳng tới cung thành.

Khi Khuất Bình tới nơi, Chiêu Dương đã ở trong cung, nhìn vào thần thái, vua tôi hẳn vừa trò chuyện rất tâm đầu ý hợp. Do chỉ có một bản, Hoài Vương bèn bảo Khuất Bình đọc to một lượt cho cả hai cùng nghe. Khuất Bình trải thẻ tre ra, cao giọng đọc dõng dạc. Hoài Vương, Chiêu Dương đều nhắm mắt chăm chú lắng nghe.

Đọc xong một lượt, Chiêu Dương bèn vỗ tay tỏ ý tán thưởng. Hoài Vương cười, lệnh cho Khuất Bình đọc lại từ đầu, cứ đọc một câu, lại bàn bạc một câu, lần lượt nghiền ngẫm kỹ lưỡng toàn bộ hiến lệnh.

Ba người thoạt tiên còn dè dặt cẩn trọng, nhất là Chiêu Dương, nhưng về sau càng lúc càng sôi nổi thoải mái. Chiêu Dương đã buông bỏ bản ngã, việc gì cũng nghĩ cho nước Sở và vương thất, gần như hoàn toàn tán thành bản hiến lệnh của Khuất Bình, nếu có ý khác, đều là về chuyện thực thi.

Cứ thế bàn bạc đến khi trời tối, Hoài Vương trong lòng phấn khởi, sai dọn cơm đơn giản ăn qua loa, rồi lại chong đèn bàn tiếp. Tới tận đêm khuya, ba người mới thẩm duyệt xong xuôi toàn bộ hiến lệnh. Hoài Vương, Chiêu Dương nêu ra ý kiến, Khuất Bình đều ghi chép lại cẩn thận, chỗ nào cần bàn lại, chỗ nào chưa thoả đáng, chỗ nào cần thay đổi. Đặc biệt là phần thu hồi đặc quyền về muối Ba, ô kim, cả ba hoàn toàn nhất trí, nên ai cũng hài lòng. Đến khi tiếng mõ canh ba vang lên, vua tôi mới từ biệt nhau, ai về nhà nấy.

Hôm sau, vừa sáng sớm, Tử Khải đã tìm tới phủ vương thúc, kể lại đầu đuôi chuyện ở trong cung tối qua mà mình nghe ngóng được.

Vương thúc bàng hoàng chấn động, lấy ra tấm áo mà Ngận Thượng đã sao chép hiến lệnh vào đó, đưa cho Tử Khải: “Cháu hiền hãy xem!”

Tử Khải liếc qua một lượt, chau mày: “Chữ gì mà dày sin sít lại ngoáy tít, khó đọc quá!”

“Cháu nói phải.” Vương thúc gọi quản gia lại, đưa tấm áo cho ông ta, “tìm lấy vài người, chép lại từng chữ ra thẻ tre. Phải rồi, gọi thượng quan đại nhân tới đọc cho họ chép, kẻo lại lẫn lộn.”

Quản gia vâng lời, cầm áo đi ngay.

“Chép một bản là được rồi, tìm những mấy người làm gì?” Tử Khải không hiểu.

“Than ôi,” Vương thúc chỉ vào quản gia đang bước đi, “đám chữ viết trên áo kia, chú đọc suốt đêm qua, không tài nào ngủ được!” Khẽ nhắm mắt, cười gượng gạo, “Trương Tử nói phải, đại vương, Chiêu Dương, Khuất Bình, ba người họ dứt khoát không thể kết thành một phe. Nhưng theo như cháu hiền vừa nói, tối qua họ đã kết thành bè cánh với nhau rồi.”

“Phải làm thế nào đây?” Tử Khải lo lắng hỏi.

“Hãy mời Trương Tử!” Vương thúc chậm rãi nói, “đối phó với Chiêu Dương, phải nghe theo người này!”

Tử Khải vâng lời, vội vã đi ngay.

Trương Nghi tới, chẳng đưa ra chủ ý gì, chỉ đòi mang bàn cờ lại, cùng chơi với vương thúc. Hai người chơi liền ba ván, chờ cho quản gia sao chép hết chữ trên áo ra thẻ tre, Trương Nghi mới gạt bàn cờ sang một bên, cầm lấy thẻ tre vẫn còn ướt mực, toàn thân chuyên chú đọc hết một lượt.

“Trương Tử?” Thấy Trương Nghi đặt thẻ tre xuống, vương thúc khẽ gọi.

“Vương thúc,” Trương Nghi nhìn thẳng vào vương thúc, nhếch miệng cười, chỉ ngay vào điểm trọng yếu nhất, “theo như hiến lệnh này, thì suối muối đất Ba, ô kim đất Uyển, toàn bộ sẽ phải quy hồi cho vương thất!”

“Đúng vậy.” Vương thúc mặt khó đăm đăm.

“Hiến lệnh cái quái gì?” Tử Khải đấm mạnh xuống án, “không có muối, không có sắt, chúng ta lấy gì ăn? Chuyện này mà lộ ra, mọi người lại chẳng làm loạn?”

“Nếu tại hạ đoán không lầm, đây chính là mưu của Chiêu Dương!” Trương Nghi lập tức úp tròng ngay tội trạng vào cổ Chiêu Dương.

“Mưu của Chiêu Dương?” Vương thúc ngỡ ngàng, “là quy hồi cho vương thất!”

“Vương thất do ai quản chế?” Trương Nghi tiếp lời, “không phải đại vương, mà là do phủ lệnh doãn cai quản. Trước đó, đại vương có ý để Khuất Bình thay thế Chiêu Dương, song nhìn vào chuyện hôm qua, đại vương hẳn đã đổi ý rồi. Nếu quả như Nghi dự liệu, lệnh doãn vẫn cứ là Chiêu Dương.”

“Lạ thực,” vương thúc lẩm bẩm, “cớ sao đại vương lại thình lình đổi ý? Đại vương đã bất mãn với Chiêu Dương lâu rồi!”

“Việc này chắc phải quy công cho Trần Chẩn!” Trương Nghi đáp, “sáng hôm qua, Trần Chẩn dậy rất sớm, trước tới phủ Chiêu Dương, sau tới phủ tả đồ. Thế rồi tả đồ và Trần Chẩn cùng rời khỏi phủ, tả đồ vào cung, Trần Chẩn lại quay về phủ Chiêu Dương. Tiếp đó, Chiêu Dương vào cung, tả đồ quay về nhà cỏ, rồi lại vào cung ngay. Lòng vòng qua lại như thế, quả là giàu ý vị!” Nhìn sang Ngận Thượng, “Không giấu chư vị, giờ này hôm qua, tại hạ đang toát mồ hôi lạnh thay cho Ngận huynh đấy! Nếu như Ngận huynh đi chậm một bước, tả đồ về sớm một bước, thì đã bị tả đồ bắt quả tang tại trận, tấu lên đại vương, vậy thì e rằng Ngận huynh lúc này đâu còn có thể ung dung ở đây được!”

Trương Nghi chỉ thủng thẳng đôi câu, mà Ngận Thượng đã mồ hôi như tắm.

“Xin hỏi Trương Tử, ứng phó thế nào, hẳn đã có diệu kế?” Vương thúc vòng tay, vào ngay chuyện chính.

“Hồi bẩm vương thúc,” Trương Nghi quay sang đáp lễ, “Nghi không có diệu kế, chỉ có đối sách.”

“Xin hãy nói ra.”

“Có hai đối sách,” Trương Nghi quét ánh mắt khắp lượt ba người, “thứ nhất, phục tùng vương mệnh, thuận theo tân chế tân pháp, vương thất, tông thất bắt tay hoà thuận, siết chặt hầu bao, trợ giúp đại vương và tả đồ biến pháp thành công, làm giàu cho nước, tích thảo đồn lương, phía đông giao hảo với Tề, phía tây giao tranh với Tần, dùng vũ lực đoạt lại Thương Ư, giam chặt người Tần trong Quan Trung.

“Còn cách thứ hai?” Tử Khải nôn nóng truy hỏi.

“Đối sách thứ hai,” Trương Nghi nhìn sang Tử Khải, “vương thất hợp sức, chế phục Chiêu Dương và tả đồ, buộc đại vương quay về chính đạo, làm giàu cho dân, phía tây giao hảo với Tần, phía đông giao tranh với Tề. Tần không còn lo lắng với Sở, sẽ yên tâm tranh đoạt Tam Tấn; Sở không còn lo lắng với Tần, sẽ yên tâm tranh đoạt Tứ Hạ. Đây cũng là kế sách lâu dài của Tần Vương, tại hạ sang Sở cầu thân, cũng vì chuyện này, xin chư vị hãy cân nhắc.”

“Còn cân nhắc gì nữa?” Tử Khải siết chặt tay quyền, nhìn sang vương thúc, “vương thúc, hãy nghe theo Trương Tử, làm đi!”

“Dám hỏi Trương Tử,” vương thúc khép mắt suy nghĩ chốc lát, quay sang Trương Nghi, “việc tới nước này, hẳn đã có kế hay chế phục Chiêu Dương và tả đồ?”

“Chế phục tả đồ,” Trương Nghi nhìn sang Ngận Thượng, “không còn ai khác ngoài Ngận huynh. Còn Chiêu Dương,” nhìn sang vương thúc, “cần vương thúc đích thân xuất mã!”

“Phải làm thế nào?”

Trương Nghi đưa tay vào trong ngực áo, lôi ra một túi gấm, đưa cho vương thúc: “Chế phục thế nào, ở cả trong cẩm nang này, vương thúc có thể mở ra xem.” Lại quay sang Ngận Thượng, “phiền Ngận huynh cùng tại hạ vào cung một chuyến, hãy bẩm báo đại vương, rằng sứ Tần có tin vui muốn tấu báo!”

