Nếu như nói trong chuyến hành trình này ai đau đớn nhất chính là Hứa Đông Thăng, tới giờ hắn mất vật tư, mất người, Thiết Tâm Nguyên chỉ có hai vai mang cái đầu lên sa mạc, giờ chẳng thiệt hại gì còn có thêm sáu thủ hạ cực mạnh.
Mạnh Nguyên Trực càng là thứ ăn bám.
Nếu để Lão Hứa nuốt mất số vàng đáng lẽ thuộc về thủ hạ của hắn, có lẽ từ đó về sau Lão Hứa ngày càng trượt dài, chút nhân tính còn lại cũng mất.
Thiết Tâm Nguyên không đành lòng nhìn cảnh đó, vì thế xòe tay ra:” Nói không chừng ta cứu được họ đấy.”
“ Ngươi muốn gì?”
“ Vàng.”
Hứa Đông Thăng nổi giận:” Chúng ta cùng một bọn, ngươi không thể làm như thế, cứu người là chuyện ngươi nên làm, bọn họ cũng bảo vệ ngươi cơ mà.”
Thiết Tâm Nguyên khinh bỉ:” Đừng lắm lời, ta lấy vàng là dùng làm thuốc cứu người, ai thèm chút vàng của huynh.”
Hứa Đông Thăng rất không tình nguyện lấy ra một đĩnh vàng, Thiết Tâm Nguyên lấy thêm mấy đĩnh nữa, huơ trước mặt Hứa Đình:” Thấy chưa, ngươi có muốn số vàng này không?”
Hứa Đình nhìn vàng không chớp mắt:” Lão tử tới sa mạc là vì vàng, ai mà không muốn.”
“ Ha ha ha, tốt, giờ cho ngươi biết, chỉ cần ngươi còn sống, số vàng này là của ngươi.” Thiết Tâm Nguyên nhét vàng vào người hắn, cười gằn thì thầm bên tai:” Phí an gia Lão Hứa hứa với ngươi thì được nổi mấy đồng, chỉ có sống ngươi mới có vàng, nếu ngươi chết rồi, ta tin vàng sẽ rơi vào tay người khác chứ không tới được chỗ người nhà ngươi đâu. Ngươi đã chứng kiến lòng tham của họ rồi đấy.”
Hứa Đình lập tức cật lực ôm vàng trong lòng, hơi thở cũng trở nên mạnh hơn.
Thiết Tâm Nguyên không biết làm thế có cứu được người không, y khẳng định, số vàng này sẽ giúp bọ họ tăng thêm rất nhiều nghị lực.
Vàng khiến người ta chém giết lẫn nhau, nhưng vàng cũng có thể cứu người, tất cả phải xem chúng ta sử dụng ra sao.
Cái lạnh trên hoang mạc mùa đông khó diễn tả hết bằng lời, nhưng trong cái rủi lại có cái may, người bị t hương không lo nhiễm trùng, nếu vượt qua được ba ngày đầu, tỉ lệ sống sẽ cao hơn nhiều.
Đội ngũ đi ba ngày liền không gặp được bất kỳ người sống nào, ngay cả sói hoang cũng không có, tựa hồ vụ nổ khủng khiếp đó khiến sa đạo chết sạch, cpfn sói thì trốn cho sa.
Thực tế không phải như vậy ngày hôm đó số sa đạo sống đào tẩu rất nhiều, qua lời kể của chúng, những tên sa đạo khác đều biết một việc, thần sa mạc vì không chịu được chuyện con người chém giết nhau vì vàng đã giáng thiên phạt biến toàn bộ số vàng thành tro bụi.
Nói ra rất buồn cười, đám sa đạo làm cái nghề đẫm máu nhất, nhưng lại là tín đồ trung thành nhất của thần sa mạc.
Nếu thần đã không cho phép đụng tới số vàng đó, không ai dám trái.
Đó là điều khi bọn họ tới Y Ngô Châu mới biết.
………… ……….
Nếu như ngược dòng Hoành Thủy đi lên đầu nguồn khoảng năm mươi dặm, vượn qua vách núi cheo leo, một cánh rừng rậm rạp khiến người ta lạc hướng sẽ thấy ghềnh đá. Ở đây nước chảy siết, men theo con đường nhỏ cực kỳ khó tìm sẽ thấy một kỷ cảnh thiên nhiên hơn trăm con suối chảy ra từ khe đá hội tụ thành con sông chảy giữa sơn cốc, con sông đó mới là cội nguồn của Hoành Thủy.
