Thiết Tâm Nguyên từ xa nhảy xuống ngựa, nhận ra một người, đó là kỵ sĩ biết đọc sách, mừng lắm, đúng là trời giúp mình rồi, rút túi rượu nho ném cho người đó, sai bốn nô phó nhanh làm xe kéo để đưa thương binh lên.
Phó dịch nhanh chóng lấy cành cây dây thừng đã chuẩn bị sẵn kết xe kéo, chẳng mấy chốc xe kéo to bằng cái giường đã làm xong.
Thiết Tâm Nguyên đi tới đẩy loan đao một kỵ sĩ ra, sốt ruột rống lên:” Mau uống chút rượu lấy tinh thần, người Tây Hạ sắp tới.”
Thấy hắn cứ do dự, trực tiếp mở nắp túi rượu, ấn miệng túi vào mồm hắn, đám người này rõ ràng chưa bao giờ uống rượu, chẳng mấy chốc mặt đã đỏ bừng bừng.
Đám phó dịch không dám tới gần, cho rằng đám kỵ sĩ không phải người, nếu hiểu lầm chém mình một đao thì quá oan uổng, càng nhìn Thiết Tâm Nguyên như thứ quái thai.
Sáu người uống hết cả túi rượu nho, tinh thần phấn chấn, kỵ sĩ biết chữ kêu a a, tựa hồ muốn Thiết Tâm Nguyên giải thích.
Thời gian đâu ra giải thích, chỉ huy bọn họ đưa người bị thương lên xe kéo, mình nhảy ngay lên lạc đà quất túi bụi nhanh chân chạy về Dương Quan, len lén quay đầu nhìn thấy ba kỵ sĩ nhảy lên lưng chiến mã đuổi theo mới yên tâm.
Ngay từ đầu Thiết Tâm Nguyên đã không cho bọn họ thời gian suy nghĩ, lừa người ta là phải làm một mạch, hành động hữu dụng hơn cái miệng nhiều, nhất là đám người sống cuộc đời không khác gì giáo đồ này, khi có một người có vẻ là người bên trên ra lệnh, bọn họ sẽ tuân theo như một thói quen.
Nhất là khi người đó còn ra lệnh có lợi cho mình.
Người bị thương mà uống rượu vào thì chỉ càng khát, cơn khát lấn át suy nghĩ, đi theo người có nước cũng là thứ bản năng thúc giục.
Trong chớp mắt đã tung ra loạt thủ đoạn như vậy, đám người đầu óc đơn giản này không bị y khuất phục mới là lạ.
Nghe lệnh một lần rồi đến lần thứ hai nghe lệnh sẽ không băn khoăn nhiều nữa.
Thiết Tâm Nguyên hành động cực nhanh, đi lại một chuyến chỉ mất nửa canh giờ, dù là thế khi vừa qua Dương Quan thì đội lạc đà đã chuẩn bị xuất phát, ở phía tây có lang yên bốc lên.
Người Tây Hạ truy sát, hơn nữa lại còn từ phía Sa Châu.
Thiết Tâm Nguyên thậm chí không xuống lạc đà, dẫn sáu tàn binh bại tướng của mình theo sau Hứa Đông Thăng dũng mãnh tiến về Y Ngô Châu.
Đội ngũ đi được chừng năm dặm thì bắt gặp đội lạc đà hai trăm người, thì ra là Hứa Đình đã tới rồi, gộp lại thành đội lớn, lúc này nhân số phe Thiết Tâm Nguyên và Hứa Đông Thăng gần ba trăm người, gấp ba lần số người của Mục Tân.
Xe kéo làm tạm ở phía sau lạc đà không chịu nổi va chạm trên đường đã rời ra rồi, Thiết Tâm Nguyên mượn Hứa Đông Thăng bốn cái sọt đựng thức ăn, treo hai bên lạc đà cho người bị thương vào đó, chỉ cần trải đệm dày lên là như ngủ trong nôi vậy.
Với lạc đà mà nói thì chở nặng thế này cũng không ảnh hưởng mấy, vẫn sải bước đi như bay, móng bọn chúng rất dày đi đường trường lợi hơn ngựa nhiều.
Thế là vì đồng bạn bị thương. ba kỵ sĩ còn có chút sức chiến đấu bám sát Thiết Tâm Nguyên, bảo vệ quanh thiếu niên chẳng có tí sức chiến đầu nào.
Trời rất lạnh, da thịt lộ ra ngoài không khí bị ánh mặt trời chiếu phát đau, Thiết Tâm Nguyên phải học tập người Ả Rập và người Ba Tư, dùng khăn hơi ướt bọc kín lấy mình.
Đội lạc đà đi miết không dừng, chỉ còn ở trên hoang mạc là không có chút an toàn nào hết, phương thức tác chiến quân Tây Hạ sở trường nhất là bình nguyên và hoang mạc.
Mục Tân hiển nhiên nhận thức rất sâu về sức chiến đấu của người Tây Hạ, tập kết một nhóm kỵ sĩ, muốn biên nhập thành quân sẵn sàng ứng phó với người Tây Hạ.
Thiết Tâm Nguyên không muốn kỵ sĩ nô lệ tác chiến, thăm dò huynh đệ Tái Nghĩa Đức tới đòi người bằng một lá vàng mà mẹ khâu trong áo, lá vàng thoáng cái biến mất, hai bọn họ đi tìm Hứa Đông Thăng.
Vỗ vai nói với kỵ sĩ biết chữ:” Sau này theo ta đi.”
Kỵ sĩ đó chấm máu ở vết thương viết lên vải " mộ kỵ sĩ".