Có được sự hỗ trợ đắc lực của Chiêu Dương, lại quyết định xong sách lược cải chế biến pháp, Hoài Vương đang hào khí ngất trời thì Ngận Thượng vào bẩm báo, sứ Tần có tin vui muốn tấu, Hoài Vương cho rằng chuyện có liên quan tới Thương Ư, lập tức truyền vào yết kiến.

“Chúc mừng đại vương!” Hành lễ xong xuôi, Trương Nghi vòng tay hô lớn.

Hoài Vương phá lên cười lớn: “Hôm nay quả là ngày vui.” Rồi ngả người về trước, “nghe nói sứ Tần có tin vui mang tới, quả nhân có thể nghe chăng?”

“Chúc mừng đại vương!” Trương Nghi lại vòng tay lần nữa.

Hoài Vương lại bật cười: “Nói đi, quả nhân rất muốn nghe tin vui từ Trương Tử!”

“Nghi đã chúc hai lần rồi!” Trương Nghi lại vòng tay, “giờ thêm một lần nữa, Nghi chúc mừng đại vương!”

“Ồ!” Hoài Vương thu lại nụ cười, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi, “Trương Tử còn chưa nói là tin vui nào, mà đã chúc mừng gì vậy?”

“Chúc mừng đại vương có chuyện vui!” Trương Nghi cười, “đại vương có chuyện vui, có lợi lớn cho Sở, Nghi sao có thể không chúc mừng?”

“Quả nhân có chuyện vui gì?” Hoài Vương ngơ ngác.

Trương Nghi cười lớn: “Chuyện vui của đại vương, khắp Sính Đô ai ai cũng biết, còn cần phải nói ra ư?”

“Ồ…” Hoài Vương càng lấy làm khó hiểu, nhìn sang Ngận Thượng, “có chuyện vui gì?”

Ngận Thượng cúi đầu không đáp.

“Nói đi!” Hoài Vương sốt ruột, lớn giọng thúc giục.

“Đại vương ban hiến bố lệnh, cải chế biến pháp, việc ngang Ngụy Văn, công sánh Tần Hiếu, đây là chuyện đại hỷ trong thiên hạ, Nghi có lời chúc mừng!” Trương Nghi lại vòng tay nói lớn.

“A…” Hoài Vương điếng người, “sứ Tần muốn nói tới chuyện quả nhân ban chiếu cắt giảm dư quan ư?”

“Chuyện cắt giảm dư quan, tuy cũng đáng mừng, song chưa đáng để chúc.”

“Sao lại chưa đáng?”

“Thứ nhất, việc này đã qua chục ngày, đã thành chuyện cũ ở Sính Đô. Thứ hai, thế tập không quá ba đời, thời tiên Điệu Vương sớm đã thực thi, nay đại vương chỉ là lặp lại, chuyện cũng bình thường, chưa thể tính là đại hỷ.”

“Vậy xin hỏi sứ Tần, đại hỷ mà sứ Tần nói tới, là chuyện gì vậy?” Hoài Vương nhìn xoáy vào Trương Nghi.

“Như Nghi vừa nói, ban hiến bố lệnh, cải chế biến pháp!”

“Quả nhân đã ban hiến gì, đã bố lệnh gì?” Hoài Vương ánh mắt bức bách.

“Ồ!” Trương Nghi thoáng ngỡ ngàng, “lẽ nào…đại vương vẫn chưa ban bố ư?”

“Quả nhân đang hỏi, quả nhân đã ban hiến gì, đã bố lệnh gì?” Hoài Vương gằn mạnh từng tiếng.

“Chính là hiến lệnh do tả đồ đại nhân mới soạn!” Trương Nghi càng ra vẻ sửng sốt, như thể đang hết sức bất ngờ trước câu hỏi vặn của Hoài Vương.

“Hiến lệnh mới soạn nào?” Hoài Vương hỏi dồn.

“Mười hai hiến, bốn mươi chín lệnh!”

“Sứ Tần…” Hoài Vương hít ngược một hơi, giơ tay chỉ vào Trương Nghi, “cớ sao lại biết?”

“Đại vương,” Trương Nghi nhún vai, “chuyện này người Sính ai ai cũng biết, Nghi sao lại không biết?”

“A!” Hoài Vương bàng hoàng kinh hãi, nhìn sang Ngận Thượng, như không dám tin vào tai mình, “Ngận ái khanh có biết?”

“Hồi bẩm đại vương,” Ngận Thượng vòng tay, “thần sớm đã nghe nói!”

“Nghe được những gì, nói mau!”

“Chính là chuyện tả đồ đại nhân phụng chỉ tạo hiến.”

“Nghe kẻ nào nói?”

“Tả đồ, chính miệng tả đồ nói ra.”

“Tả đồ…” Hoài Vương lại càng thêm chấn động, “tả đồ đã nói ở đâu? Đã nói những gì?”

“Tả đồ gặp ai cũng nói, rằng mình là đệ nhất tài tử của Đại Sở, rằng đại vương không thể thiếu được tả đồ, rằng hiến lệnh chỉ dụ của đại vương đều do một tay tả đồ soạn thảo, rằng chớ có xem thường chức lệnh doãn tạm thời, chỉ vài ngày nữa thôi, ngôi lệnh doãn sẽ là của tả đồ, rằng đã cùng đại vương tắm chung một hồ, còn được đại vương kỳ lưng cho nữa, rằng…”

Hoài Vương đập mạnh xuống án: “Đủ rồi!”

Ngận Thượng giật nảy mình, ngậm miệng im bặt.

“Ngận Thượng,” Hoài Vương tay run bắn, gọi thẳng họ tên Ngận Thượng, gằn mạnh từng tiếng, “quả nhân nói cho khanh biết, Khuất Bình không thể nói ra những lời này!”

“Thần…” Ngận Thượng dập đầu bật khóc, “thần không dám khi quân, đại vương! Nếu đại vương không tin, có thể sai người ra phố xem thử, việc Khuất Bình soạn thảo hiến lệnh, sớm đã được bàn tán khắp đầu đường xó chợ, người qua kẻ lại ngoài kia, không ai không biết!”

“Nếu đã bàn khắp đầu đường xó chợ, khanh…” Hoài Vương thở hổn hển, “hãy nói ra một lệnh thử xem!”

“Thần…” Ngận Thượng lại dập đầu. Kỳ thực, dù đã tự tay sao chép toàn bộ, song bảo hắn đọc lại, thì một câu cũng không nhớ nổi.

“Đại vương, Nghi xin đọc!” Trương Nghi khép mắt, cất giọng dõng dạc, “hiến lệnh Đại Sở, hiến thứ nhất, lệnh thứ nhất, minh hiến thẩm lệnh. Phàm pháp chế của tiên vương, đều hợp với thời của tiên vương, đều ứng với thế của tiên vương, nay thời thế thay đổi, các nước xưng hùng, liệt quốc Trung Nguyên kẻ trước người sau biến pháp cải chế, Đại Sở ta không thể khư khư giữ lề thói cũ. Vậy nên quả nhân sẽ thẩm xét hiến lệnh, loại trừ tệ cũ, để thuận với thời hiện nay, ứng với thế hiện nay…”

Tài đọc qua là nhớ của Trương Nghi lại có đất dụng võ, cứ lần lượt từng hiến từng lệnh, loáng cái đã đọc thao thao từ đầu đến cuối toàn bộ hiến lệnh mà Khuất Bình đã bỏ không biết bao nhiêu ngày tháng soạn ra. Hoài Vương và nội doãn nghe mà sửng sốt đến há hốc miệng, ngay cả Ngận Thượng cũng sững sờ kinh hãi.

Trương Nghi đọc xong, cười nói: “Đại vương, Nghi chỉ nhớ được như vậy, chắc hẳn sai nhầm không ít, xin đại vương chớ có cười chê.”

Hoài Vương mặt vàng như nghệ, trán đẫm mồ hôi.

Trong điện lặng phắc như tờ, chỉ còn lại tiếng thở phì phò của Hoài Vương.

Đã bàn luận xong với Hoài Vương và Chiêu Dương, Khuất Bình phấn chấn không sao kể xiết. Sáng hôm sau, Khuất Bình không đi đâu hết, đóng cửa trong nhà cỏ, nghiền ngẫm lại một lượt tất cả những gì ba người đã bàn bạc hôm qua, châm chước câu từ để soạn thành văn tự.

Đến quá Ngọ, Khuất Bình đã chỉnh sửa xong xuôi, thấy mọi thứ đã ổn thoả, mới sao chép lấy một bản, mang bản gốc cất kỹ. Đoạn đánh xe tới phủ tả đồ căn dặn hàm doãn kín đáo sao chép thành ba bản, một bản cất đi, ba bản bó lại thành cuốn, đóng ấn của phủ tả đồ, trình lên hàm doãn vương cung.

Khuất Bình vừa dặn dò xong, Khuất Dao đã bước vào, ghé tai thì thầm.

Khuất Bình vừa nghe, mặt liền biến sắc.

“Kỳ lạ thực,” Khuất Dao lấy làm hoang mang, “hiến lệnh vừa soạn thảo, đến tiểu đệ còn chưa từng đọc, sao người ngoài phố chợ ai ai cũng biết?”

Khuất Bình đã hiểu nguyên do, rít qua kẽ răng hai tiếng: “Ngận…Thượng…”

“Ngận Thượng?” Khuất Dao ngơ ngác, “sao kia?”

Khuất Bình đứng bật dậy, bước xồng xộc ra ngoài.

“Anh đi đâu thế?” Khuất Dao đuổi theo hỏi.