Bên bờ sông có thôn trang nho nhỏ chừng mười mấy căn nhà, đường mòn hoang dại, cây cối um tùm, vài làn khói bếp nhè nhẹ bay lên mang cảm giác thanh bình tĩnh lặng.
Thôn trang này chính là quê hương của A Đại A Nhị, nơi này có cả người Đại Tống, Tây Hạ hoặc Khiết Đan, những người không sống được nữa trốn vào Hoành Sơn, an gia lạc hộ ở đây, cứ thế tự nhiên thành thôn trang.
Vương Nhu Hoa đứng trên đỉnh núi mắt dõi về phương xa, làn da sạm đi đôi phần, nếp nhăn bên khóe mắt đã hằn sâu hơn, nhưng càng thêm kiên nghị. Trong lòng nàng có một cô bé bụ bẩm kháu khỉnh đang ê a tự chơi đùa với bàn tay của mình, không biết từ khi nào nàng có sở thích leo núi, bên sơn cốc có một ngọn núi, rất cao, nên có thể nhìn rất xa.
Dầu vậy cho dù là vào ngày mây trời trong xanh nhất, nàng cũng chỉ nhìn thấy từng ngọn núi trập trùng, mây trắng bồng bềnh trôi, khắp bốn phương là sự tịch mịch vô bờ.
Mới đầu khi leo lên đỉnh núi nàng còn khóc, giờ không khóc nữa rồi, mang đầy hi vọng.
Đỉnh núi mùa đông rất lạnh, vì có cô bé, Vương Nhu Hoa không ở lại lâu, ngồi lên một cái giỏ trúc, kéo dây thừng, giỏ trúc từ từ hạ xuống, dù cảnh sắc trên núi cực đẹp nàng cũng không có lòng dạ nào hân thưởng.
Đội ngũ của bọn họ không tới Kim Thành huyện như kế hoạch ban đầu mà được A Đại A Nhị dẫn qua quan ải Hoành Sơn, đi vào núi non bao la, đó là do nhi tử nàng an bài.
Kỳ thực đi tới đâu Vương Nhu Hoa không bận tâm, nàng chỉ sợ mình đi mất, nhi tử về không tìm thấy.
Giỏ trúc từ từ hạ xuống, một thanh niên đen đúa nụ cười chất phác giữ lấy giỏ, đỡ Vương Nhu Hoa và Nữu Nữu xuống, báo tin:” Phu nhân, có thư đấy.”
“ Thật sao?”
Vương Nhu Hoa mừng lắm, chân vừa chạm đất đã vội bế Nữu Nữu chạy men theo con đường đất về nhà, chẳng kịp đáp lại những người khác đang chào hỏi mình.
Nương theo chân núi, trong một góc khuất kín đáo có tiểu viện nho nhỏ, không ngờ tiểu viện này giống tám phần căn nhà của Vương Nhu Hoa ở Đông Kinh, cũng là hàng rào gỗ đơn sơ thưa thớt, một cái cây trồng góc sân, con đường nhỏ lát đá, căn nhà nho nhỏ một tầng, đều do chính tay nàng làm nên.
Vội vàng bước vào nhà, quả nhiên có phong thư vẫn nguyên dấu si đặt trên bàn, nàng biết phong thư có thể tới được đây không đơn giản, đầu tiên là tới Đông Kinh, gửi đến cửa hiệu ở Kim Thành huyện, sau đó vượt núi non đưa vào đây.
Hai tay run run xé thư, nhìn thấy bút tích quen thuộc ...
Vương Nhu Hoa không đọc nội dung ngay mà tìm tới phần ký tên, năm chữ " Tâm Nguyên Nhi kính thượng".
Chữ "Tâm" có nét cuối nối với chữ "Nguyên", tới đây nàng mới tin thực sự là thư do chính nhi tử viết.
Phong thư này nhi tử viết khi tới Trường An, nhi tử sống không tệ, người Tây Vực tên Mục Tân tựa hồ thật sự muốn nhận nhi tử nàng làm học sinh.
Nhi tử không kể nhiều về gian nan vất vả, chỉ kể chuyện vui vẻ chuyến đi, đặc biệt nhiều lần khẳng định sẽ trở về ... Vương Nhu Hoa đọc bức thư tới mấy lượt, lau khô giọt nước mắt mừng tủi, đặt xuống dưới gối, bế Nữu Nữu đi tìm A Nhị đang đôn đốc xây dựng sơn cốc.