Thiết Tâm Nguyên không hiểu mấy chữ này, kỵ sĩ kia khép mắt chìm vào trong suy tưởng của mình, tỏ ý không muốn nói nữa, liền kéo Tái Nghĩa Đức vừa mới kiếm được sáu nô phó ở chỗ Hứa Đông Thăng hỏi hàm nghĩa mấy chữ này.
Tái Nghĩa Đức khinh bỉ nhìn ba kỵ sĩ bị thương ngủ say:” Vũ khí đã phế thì chờ vứt đi, mộ gì chứ, chẳng qua là mảnh đất vùi xác đám người ti tiện linh hồn không được lên thiên đường thôi.”
Thế là hiểu rồi, giống như nghĩa địa voi vậy, khi một con voi thấy mình sắp chết, nó rời đàn tự tìm tới nghĩa đại chung của đàn.
Một kỵ sĩ già nua cưỡi trên lưng một con ngựa gầy gò, đeo thanh đao sứt mẻ, mũi thương cùn đầu, cùng với quá khứ vinh quang dẫm lên ánh chiều tà đi tới mảnh đất hoang vu.
Cảnh tượng ấy chỉ nghĩ thôi đã thấy thê lương.
Nếu bức tranh đó còn thêm quạ đen, kền kền và cành cây khô hình dạng kỳ quái, cát vàng mênh mông, càng khiến người ta xúc động.
Vậy mà Thiết Tâm Nguyên nhìn bức tranh đó lại toét miệng cười, vì y là thiên sứ xoay chuyển sự thê lương ấy.
Đều là nhờ Vương Tiệm.
Tên thái giám béo tốt lúc nào cũng cười vô hại ấy, mọi người chỉ biết hắn một tay che trời trong hoàng cung, không biết rằng hắn còn là đại tông sư ở đạo dưỡng sinh.
Thái giám khác nói chuyện nhỏ nhẹ, dù cố gắng dùng âm họng thì vẫn có chút the thé, Vương Tiệm nói chuyện chẳng những vang vang như kim loại chạm nhau, còn mang theo uy nghi của người cầm quyền.
Nếu dán thêm râu vào môi hắn, Thiết Tâm Nguyên thấy Triệu Trinh nên chém đầu hắn, hoặc bảo người Kính sự phòng kiểm tra lại chỗ đó cho an toàn.
Trong phòng nhỏ của Vương Tiệm có đủ các loại cơ quan sinh dục của động vật, nhìn vậy là Thiết Tâm Nguyên hiểu rồi.
Nằm co người không cái sọt thức ăn, Thiết Tâm Nguyên chỉ để lộ ra hai mắt nhìn trời xanh, nghe tiếng chuông lạc đà du dương, trên trời có một đám mây trắng trông như biến thành cái mặt béo tròn của Vương Tiệm. Không cần biết bao người phỉ nhổ sau lưng hắn, Vương Tiệm đối xử với y rất tốt.
Trong đời y có hai món nợ lớn, nợ Triệu Trinh đêm mưa đó cho mẹ con họ ở lại chân tường thành, nợ Vương Tiệm bao năm qua chiếu cố mẹ con họ.
Đó là món nợ cả đời khó trả hết.
“ Thân thể tàn khuyết không thành vấn đề, ở nước Tống cũng có nhiều người như các ngươi, bọn họ có người quyền cao chức trọng, còn thống lĩnh quân đội tác chiến.”
“ Thậm chí ở Tống có một vị giống các ngươi viết cuốn sử tên là Sử Ký, vang danh thiên cổ, được rất nhiều người tôn sùng, không mấy ai nhớ ông ta bị thiến.”
Thiết Tâm Nguyên quay sang trò chuyện với kỵ sĩ biết chữ, vì lạc đà cao hơn nên hai người tương đối vừa tầm nhau.
Nói rồi lấy trong lòng ra một cuốn sách:” Người xem, giấy cũng là do một vị thánh nhân tàn tật làm ra đấy, rất lâu trước kia người Tống dùng dao khắc chữ lên trúc hoặc gỗ, do cứ giấy mà học vấn mới truyền bá đi khắp nơi.”
Kỵ sĩ đưa tay ra hiệu, tuy rất phiền hà nhưng Thiết Tâm Nguyên vẫn hiểu.
“ Cái gì? Các không còn thời gian nữa.”
“ Vớ vẩn, ta từng thấy một hoạn quan tám mươi tuổi đánh chết báo, còn cắn cổ uống máu, dũng mãnh tới mức giết được sư tử.”
“ Đừng bĩu môi, ta không nói linh tinh, đi hỏi cái lão beo béo đen đen như lợn rừng kia, xem người ta nói có tồn tại không? Người ta sống ba mươi tuổi vẫn còn bị coi là trẻ, ngươi không tin có người tàn khuyết sống tới tám mươi tuổi.”
“ Cái gì, không có? Thần sứ qua ba mươi cũng bị giết, trời ơi, bọn họ chết oan quá.”
“ Nếu các ngươi đã bị vứt đi thì theo ta sống thêm dăm ba chục năm nữa, các ngươi sống cái kiểu gì vậy chứ, sống thế lỗ vốn quá, ngươi đã bao giờ lắng nghe tiếng gió từ phương xa thổi tới chưa? Đã bao giờ ném hạt xuống đất nhìn nó nảy mầm mọc là thành cây rồi kết thành quả ngọt chưa?”
“ Các ngươi không có lưỡi đâu có nghĩa là cứ phải ăn thứ cháo buồn nôn đó, thứ đó mà gọi là thức ăn à, theo ta các ngươi sẽ biết thế nào là món ngon nhân gian.”