“Vào cung!” Khuất Bình vẫn bước đi, đầu không ngoảnh lại.

Trong ngự thư phòng, Hoài Vương đang ngồi ngẩn ngơ, ánh mắt đờ đẫn. Những lời của Ngận Thượng và Trương Nghi hôm trước, vẫn như văng vẳng bên tai.

Nội doãn bước vào, khẽ liếc nhìn Hoài Vương một cái, rồi nem nép đứng sang một bên.

Hoài Vương biết là nội doãn, mắt vẫn không mở, chỉ mấp máy môi hỏi: “Thế nào rồi?”

“Hồi bẩm đại vương,” nội doãn khẽ giọng bẩm tấu, “thần đã phái người đến các quán trà ngoài phố thăm dò, đúng như lời thượng quan đại nhân, người Sính đều đang bàn tán xôn xao về tân hiến…”

Hoài Vương đấm mạnh xuống án: “Khuất Bình!”

Đúng lúc đó, hàm doãn bước vào: “Bẩm đại vương, tả đồ Khuất Bình cầu kiến!”

Hoài Vương đưa tay chỉ ra ngoài, toàn thân run bắn: “Cút, bảo hắn cút mau!”

Nội doãn cuống lên, hạ giọng gọi khẽ: “Đại vương?”

Hoài Vương thở phì phì một hồi, chỉ vào nội doãn: “Đi, nói với tả đồ kia, rằng quả nhân đang bận, không rảnh để triệu kiến!”

Nội doãn vòng tay: “Thần lĩnh chỉ!”

Nội doãn đương nhiên không truyền lại nguyên văn câu nói, chỉ bảo đại vương đang bận, lúc khác lại tới. Nội doãn truyền chỉ xong, đang định đi vào, Khuất Bình kéo ông ta lại, hạ giọng hỏi: “Hãy nói thực, có phải đại vương đang giận ta không?”

Nội doãn khẽ thở dài một tiếng, thay cho câu trả lời.

Khuất Bình gấp gáp: “Ngươi hãy vào bẩm báo với đại vương, ta có điều oan khuất muốn giãi bày!”

Nội doãn lại thở dài, nói khẽ: “Tả đồ đại nhân, lúc khác hãy tới.” Đoạn quay lưng bước đi.

Khuất Bình biết là việc đã nguy cấp, bèn quỳ xuống trước cổng.

Khuất Bình quỳ từ buổi chiều, cho tới khi mặt trời xế bóng, lại quỳ tiếp đến tối, rồi tới tận canh một, vẫn không thấy một ai trong cung ra vời.

Kỳ lạ hơn nữa, cổng cung vẫn mở rộng, song không có một bóng người ra vào. Khuất Bình đoán chắc, Hoài Vương đang ở trong cung.

Sự việc đại vương nổi giận, Khuất Bình quỳ xin yết kiến nhanh chóng truyền khắp trong vương cung, chẳng mấy chốc đã bay tới miếu Vu Hàm. Nhờ Trịnh Tụ đôn đốc, không ít nơi trên đất Sở đều đã dựng miếu Vu Hàm, chỉ hiềm còn thiếu tư tế. Trịnh Tụ bèn chọn ra vài chục thanh nữ từ trong cung và trong dân gian, giao cho Bạch Vân dạy dỗ trong miếu Vu Hàm.

“Tả đồ cầu kiến, đại vương không gặp, tả đồ quỳ trước cổng cung, toàn bộ người trong cung phải ra vào bằng cổng bên. Giờ đã sang canh một, tả đồ đã quỳ suốt hai canh giờ!” Một nữ đệ tử khẽ giọng bẩm báo với Bạch Vân.

“Đại vương có trong cung không?” Bạch Vân hỏi.

“Nghe cung nữ nói, đại vương đang ở trong cung. Đại vương chỉ ngồi im một chỗ, không làm gì hết.”

“Có chuyện gì ư?”

“Thưa, không biết. Giờ Ngọ hôm nay, Ngận đại nhân và sứ Tần vào yết kiến, sau khi họ đi khỏi, đại vương thành ra như vậy.”

“Biết rồi. Hãy mau tới Nam cung, vào gặp nương nương thỉnh cầu, rằng ta muốn mượn đàn quý của nương nương dùng một chốc.”

Nữ đệ tử vội vã đi ngay, chưa đầy một khắc, đã ôm đàn của Nam hậu quay về.

Bạch Vân đón lấy cây đàn, chẳng kịp nhìn kỹ, cứ thế ôm đi.

Bạch Vân đi thẳng tới cổng chính cung Sở. Quả nhiên, Khuất Bình vẫn đang quỳ trước cổng. Bạch Vân quỳ xuống bên Khuất Bình, khẽ hỏi: “Đại nhân cớ sao lại quỳ ở đây?”

“Vì tiểu nhân Ngận Thượng.” Khuất Bình rầu rĩ đáp.

“Kẻ đó làm sao?”

“Hắn lẻn vào nhà cỏ, lấy trộm hiến lệnh tại hạ vừa soạn thảo, rồi rêu rao khắp Sính Đô, vì thế mà đại vương nổi giận.

“Kẻ đó đã cùng sứ Tần vào yết kiến đại vương vào giờ Ngọ!” Bạch Vân buông một câu, đoạn đứng dậy, ôm đàn khoan thai bước vào trong cổng.

Bạch Vân không cho bẩm báo, cứ thế đi thẳng vào trong cung, giậm mạnh bước chân.

Hoài Vương đang ngồi ủ rũ, chợt nghe thấy tiếng động lạ thường, vội ngẩng đầu nhìn, thấy là Bạch Vân, đầu óc bỗng phấn chấn hẳn, mở bừng hai mắt, nhìn nàng chằm chằm. Toàn bộ cung nhân, gồm cả nội doãn, đều không ngờ được tư tế lại không mời mà tới, mọi ánh mắt cùng đổ dồn vào nàng.

Bạch Vân ôm đàn bước tới trước án Hoài Vương, vòng sang bên trái, ngồi xuống một chiếu trống, bày đàn.

Hoài Vương biết rõ nàng tới đây vì cớ gì, cố tình khép mắt lại, ra bộ dửng dưng, song chốc chốc vẫn he hé mắt, liếc về phía nàng.

Bạch Vân đã thấy rõ rành rành.

Bạch Vân bày đàn, so dây xong, ngồi ngay ngắn, hai tay hạ xuống phím đàn, song dây đàn không hề rung động.

Hoài Vương chờ đợi tiếng đàn, song mãi vẫn không thấy đàn ngân.

Trong cung lặng phắc như tờ.

Hoài Vương không nhịn nổi nữa, lại kín đáo liếc Bạch Vân một cái, rồi nhắm chặt mắt lại, cố tình bật ra tiếng khò khò qua lỗ mũi.

Bạch Vân nghe rõ rành rành, thình lình gảy mạnh dây đàn, bật lên vài tiếng đanh sắc chói chang. Hẳn là do vận lực quá mạnh, tiếng gảy cuối cùng vừa vang lên, một dây đàn liền đứt phựt.

Tiếng đàn quái lạ khiến tất thảy những người có mặt đều giật nảy mình, ngơ ngác hốt hoảng, nhất là tiếng dây đứt sau cùng.

Hoài Vương thất kinh, hai mắt mở choàng nhìn xoáy tới, giọng nói không vui: “Tư tế đấy ư, sao lại tới đây?”

“Hổi bẩm đại vương,” Bạch Vân dõng dạc đáp, “là đại thần Vu Hàm lệnh cho Bạch Vân tới.”

“Ồ?” Nghe nhắc tới đại thần, Hoài Vương vô thức ngồi thẳng dậy, “đại thần Vu Hàm bảo tư tế tới làm gì?”

“Đàn cho đại vương!”

“Tư tế…đàn đi, quả nhân rửa tai cung kính lắng nghe!”

“Đã gảy rồi!”

“Là mấy tiếng vừa nãy ư?” Hoài Vương sửng sốt.

“Chính phải.”

“Sao chói tai làm vậy?”

“Không chói tai, không thể thức tỉnh vua Đại Sở!”

“Đánh thức quả nhân?” Hoài Vương ngỡ ngàng, “quả nhân đã ngủ rồi ư?”

“Đại vương chưa ngủ, mà là hồ đồ, là mê muội!”

“Tư tế…” Hoài Vương giận dữ, ánh mắt như đuốc, chiếu thẳng vào Bạch Vân, một lúc lâu sau, mới từ từ thở ra một hơi, “hãy nói, quả nhân hồ đồ mê muội thế nào?”

“Là vua của Đại Sở, mà không biết làm rõ trắng đen phải trái, chỉ nghe lời một phía, bưng tai bịt mắt giữa triều đường, cự tuyệt trung thần ngoài cổng điện, lẽ nào không phải hồ đồ mê muội?”

Hoài Vương đưa tay chỉ vào nàng, ngón tay run bắn: “Quả nhân nào có…” Bỗng sực nhớ tới Khuất Bình, có phần sượng sùng, quay sang nội doãn, “truyền chỉ, cho người đang quỳ trước cổng cung kia vào yết kiến!”

Từ trong cung trở về, suốt dọc đường, Ngận Thượng lầm lì không nói không rằng.

Ngận Thượng hiểu rõ, mình đã bị đẩy vào một canh bạc không thể né tránh, không chỉ tương lai của bản thân, tương lai của gia tộc, mà ngay cả tính mạng của chính mình cũng đều đặt cược hết vào canh bạc này.

Sở dĩ Ngận Thượng liều mình đánh cược cả gia tộc và mạng sống, là bởi đã nắm chắc phần thắng. Phần thắng đó không phải nằm trong tay Ngận Thượng, không phải nằm trong tay vương thân quý tộc như vương thúc, Tử Khải, cũng không phải trong tay người Tần Trương Nghi, mà là ở phe đối diện trong canh bạc này, Hoài Vương, Chiêu Dương và Khuất Bình. Là tả hữu thân tín của Hoài Vương không dưới hai mươi năm qua, Ngận Thượng quá hiểu Hoài Vương; lại cùng Chiêu Dương minh tranh ám đấu hơn chục năm năm trường, cũng đã quá hiểu Chiêu Dương. Đại vương không phải người làm nên đại sự, Chiêu Dương đã già rồi, còn như Khuất Bình, Ngận Thượng xưa nay vốn chẳng coi ra gì trong mắt.

Tuy nhiên, giống như đại vương, Ngận Thượng cũng là kiểu người không thể làm đại sự, bản thân hắn cũng hiểu rất rõ điều này. Không thể làm đại sự, đại sự lại giáng xuống đầu. Khi Trương Nghi, vương thúc đẩy Ngận Thượng vào chỗ đứng mũi chịu sào, Ngận Thượng đã cảm thấy quá sức chịu đựng. Khi tai mắt trong cung tới báo tin, Khuất Bình vào cung, quỳ trước cổng điện cầu kiến đại vương, Ngận Thượng lại càng hoang mang bấn loạn, vội vã tìm tới phủ vương thúc.

Suốt cả buổi chiều, cho tới tận canh một, Ngận Thượng không rời khỏi phủ vương thúc nửa bước. Trấn an hắn là ba người vương thúc, Trương Nghi và Tử Khải, bên cạnh còn có Thiên Hương, Thu Quả, bốn hoa khôi của lầu Phẩm Hương hầu hạ. Bốn người cùng chơi trò ném thẻ vào bình, song tâm tư ai cũng chẳng hề để vào trò chơi.

Gần tới canh hai, quản gia của Ngận Thượng thở hổn hển chạy vào trong phủ, báo tin đại vương cho triệu gấp, đòi Ngận Thượng vào cung yết kiến lập tức.

Ngận Thượng sắc mặt trắng bệch. Nói gì thì nói, Ngận Thượng đã ngồi trong nhà cỏ của Khuất Bình suốt hai canh giờ, tân hiến của Khuất Bình bày ngay trước mắt, sự thực đã rõ rành rành không thể chối cãi.

Ngận Thượng nhìn sang vương thúc.

Vương thúc nhìn sang Trương Nghi.

“Ngân huynh,” Trương Nghi nhìn sang Ngận Thượng, “đi đối chứng đi. Hãy nhớ, khăng khăng tới cùng!”

“Khăng khăng thế nào?” Ngận Thượng hỏi.

“Sự việc hôm qua.” Trương Nghi nhìn thẳng vào Ngận Thượng, “từ giờ Mão hôm qua, Ngận huynh cùng Nghi đi câu cá bên hồ, buổi trưa cùng nướng cá ăn, Ngận huynh còn bị hóc xương cá, phải không?”

“Tại hạ bị hóc?” Ngận Thượng sửng sốt.

“Đúng rồi, hóc một cái xương dăm lớn, không sao khạc ra nổi, có cơ nguy đến tính mạng, tại hạ lấy làm kinh sợ, vội cho đánh xe đi gấp, đưa Ngận huynh tới gặp thầy lang, ở hiệu thuốc tại ngã ba Thành Tây. Thầy lang cho Ngận huynh nằm xuống giường, dùng cây kẹp nhỏ, gắp từ trong họng Ngận huynh ra một cái xương dài bằng này, đúng không?” Trương Nghi đưa tay làm hiệu.

Tất cả mọi người đã hiểu ra ý của Trương Nghi.

“Nhưng…” Ngận Thượng vẫn không thôi thấp thỏm.

Trương Nghi khẽ cười vài tiếng, nhìn sang Thiên Hương: “Đi mời thầy lang gắp xương cá lại đây!”

Thiên Hương đi ra, một lát sau quay lại, dẫn theo một người.

Người đó cầm trong tay một cái xương cá, bảo Ngận Thượng chìa ngón tay ra rồi nhắm mắt lại, sau đó cầm xương cá đâm vào đầu ngón tay cho chảy máu, để máu nhuốm đỏ mẩu xương.

Xong xuôi, thầy lang cẩn thận bọc mẩu xương cá lại, vái chào lui ra.

“Ngận huynh,” Trương Nghi cười nói, “giờ đã yên tâm rồi chứ, có nhân chứng, có vật chứng rành rành, cứ tha hồ mà đối chứng!”

Ngận Thượng nhìn sang vương thúc.

“Thượng quan đại nhân,” vương thúc vòng tay, “cứ yên tâm đi đi, theo lời Trương Tử, khăng khăng tới cùng. Cứ làm tới cùng, việc sẽ sáng tỏ. Còn như lấp lửng, sẽ thành mơ hồ!” Rồi chỉ vào mình, “vương thúc ở đây chờ tin tốt lành!”

Ngận Thượng không nói thêm gì nữa, vòng tay từ biệt, sải bước đi ra.

Thấy Ngận Thượng đã đi xa rồi, vương thúc nhìn sang Trương Nghi.

“Vương thúc, đã tới lúc chơi trò trong túi gấm rồi!” Trương Nghi nhắc nhở.

“Cháu hiền,” vương thúc quay sang Tử Khải, “đi mau, đánh thức mấy chú của cháu dậy, chuyển lời vương thúc, triệu tập tộc binh, khí giới sẵn sàng, chuẩn bị xuất phát!”

Tử Khải vâng lời, vội vã đi ngay.

Ngận Thượng đi tới vương cung, sớm đã có cung nhân chờ sẵn, dẫn vào thiên điện, cũng chính là nơi mà hắn đã cùng Trương Nghi vào yết kiến trưa nay.

Trong điện không có ai khác, Hoài Vương ngồi ở chiếu chủ, sắc mặt tối sầm. Ngồi ở chiếu khách bên phải là Khuất Bình, phía bên trái, tít đằng xa, Bạch Vân đang ngồi gảy đàn, tiếng đàn ngắt quãng, chốc chốc mới vang lên một tiếng, khuấy động bầu không khí căng thẳng đến ngột ngạt.

“Thần khấu kiến đại vương!” Ngận Thượng bước vào, dập đầu hô.

“Ngận Thượng,” Hoài Vương ánh mắt như đuốc, nhìn chằm chằm vào Ngận Thượng, “hãy nói, hôm qua khanh đã làm gì?”

“Hôm qua?” Ngận Thượng ngẩng đầu, vòng tay đáp, “hồi bẩm đại vương, hôm qua thần phụng vương mệnh đưa sứ Tần Trương Nghi ra ngoài thành câu cá!”

“Câu cá?” Hoài Vương ngỡ ngàng, hai mắt trợn tròn, “vào lúc nào?”

“Nhìn sắc trời, có lẽ là giờ Mão. Thần không nhớ chính xác cho lắm, là do sứ Tần nổi hứng mời thần tới.” Ngận Thượng đã quyết một liều ba bảy cũng liều, nên lại không còn run sợ, “sứ Tần ở mãi trong dịch trạm thấy buồn chán, nên sai người mời thần tới. Thần phụng vương mệnh đón tiếp sứ Tần, nên không thể không đi.”

“Câu cá ở đâu? Câu tới lúc nào?” Hoài Vương hỏi dồn.

“Ra khỏi cổng Tây ba mươi dặm, có một đầm nước, sứ Tần thường tới đó câu cá. Chúng thần giờ Mão rời thành, ở đó đến tận giờ Thân buổi chiều…” Ngận Thượng dừng lại, nhìn sang Hoài Vương, “dám hỏi đại vương, không biết chuyện này…”

Hoài Vương nhìn sang Khuất Bình, ánh mắt hồ nghi.

“Ngận Thượng…ông nói dối!” Khuất Bình sớm đã giận dữ tới mặt mày trắng bệch, trỏ mặt hắn quát lên, ngón tay run rẩy.

“Tả đồ đại nhân,” Ngận Thượng giả bộ kinh ngạc, “hạ quan nói dối gì kia?”

“Ông…” Khuất Bình lớn giọng, “giờ Mão hôm qua, ông tới phủ tả đồ, đại doãn, hàm doãn trong phủ đều có thể làm chứng!”

“Tả đồ đại nhân,” Ngận Thượng cười nói, “đúng là hạ quan có tới phủ tả đồ thực, là vì vụ án của Chiêu Thử. Đại vương lệnh cho hạ quan trợ giúp tả đồ điều tra, mà chứng cớ quan trọng của vụ án là tấm áo của Chiêu Thử. Hạ quan lại chưa được tận mắt nhìn thấy áo này, nên muốn tới phủ mượn xem cho kỹ, rồi cùng tả đồ đại nhân bàn bạc. Nào ngờ tả đồ không có trong phủ, tấm áo cũng không thấy đâu. Hạ quan đành phải hồi phủ, vừa về tới phủ thì nhận được thư mời của sứ Tần, bèn tới ngay dịch quán. Sứ Tần đã đóng xe chờ sẵn, hạ quan bất đắc dĩ, đành phải đi cùng sứ Tần.”

“Ông nói dối!” Khuất Bình lại càng giận uất, vỗ mạnh xuống án, “ông không hề về phủ, mà đã đánh xe thẳng tới nhà cỏ ngoại ô của ta, nói là tìm ta. Lão bộc bảo rằng ta đi vắng, đến tối mới về. Ông lại nói dối là có hẹn với ta, rằng ta sắp về, muốn vào nhà ngồi đợi. Lão bộc biết ông là thượng quan đại nhân trong triều, nên mới sai con bé Nam Nam dẫn ông vào nhà ngồi đợi. Ông đến nhà ta vào giờ Ngọ, ngồi lì trong thư phòng của ta suốt hai canh giờ.

Con bé Nam Nam không biết ông, ngồi đó canh chừng thì ông lại đuổi con bé ra ngoài, để ông muốn làm gì thì làm trong đó! Con bé ngồi chờ ngoài cửa cho đến tận khi ông bước ra. Chuyện rõ rành rành như ban ngày, ông đừng hòng chối cãi!”

“Ối chao ôi,” Ngận Thượng nghe vậy thì đấm ngực thùm thụp, khóc rống lên, “trời cao đất dày ơi…” Gào liền vài tiếng, rồi quay sang Hoài Vương dập đầu bình bịch, “đại vương, thần theo hầu đại vương đã hai mươi năm có lẻ, nào đã bao giờ nói dối nửa lời? Thần không quản sớm hôm, dốc lòng vì vương mệnh, ứng phó với sứ Tần, đâu có rảnh rỗi để lân la ra tận ngoại ô! Thần đối với đại vương, một lòng tận tuỵ, cẩn trọng cung kính, nào dám to gan tự tiện lẻn vào nhã xá của tả đồ, xem trộm hiến lệnh của đại vương! Tả đồ đại nhân quyền cao chức trọng, nay khăng khăng đổ riệt cho thần vào nhà xem trộm, thần dù có nhảy xuống đầm Vân Mộng cũng không thể rửa sạch oan này.”

“Thượng quan đại nhân,” Khuất Bình cười nhạt, “Khuất Bình còn chưa hề đả động một lời tới chuyện ông xem trộm hiến lệnh của đại vương đâu đấy!”

Ngận Thượng giật nảy, biết mình lỡ lời, đảo con ngươi một vòng, lại khóc rống lên: “Đại vương, đại vương nửa đêm canh ba triệu thần tới đây hỏi chuyện hôm qua, tả đồ thì một mực đổ riệt cho thần lẻn vào nhà cỏ, ngồi trước thư án, vậy thì chẳng phải chính vì chuyện hiến lệnh hay sao? Tả đồ soạn hiến lệnh cho đại vương, đại vương tuy không nói với thần, thần không biết được, nhưng người Sính Đô không ai không biết. Sáng hôm nay, sứ Tần cũng đã nói rồi…Chao ôi, thần không nói nổi nên lời, oan ức của thần, thực không cách nào bày tỏ…Đại vương, thần chỉ còn cách dùng cái chết để chứng minh lòng trong sạch mà thôi, đại vương…”

“Tả đồ?” Hoài Vương nghe Ngận Thượng giải thích rành rọt, cũng thấy đầu óc rối loạn, bèn nheo nheo mắt, nhìn sang Khuất Bình.

“Ngận Thượng,” Khuất Bình lúc này đã nhìn thấu mưu đồ của Ngận Thượng, trong lòng ớn lạnh, nghiến răng mà nói, “ý ông muốn nói, Khuất Bình vu oan cho ông ư?”

“Khuất Bình,” Ngận Thượng bất chợt đưa tay quẹt ngang dòng nước mắt, cũng lớn giọng quát lên, “bắt trộm phải có tang chứng, bắt gian phải bắt cả đôi, nếu không phải vu cáo, thì ông đưa bằng chứng ra đây!”

“Bằng chứng chính là lão bộc và con bé gái trong nhà ta!” Khuất Bình dõng dạc, “ông tới vào giờ Mão, nói dối là đã hẹn trước với ta, để vào trong nhà lục lọi tấm áo dính máu nhưng không thấy, lại thấy thẻ tre trên án, biết là hiến lệnh nên tìm cách đuổi Nam Nam ra ngoài, rồi ngồi đó sao chép lại. Hôm nay ta về nhà quan sát kỹ, thấy nghiên mực đã có người động chạm, bút lông đã có người lấy dùng, mực ta mài sẵn một nghiên đầy, mà giờ cạn trơ đáy. Còn nữa, con bé Nam Nam ngồi ngay trước cửa, lúc nào cũng để mắt tới ông!”

“Hừm,” Ngận Thượng cười nhạt, “cứ tưởng là bằng cớ kinh thiên động địa thế nào kia, hoá ra là một đứa bé ranh con trong nhà tả đồ!” Nói đoạn, đưa tay trỏ vào Khuất Bình, đanh giọng mà gằn từng tiếng, “họ Khuất kia, Ngận Thượng này cùng ngươi thờ chung một chủ, không thù không oán, cớ sao ngươi lại muốn hại chết ta? Nếu ngươi đã có bằng cứ chém đinh chặt sắt, cớ sao đêm qua không lập tức vào cung tấu báo, mà phải đợi tới hôm nay, khi đại vương đã nghe thấy tin đồn khắp hang cùng ngõ hẻm, mới lu loa đổ vạ? Đại vương tín nhiệm ngươi, lệnh cho ngươi soạn thảo hiến lệnh, mà hiến lệnh lại bị người ta trộm mất ngay giữa ban ngày ban mặt, đây là chuyện hệ trọng tày trời, vậy thì hà cớ gì mà ngươi lại không lập tức tấu báo lên đại vương?”

“Ông…ông…tiểu nhân bỉ ổi…” Khuất Bình chỉ mặt Ngận Thượng, uất đến nghẹn lời, “ta…ta nể ông là cận thần của đại vương, thương xót tính mạng già trẻ lớn bé trong nhà ông, nhất thời mềm lòng, mới có ý giấu giếm cho ông, nào ngờ ông…ông lại…”

Ngận Thượng lại phủ phục xuống, hai tay vỗ đất, rống lên khóc lớn: “Đại vương, đại vương đã nghe thấy cả rồi, thần giờ đây…thần giờ đây có nhảy xuống đầm Vân Mộng cũng không rửa sạch nỗi oan khiên, thần chỉ còn biết dùng cái chết để chứng minh trong sạch, đại vương…” Lời vừa dứt, liền đứng bật dậy, liếc về phía nội doãn đang đứng, rồi cắm đầu lao thẳng về phía cây cột bên nội doãn.

Nội doãn vội đưa tay ra, giữ chặt lấy Ngận Thượng.

Khuất Bình uất hận đến xây xẩm mặt mày.

Bạch Vân ngồi bên cây đàn, chứng kiến toàn bộ, cảm thấy lợm giọng, vội lại phía sau cây cột nôn khan.

“Đại vương,” Ngận Thượng giãy khỏi tay nội doãn, lại quỳ sụp xuống trước mặt Hoài Vương, “thần thỉnh cầu hãy cho phủ tư bại điều tra rõ ràng, hai bên cùng đưa ra chứng cứ. Thần và sứ Tần hôm qua câu cá ở ngoại ô, buổi trưa nổi lửa giữa trời nướng cá ăn, chẳng may bị hóc xương, xương cá kẹt ngay cổ họng, vô cùng đau đớn. Sứ Tần kinh hãi, vội đánh xe đưa thần vào Sính, đến chỗ thầy lang chữa trị. Thầy lang tìm cách gắp xương cá khỏi cổ họng thần, từ lúc đi cho tới lúc về, vừa có nhân chứng, lại có vật chứng, không sợ đối chứng, mong đại vương giúp thần rửa nỗi oan này!”

“Các người…các người…” Hoài Vương giận dữ, hơi thở phì phò, một tay bịt tai, một tay chỉ ra ngoài cửa, gần như gầm lên, “đi, đi hết, đi hết cho ta!”

Nội doãn tiến lại, một tay đẩy Khuất Bình, một tay đẩy Ngận Thượng, xô hai người ra khỏi cung.

Bạch Vân lại oẹ liền mấy tiếng. Hoài Vương thở phì phì một hồi, rồi nhìn sang nàng, thoáng ngạc nhiên: Tư tế…sao vậy?”

Bạch Vân đáp: “Buồn nôn!”

Hoài Vương vội quay sang cung doãn: “Mau, truyền ngự y!”

“Bạch Vân…muốn xuất cung!” Bạch Vân đứng dậy, rồi cứ thế bước thẳng ra ngoài.

“Tư tế?” Hoài Vương gọi giật.

Bạch Vân đứng lại, ngoảnh đầu nhìn Hoài Vương.

Hoài Vương lại phẩy tay: “Đi đi!” Giọng nói chợt trở nên não nề, “các người…đi hết đi, đi đi…” Đoạn gắng gượng đứng dậy, lảo đảo bước về phía cửa bên.

Hoài Vương đi thẳng tới Nam cung, đờ đẫn ngồi phịch xuống giường Trịnh Tụ, hai tay ôm đầu, từ trong miệng bật ra những tiếng lạ lùng, như khóc mà không phải khóc, như cười mà không phải cười.

Trịnh Tụ vốn dĩ cũng đang theo dõi sát sao sự việc, lúc này cũng nghẹn ngào, quỳ sụp xuống đất, ghé lại bên Hoài Vương, đưa bàn tay thon thả vuốt ve khuôn mặt gân guốc đến biến dạng.

“Ái phi…” Hoài Vương ngẩng đầu nhìn nàng, khoé mắt ứa hai hàng lệ.

Đêm đã về khuya, phủ Kỷ Lăng Quân canh gác nghiêm ngặt. Trong phủ đèn đuốc sáng trưng, bóng người qua lại rậm rịch, trên bãi cỏ không ít người tay thương tay đao, hoặc mài xoèn xoẹt, hoặc lau hí hoáy, hoặc nấu cơm, hoặc trữ lương, hoặc cho ngựa ăn, hoặc đóng xe ngựa, hoặc sắp túi tên…Chốc chốc lại có thêm trai tráng tìm đến, sau khi tra hỏi xong xuôi, đều được dẫn vào trong phủ.

Tất cả đều tuần tự quy củ, không chút ồn ào.

Một cỗ xe ngựa vùn vụt lao tới, đỗ xịch lại ngoài cổng phủ. Hai người xuống xe, vào thẳng trong cổng.

Là Ngận Thượng mới từ trong cung trở ra, và Tử Khải đi đón.

Nhìn thấy cảnh tượng trong phủ, Ngận Thượng hoang mang kinh hãi, kéo giật vạt áo Tử Khải, khẽ giọng hỏi dồn: “Đang làm gì vậy?”

Tử Khải “suỵt” một tiếng, chỉ về phía sảnh chính.

Hai người sải bước đi tới sảnh chính, thấy trong sảnh ngồi ngay ngắn hơn chục tráng hán, ai nấy đều giáp trụ kín mít, nai nịt gọn gàng, sắc mặt nghiêm trang.

Trông thấy Tử Khải, không khí bỗng chốc trở nên nhộn nhạo, toàn bộ đám tráng hán đều đứng bật dậy tựa lò xo, xúm lại vây quanh Tử Khải, nhao nhao mỗi người một câu:

“Công tử, xin hãy bẩm lên vương thúc, người đã tề tựu đông đủ! Nhà tôi có ba nghìn, ba trăm ở trong thành, hai nghìn bảy ở ngoài thành!”

“Công tử, nhà tôi tám nghìn, trong phủ năm trăm, ở Kinh Môn bảy nghìn năm trăm, giáo mác đã sẵn sàng, chỉ chờ vương thúc hạ lệnh!”

“Nhà tôi ba vạn, đều ở đất phong, tôi đã phái ngựa về báo tin, chỉ chục ngày là tới Sính!”

“Mẹ kiếp, không cho chúng ta đường sống, thì cũng đừng mong được sống!”

“Thanh trừng gian thần bên vua, trừ diệt Khuất Bình!”

“Diệt họ Chiêu, trừ ba họ!”

“Hãy mau báo lên vương thúc, nhanh chóng hạ lệnh, chúng tôi không chờ được nữa rồi!”

Tử Khải đưa mắt nhìn khắp lượt, phẩy tay với mọi người, chỉ xuống chiếu, rồi kéo Ngận Thượng băng qua sảnh chính, đi tới gian phòng bên cạnh.

Là phòng khách riêng của vương thúc.

Tử Khải đẩy mở cửa, thấy vương thúc đang ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, hai mắt khép hờ. Ngồi trên chiếu khách là Trương Nghi, Bành Quân, Xạ Cao Quân.

Trương Nghi cũng hai mắt nhắm nghiền, chỉ có Bành Quân, Xạ Cao Quân vẫn mở mắt, thấy hai người bước vào, vội chìa tay mời ngồi.

Tử Khải, Ngận Thượng ngồi xuống hai chiếu trống, cùng nhìn vương thúc.

“Ngận huynh khải hoàn, Nghi có lời chúc mừng!” Trương Nghi vòng tay, mở mắt, nhìn sang Ngận Thượng lên tiếng.

“Nhờ phúc của Trương huynh!” Ngận Thượng đáp lễ.

“Thượng quan đại nhân đã phải kinh hãi rồi!” Vương thúc nhìn sang Bành Quân, “mau dọn rượu lên, giúp thượng quan đại nhân trấn an!”

Bành Quân vâng dạ, nhanh chóng đi ra.

“Thượng quan đại nhân có thể kể lại sơ qua chuyện trong cung cho mọi người cùng biết được chăng!”

“Hạ quan…than ôi!” Ngận Thượng thở dài, cúi gục đầu xuống.

“Bẩm vương thúc, cháu xin kể thay!” Tử Khải kể lại vắn tắt một lượt câu chuyện mà Ngận Thượng vừa kể trên đường đi, đoạn nói, “thượng quan đại nhân và Khuất Bình, ai cũng có lý do, ai cũng có chứng cứ, ai cũng to tiếng tranh cãi, phụ vương nghe mà rối loạn, giận dữ đuổi luôn thượng quan đại nhân lẫn Khuất Bình đi, và cả tư tế kia nữa. Giờ này hẳn là phụ vương vẫn đang ở trong cung Trịnh phi mà dằn vặt!”

Bành Quân sửa soạn rượu thịt xong, đẩy mở cửa bước vào: “Vương thúc, hãy hạ lệnh đi, mọi người không chờ thêm được nữa!”

Vương thúc liếc nhìn hắn: “Hạ lệnh gì?”

“Ồ?” Bành Quân sửng sốt, “chẳng phải đã nói thanh trừ gian thần, tiêu diệt gian tặc bên vua đó ư? Trừ Khuất Bình, trừ Chiêu Dương, trừ ba họ…”

Vương thúc nghiêm giọng quát lớn: “Hồ đồ!”

“A…” Bành Quân ngỡ ngàng nhìn sang Tử Khải.

Trương Nghi khẽ cười lên vài tiếng, cũng nhìn sang Tử Khải: “Người quang minh không làm chuyện mờ ám. Đã là giết gian tặc, thì công tử cứ công khai tin tức, cho gian tặc biết mà đề phòng mới phải!”

Tử Khải càng thêm ngơ ngác, nhìn sang vương thúc: “Vương thúc?”

“Đi sắp xếp đi,” vương thúc phẩy tay, “tất cả nghe theo Trương Tử.”

Đêm đã về khuya.

Trong phủ Chiêu Dương cũng không hề yên ả, người qua kẻ lại nhộn nhạo, đèn đuốc sáng trưng.

Hình Tài từ bên ngoài đi vào, thẳng tới sảnh chính, theo sát sau lưng là Trần Chẩn.

Chiêu Dương ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, sắc mặt nghiêm nghị, đám Chiêu Tuy, Chiêu Đà, Chiêu Lý ngồi bên, nhấp nhổm bồn chồn.

Nhìn thấy Trần Chẩn bước vào, Chiêu Dương lập tức đứng dậy, vòng tay đón: “Trần huynh, cuối cùng cũng đợi được huynh tới!”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở hắt ra, “đáng lẽ tới lâu rồi, nhưng con bé bị sốt, tại hạ không thể đi ngay.” Nói rồi ngồi xuống chiếu khách, nhìn sang Chiêu Dương, “nghe nói là có chuyện?”

“Phải.” Chiêu Dương chỉ ra bên ngoài, “họ sắp động thủ rồi.”

“Vậy sao?” Trần Chẩn đưa mắt nhìn khắp lượt những người có mặt, “họ động thủ thế nào?”

“Bẩm Trần thúc,” Chiêu Tuy vòng tay đáp, “tại Sính Đô không dưới vài nghìn người, tụ tập cả về vài phủ, đều giáp trụ sẵn sàng, khí giới lăm lăm. Hơn chục vương thân lúc này đang tề tựu trong phủ trạch của vương thúc.”

“Hẳn là là chuyện của thượng quan và tả đồ?”

“Chính phải.” Chiêu Tuy đáp, “vì muốn cướp lấy tấm áo của Chiêu Thử, nên hôm qua, thượng quan trước tiên tới phủ tả đồ, sau đó lần tới nhà cỏ, nhưng là tấm áo đang ở trong cung, thượng quan tìm không thấy, song lại vừa hay trông thấy tân hiến tả đồ soạn xong bày trên mặt án, bèn sao trộm một bản mang đi. Đám vương thúc bèn mang hiến lệnh đi rêu rao khắp nơi, Trương Nghi sáng nay vào cung chúc mừng đại vương chuyện cải chế, đại vương kinh ngạc hỏi Ngận Thượng, thì Ngận Thượng nói rằng tả đồ khoe khoang khắp nơi, người Sính ai ai cũng biết. Đại vương cho người đi thăm dò, chứng thực là vậy, bèn nổi giận với tả đồ. Tả đồ lúc đó cũng nghe thấy tin đồn, biết là do Ngận Thượng gây ra, vì nô bộc trong nhà tả đồ đã nói, hôm qua Ngận Thượng ở lì trong thảo đường suốt hai canh giờ, ngồi trước thư án xem hiến lệnh. Tả đồ vào cung tấu báo, đại vương nửa đêm cho gọi Ngận Thượng, Ngận Thượng dứt khoát không nhận, hai người tranh cãi trước mặt đại vương. Đại vương nổi giận, đuổi cả hai ra ngoài.”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài, “Đại Sở sắp bị hại chết trong tay Ngận Thượng kia rồi.” Nhìn sang Chiêu Dương, “vương thúc mài đao xoèn xoẹt, không phải vì tả đồ, mà e là và Chiêu huynh đó.”

“Phải!” Chiêu Dương nặng nề đáp.

“Hẳn là bởi đám vương thúc đã biết được hôm qua Chiêu huynh vào cung, bàn mưu cùng đại vương và tả đồ.”

“Hừm,” Chiêu Dương cười nhạt, nếu như động võ, bọn họ còn non lắm!” Quay sang Chiêu Đà, “người đã tới đông đủ chưa?”

“Đông đủ cả rồi!” Chiêu Đà khẽ giọng đáp.

“Hình Tài,” Chiêu Dương quay sang Hình Tài, “tập hợp toàn bộ gia bộc, phân phát binh khí!”

Hình Tài “vâng” một tiếng, hối hả đi ngay.

Chiêu Dương nhìn sang Chiêu Tuy: “Tuy Nhi, hãy lập tức tới Cảnh phủ, Khuất phủ, cầu kiến Cảnh Thuý, Khuất Cái, nói rằng ta có lời mời!”

“Còn tả đồ thì sao?” Chiêu Tuy lo lắng hỏi.

Chiêu Dương nhìn sang Trần Chẩn.

“Chỗ tả đồ, cứ để tại hạ sang.” Trần Chẩn nói rồi đứng dậy đi luôn.

Sau khi rời khỏi vương cung, Khuất Bình không về nhà cỏ, thứ nhất đã quá muộn, thứ hai đường quá xa, thứ ba bởi đang phẫn uất khó kham.

Khuất Bình tới thẳng phủ tả đồ cách vương cung không xa, đi cùng là Bạch Vân.

Khuất Bình gọi mở cổng, vào thẳng hậu đường.

Sớm đã có sai nha châm đèn, sắp xếp tắm rửa và chỗ ngủ. Song Khuất Bình chẳng hề buồn ngủ.

Khuất Bình không thể ngờ được trong đêm nay, lại gặp phải một kẻ vô sỉ tráo trở như thượng quan Ngận Thượng! Hắn dám thêu dệt cả một câu chuyện hoang đường trước mặt đại vương, ngang nhiên đổi đen thành trắng, biến giả thành thật, nói có thành không, nói không thành có.

Lại nghĩ tới chuyện thượng quan Ngận Thượng đã kề cận bên Hoài Vương ngay từ khi mình mới lọt lòng, phò tá Hoài Vương suốt hai mươi năm, Khuất Bình đầu óc tê dại.

Bên tai Khuất Bình chợt vang lên giọng nói của người chú Khuất Cái: "…Cháu hiền ngây thơ quá! Cháu thực sự không nhận ra ư? Cháu thực sự không hiểu Sính Đô đang xảy ra chuyện gì ư?”

Phải, Khuất Bình đã quá ngây thơ!

Khuất Bình đi đi lại lại trong phòng, bên tai lại vang lên những lời của Trần Chẩn hôm trước.

Trong lúc Khuất Bình đi tới đi lui, Bạch Vân đã châm hương, rồi lẳng lặng ngồi xuống chiếu, hai mắt khép hờ, ngưng thần tĩnh khí, dường như đã gạt hết mọi điều phiền nhiễu mà thông linh với đại thần Vu Hàm.

Ngoài phố lớn thỉnh thoảng lại có tiếng bước chân rầm rập chạy qua, tiếng xe ngựa lịch xịch, nhưng không nghe thấy tiếng người.

Âm thanh mỗi lúc càng thêm hỗn độn, mỗi lúc càng thêm cấp tập. Khuất Bình đang lấy làm kinh ngạc, chợt nghe tiếng cổng mở, Khuất Dao dẫn theo Trần Chẩn hối hả bước vào.

“Tiên sinh, Dao đệ…” Khuất Bình nhìn hai người, ánh mắt dò hỏi.

Trần Chẩn khẽ cười, vẫn là điệu cười thản nhiên thường lệ, “thực khéo trùng hợp, Chẩn muốn qua thăm tả đồ, đang định gõ cửa, bỗng một người lao tới như bay, Chẩn còn ngỡ là kẻ xấu, nào ngờ lại là đại doãn!”

“Thưa anh, có chuyện lớn rồi!” Khuất Dao sắc mặt căng thẳng.

“Chuyện gì?” Khuất Bình vội hỏi.

“Anh nghe mà xem!” Khuất Dao hất hàm ra phía ngoài, “hết tốp này đến tốp khác, ít thì dăm ba người, nhiều thì vài chục người, đang kéo về tề tựu!

“Tề tựu ở đâu?” Khuất Bình sửng sốt.

“Tốp thì tới phủ vương thúc, tốp thì tới phủ lệnh doãn.”

Khuất Bình giật nảy mình, nhìn sang Trần Chẩn.

Trần Chẩn đi tới chiếu khách, bình thản ngồi xuống, nhìn sang Khuất Bình: “Chẩn tới thăm tả đồ, chính là bởi chuyện này!”

“Chuyện này là thế nào?”

“Vương thúc muốn thanh trừ gian thần bên vua, lệnh doãn cũng đâu thể bó tay chờ trói?”

“Thanh trừ gian thần bên vua?” Khuất Bình thất kinh, “ý tiên sinh là…”

“Phải,” Trần Chẩn thở hắt ra, “hoặc là đêm nay, hoặc là ngày mai, Sính Đô có lẽ sẽ đổ máu,” nhìn ra xung quanh, “nhất là phủ trạch cổ kính này, ngay lúc này đây, không chừng đã có vô số mũi thương lăm le chĩa tới!”

“Xem ai dám!” Khuất Dao siết chặt tay quyền, nhìn sang Khuất Bình, “thưa anh, em sẽ lập tức triệu tập người!” Rồi cất bước đi ngay.

“Quay lại!” Khuất Bình khẽ gọi.

Khuất Dao đã đi ra tới cửa, lại quay trở vào.

Khuất Bình đã bình tĩnh trở lại, không còn đi tới đi lui nữa, quay về chiếu chủ, từ từ ngồi xuống, vòng tay với Trần Chẩn: “Tiên sinh hẳn có diệu kế?”

“Sự tình đã tới nước này, không còn diệu kế gì nữa.” Trần Chẩn đáp lễ, rồi cất giọng nghiêm nghị, “tả đồ đại nhân, khối ung nhọt đã mọc ra, không nặn bỏ không được.”

“Nặn bằng cách nào?” Khuất Bình hỏi.

“Nghe nói đại vương đã giao phù lệnh cho tả đồ, cho tả đồ điều động ba nghìn vương sư, có chuyện này không?”

“Phải.”

“Đám vương thúc nửa đêm tề tựu đại chúng, rành rành là mưu tạo phản. Lệnh doãn đã thông báo tới tộc binh ba họ, nếu như tả đồ lại điều động vương sư, có thể hợp sức cùng tộc binh ba họ, tiên phát chế nhân, một đòn bắt gọn đám vương thúc, Ngận Thượng. Mọi người có thể hành động ngay trong đêm nay, tới khi sự việc xong xuôi, hãy tấu báo lên đại vương. Khi đó, ván đã đóng thuyền, nhân chứng vật chứng đầy đủ, đại vương cũng sẽ hài lòng chấp nhận. Sau đó, tả đồ có thể tấu thỉnh đại vương, hoặc đuổi sứ Tần đi, hoặc chấp thuận chuyện cầu thân, sửa soạn cho Nguyệt công chúa xuất giá!”

“Nếu có người phản kháng lại ta?”

“Giết ngay không hỏi.”

Khuất Bình nhắm mắt lại.

“Khuất Tử,” Trần Chẩn bồi thêm một câu, “là đám vương thúc hưng binh động chúng trước, tả đồ đã nhìn thấy, cũng đã nghe thấy, đây là lý do tốt nhất để động thủ, càng là cơ hội hiếm có để một đòn thủ thắng. Theo như Chẩn thấy, chỉ cần tả đồ hạ quyết tâm, hợp lực cùng lệnh doãn, chắc chắn sẽ giành phần thắng. Bè lũ vương thúc, nếu nói về kiếm tiền và xa hoa thì không ai địch nổi. Nhưng nói về cơ mưu trận mạc, dứt khoát không thể đấu lại Chiêu Dương.”

Lại trầm lặng một hồi.

“Tạ ơn diệu kế của tiên sinh!” Hồi lâu sau, Khuất Bình mới ngẩng đầu, vòng tay nói, “có điều, vãn sinh cho rằng, kế này không thể thực thi!”

“Khuất Tử?” Trần Chẩn cuống lên.

“Tiên sinh,” Khuất Bình giọng đầy kiên định, “hiện tại, hai bên đã ở vào thế gươm tuốt vỏ nỏ giương dây, nếu theo kế này, Sính Đô ắt một phen đẫm máu. Sính Đô nhuộm máu, tức là đã trúng kế của sứ Tần!”

“Than ôi,” Trần Chẩn thở dài sườn sượt, tiếp đó, ánh mắt bỗng rực lên như đuốc, nhìn xoáy vào Khuất Bình, “thôi được, Chẩn chỉ hỏi tả đồ một câu, tả đồ có muốn cải chế, có muốn biến pháp?”

“Muốn!”

“Chỉ cần tả đồ kiên quyết cải chế, kiên quyết biến pháp, thì máu nhất định phải đổ!” Trần Chẩn gằn giọng.

“Ngụy, Tề, Hàn cải chế, đều không hề đổ máu!”

“Than ôi, tả đồ!” Trần Chẩn lắc đầu, cười nhăn nhó, “tả đồ đã muốn nhắc chuyện đã qua, thì Chẩn sẽ nói về chuyện đã qua. Trước hết nói về nước Ngụy. Lúc đó, Tam Tấn Hàn, Triệu, Ngụy đều vừa lập nước, chế độ khi đó, vốn là do nước Tấn trước đây định ra. Là nước mới lập, có thể không theo cựu chế, do vậy, Ngụy Văn Hầu đã dùng Lý Khôi biến pháp, đó không gọi là cải chế, mà gọi là lập chế. Nước Tấn đã mất, triều thần nước Nguỵ không còn chỗ dựa, đành phải tuân theo tân chế. Lại nói về nước Tề. Giống như Nguỵ, nước Tề của họ Điền cũng là nước mới lập, Tề Công cũng có thể không tuân theo cựu chế của họ Khương. Cho dù là vậy, Tề Uy Công trước khi cải chế, vẫn mang nấu huyện lệnh A Thành. Còn như Hàn Hầu, cũng như thế cả, hơn nữa, Thân Bất Hại lại không động tới lợi ích của quý tộc, chẳng qua chỉ là ước thúc họ thêm chút ít, làm lợi cho dân chúng thêm chút ít mà thôi. Nhưng hiện tại thì khác. Tả đồ, sở dĩ tả đồ và đại vương muốn cải chế, là vì muốn đối phó với nước Tần. Vậy thì cần phải so sánh với Tần. Tần Hiếu Công dùng Thương Quân cải chế, cả dòng Vị Thuỷ nhuộm đỏ máu tươi.”

Khuất Bình lại chìm vào suy nghĩ.

Lại một bầu tĩnh lặng kéo dài.

“Tiên sinh,” Khuất Bình cuối cùng cũng ngẩng đầu, ngữ khí kiên định, “dù có đổ máu, cũng không thể là ngày mai, lại càng không thể là đêm nay.”

“Vì sao kia?” Trần Chẩn hỏi vặn.

“Bởi vì, đám vương thúc đã hành động trước!” Khuất Bình nhún vai, “chúng ta không thể đi giết một kẻ đã giương cung múa thương, dàn trận sẵn sàng được. Bất kể là vương thân hay tông thân, là vương thúc hay lệnh doãn, cũng đều là kẻ mạnh, hai kẻ mạnh giao tranh, phía tổn thương là Sở, phía được lợi là Tần.”

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài, “Khuất Tử, thương đối thương, đao đối đao, đó mới đúng là phong thái của người Sở. Lẽ nào tả đồ muốn đợi đám vương thúc ngủ say cả rồi mới chém giết hay sao?”

“Đây là hai chuyện khác nhau,” Khuất Bình như đã quyết định, vòng tay hướng vào Trần Chẩn, “thỉnh cầu tiên sinh hãy niệm đến muôn dân nước Sở, lại tới Chiêu phủ một chuyến, nhất định phải khuyên can lệnh doãn đại nhân hãy lui binh bằng được. Còn chỗ vương thúc, cứ để vãn sinh tới khuyên nhủ!”

Một đêm không ngủ.

Cho tới sáng tận sáng hôm sau, Sính Đô vẫn vô sự.

Khuất Bình thở phào một tiếng, sải bước khỏi cửa.

“Đại nhân,” Bạch Vân cũng bước theo sau, “tôi đi cùng đại nhân.”

Khuất Bình ngoảnh lại nhìn nàng chăm chú, rồi gật đầu. Hai người sóng đôi bước ra khỏi cổng phủ, dưới ánh nắng ban mai, tiến thẳng về phía phủ Kỷ Lăng Quân.

Khu phố này liền kề vương cung, là nơi sinh sống của quý tộc Sính Đô, nên khoảng cách giữa các phủ đệ không quá xa.

Trước phủ Kỷ Lăng Quân, trận thế uy nghiêm, hai bên cổng phủ có hai hàng giáp sĩ cầm kích đứng canh.

Khuất Bình tiến lại, trình lên bái thiếp cầu kiến. Chốc sau, Tử Khải ra nghênh đón. Thấy là Khuất Bình và Bạch Vân, Tử Khải cũng tỏ ra khá nhiệt tình, hành lễ qua loa, rồi dẫn hai người vào trong cổng, đi thẳng tới sảnh chính.

Trong toà phủ đệ rộng lớn mênh mông, chỗ nào cũng đông nghịt những người, ngồi thành từng hàng san sát, ngay ngắn chỉnh tề, thương trong tay, kiếm bên hông, nhắm mắt dưỡng thần. Trên bãi đất trống ở sân trước đậu vài cỗ xe chiến, mấy chiếc xe mui, đám phu xe qua lại tất bật, ngựa đã đóng sẵn, chỉ chờ hiệu lệnh xuất phát.

Bạch Vân hít sâu một hơi, bám chặt lấy tay Khuất Bình, tay kia đưa vào trong ngực áo, kéo miếng ngọc bội ra, để nó buông thõng trước ngực.

Vương thúc ra trước cửa phòng khách nghênh đón. Vừa trông thấy Bạch Vân, khuôn mặt tươi cười của vương thúc bỗng chốc cứng đờ. Hai luồng nhãn quang nhìn xoáy vào miếng ngọc bội trước ngực Bạch Vân.

Bạch Vân cũng nhìn lại, đôi mắt bình lặng như nước.

Hai người cứ thế nhìn nhau, quên bẵng cả Khuất Bình.

Tử Khải đứng giữa, chốc thì nhìn vương thúc, chốc lại nhìn Bạch Vân, gương mặt hiện một nét cười, rõ ràng đang âm thầm quan sát hai cha con trước mắt.

Thời gian như ngừng trôi. Không biết bao lâu sau, Bạch Vân mới thu lại ánh nhìn trước, quay sang Khuất Bình, khẽ cười: “Chẳng phải đại nhân muốn gặp vương thúc? Vương thúc đang ở trước mặt kia!”

Khuất Bình vòng tay chào: “Khuất Bình khấu kiến vương thúc!”

Vương thúc lúc này mới nhìn sang, vòng tay đáp lễ, chìa tay cất giọng điềm đạm: “Hai vị khách nhân, mời!”

Mọi người bước vào trong phủ, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

“Tả đồ bận trăm công nghìn việc,” vương thúc khẽ mỉm cười, nhìn thẳng vào Khuất Bình, “vậy mà trời vừa rạng sáng, đã tìm tới hàn xá của lão phu, hẳn là có việc cần kíp?”

“Hồi bẩm vương thúc,” Khuất Bình vòng tay đáp, “thần tới đây, là vì có việc muốn thỉnh cầu vương thúc!”

“Ồ?” Vương thúc ngả người về phía trước, “tả đồ có thỉnh cầu gì?”

“Thỉnh cầu vương thúc hãy niệm đến muôn dân Đại Sở, mà khuyên nhủ chư quân kiềm chế, chớ làm ra chuyện khiến kẻ thù khoái chá, người thân đau lòng!”

“Ồ?” Vương thúc chau tít đôi mày, ra bộ kinh ngạc, “nghe tả đồ nói, hình như đã xảy ra chuyện gì rồi chăng?”

“Thần được biết,” Khuất Bình đáp, “từ đêm hôm qua, phủ trạch chư quân đao kiếm sáng loà, rậm rịch suốt đêm,” lại chỉ ra bên ngoài, “ngay cả trong phủ vương thúc, vào lúc này đây cũng người qua kẻ lại, sát khí ngùn ngụt!”

Vương thúc phá lên cười lớn: “Tả đồ nghĩ nhiều quá rồi!” Nhìn sang Tử Khải, “Khải Nhi, hãy bẩm báo với tả đồ về chuyện náo nhiệt trong phủ!”

“Bẩm tả đồ,” Tử Khải vòng tay, “vương thúc và chư quân đã hẹn nhau, chiều hôm nay tới vườn Vân Mộng đi săn, nên đám tuỳ tùng mới phải gấp rút chuẩn bị suốt đêm qua!”

Khuất Bình vô cùng sửng sốt, bất giác nhìn sang Bạch Vân.

Vương thúc lại bật cười vài tiếng: “Tả đồ, chớ nghe người khác đơm đặt, rồi suy nghĩ vẩn vơ. Mùa này, vườn Vân Mộng cá ngon cua béo, nai hoẵng đang nhiều, lão phu tay chân ngứa ngáy, đã hẹn với các anh em con cháu cùng tới đó đi săn. Nếu tả đồ rảnh rỗi, xin mời cùng đi với lão phu. Với tài khéo của tả đồ, chắc chắn sẽ có thu hoạch phong phú!”

Khuất Bình rõ ràng chưa hết bàng hoàng, ánh mắt vẫn nhìn sững vào Bạch Vân.

Bạch Vân khẽ cười: “Nếu là như vậy, bản tư tế lại muốn khuyên vương thúc hãy huỷ bỏ chuyến đi săn này!”

“Ồ?” Vương thúc nhìn sang nàng, “xin hỏi nguyên cớ do đâu?”

“Hồi bẩm vương thúc,” Bạch Vân lại mỉm cười, “chỉ chưa đầy ba ngày nữa, bầu trời trên vườn Vân Mộng sẽ xuất hiện cửu long náo trạch!”

“A…” Vương thúc nhìn ra bên ngoài, thấy sắc trời quang đãng, nắng mai rực rỡ nhuộm hồng trạch viện, thì ngạc nhiên nhìn nàng, “cửu long náo trạch? Cớ sao tư tế lại biết?”

“Mới đó mà vương thúc đã quên mất bản tư tế là ai ư?” Bạch Vân lại cười, đưa tay vuốt khẽ miếng ngọc bội đeo trước ngực.

Thấy vậy, vương thúc bất chợt ngẩn ngơ, thần hồn đờ đẫn. Ánh mắt vương thúc lại vô thức dán chặt vào miếng ngọc bội của nàng, trước mặt như thể chập chờn hình bóng của tư tế năm xưa.

Bàn tay vương thúc cũng bất giác đưa lên trước ngực, lần vào vạt áo, như cũng muốn kéo ra miếng ngọc bội của mình. Đúng lúc đó, Tử Khải chợt lên tiếng: “Vương thúc, vậy có đi nữa không?”

Vương thúc giật nảy mình, như mộng chợt tỉnh, vội rút tay về, khẽ thở dài một tiếng: “Thôi, đã là cửu long náo trạch, không đi nữa.”

“Vâng, cháu sẽ báo lại với mọi người!” Tử Khải đáp, dợm bước toan đi.

“Phải rồi,” vương thúc vẫy tay dặn dò, “phiền cháu hiền lại vào cung một chuyến, tấu lên đại vương, rằng vương thúc thỉnh cầu yết kiến!” Nhìn sang Khuất Bình, cười gượng mà nói, “xem ra, có một số việc, lão phu phải đích thân giải thích mới được.”

Vừa nghe thấy hai tiếng “giải thích”, Khuất Bình như bừng hiểu chuyện gì, bất chợt rùng mình ớn lạnh.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Hàn Xuyên Tử