Lăng Long Vũ đã đặt chân đến Giang Hộ được hơn nửa tháng. Trong suốt thời gian này, hắn lưu trú tại tư gia của hội trưởng thương hội Hà Lan là Ê-đê-vô-các-tơ ở Giang Hộ. Cũng chính nhờ những lần trò chuyện với Ê-đê-vô-các-tơ mà hắn đã nắm bắt được không ít tình hình tại Nhật Bản.
Đối với vị tướng quân đời thứ mười một là Đức Xuyên Gia Tề, dù chưa từng diện kiến, nhưng hắn cũng phần nào hiểu được tính cách con người này. Tựu trung lại chỉ gói gọn trong mấy chữ: biến thái, tham lam, háo sắc và ham quyền.
Chuyện biến thái của vị tướng quân này đã có từ lâu. Từ nhỏ, trò chơi yêu thích nhất của ngài ta là bắt cua và gà chọi nhau đến chết, rồi từ đó tìm kiếm sự khoái cảm kỳ dị. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đây chính là một kẻ bạo dâm, hoặc ít nhất cũng có khuynh hướng đó.
Do đích tử của tướng quân đời thứ mười đột ngột qua đời ở tuổi mười chín, Đức Xuyên Gia Tề – khi đó là phiên chủ đời thứ hai của Nhất Kiều gia, một trong Ngự Tam Khanh – đã thuận lợi lên nắm quyền khi mới mười lăm tuổi. Mức độ háo sắc của vị tướng quân này thực sự khiến người ta phải trợn mắt há hốc mồm, khó mà tin nổi.
Hậu cung có tổng cộng hơn bốn mươi phi tần, nay ngài ta mới hai mươi ba tuổi mà đã có tới mười tám người con, nghe nói còn có ba vị trắc thất đang chờ ngày lâm bồn.
Hơn nữa, ngoài nữ sắc, ngài ta còn chuộng cả nam sắc, ít nhất mỗi năm đều tuyển vào vài tiểu đồng có dung mạo và dáng dấp xuất chúng.
Nếu Lương đại thiếu gia có ở đây, chắc chắn sẽ phải tặc lưỡi cảm thán: Tên này chẳng lẽ là một cỗ máy gieo giống di động hay sao?
Để đảm bảo cho "tiểu tổ tông" của mình luôn dồi dào đạn dược, vị tướng quân này rất ưa chuộng các loại thực phẩm giúp cường dương. Thời đó, mục trường Lĩnh Cương ở Phòng Châu (tỉnh Chiba) là mục trường chuyên dụng của Mạc phủ. Vị tướng quân đời thứ tám vốn có tính hiếu kỳ cao từng nhập khẩu ba con bò trắng từ Ấn Độ về nuôi tại đây. Đến đời Gia Tề, số lượng đã tăng lên hơn bảy mươi con. Gia Tề nghe nói sữa bò trắng có công dụng cường dương cố thận, liền cho nuôi vài con ngay trong thành Giang Hộ, lệnh cho người chuyên trách chế biến sữa. Mặt khác, Gia Tề lại cực kỳ thích ăn gừng, hầu như bữa cơm nào trên bàn cũng phải có gừng.
Về phần tham lam và ham quyền, hai thứ này vốn bổ trợ cho nhau. Thuở Tùng Bình Định Tín mới nhậm chức Trung lão, ông đã thực hiện cuộc cải cách Khoan Chính để chỉnh đốn tài chính. Năm 1788, ông ban hành "Tiết kiệm lệnh", yêu cầu sĩ, nông, công, thương phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ đẳng cấp, cấm xa hoa lãng phí. Ông cắt giảm một nửa kinh phí Mạc phủ, một phần ba chi tiêu trong phủ tướng quân, đồng thời trích bảy phần từ số tiền tiết kiệm được của thành Giang Hộ để làm quỹ cứu tế người nghèo và cho vay lãi suất thấp, gọi là "Thất phân kim tích tồn pháp".
Ban đầu, Gia Tề mới lên làm tướng quân nên đương nhiên không dám đối đầu với vị Trung lão cải cách cứng rắn này. Thế nhưng, sau vài lần chạm trán, kết thúc bằng việc Tùng Bình Định Tín thất bại và lui về ở ẩn, vị tướng quân đại nhân cuối cùng cũng bùng nổ.
Hay nói đúng hơn là vì lấy vợ quá nhiều, sinh con quá nhiều, lại thêm chi phí nuôi tiểu đồng vô cùng đắt đỏ, nên sau khi Trung lão mới là Tùng Bình Tín Minh được Gia Tề đưa lên nắm quyền, kẻ vốn đang nghèo đến mức sắp không nuôi nổi con cái và tiểu đồng này bắt đầu ráo riết cài cắm tay chân của mình vào hàng ngũ thuộc hạ của Trung lão, tái thiết lập chính trị thân tín.
Rất nhanh chóng, cái gọi là "Thất phân kim tích tồn pháp" đã trở thành một tờ giấy lộn. Gia Tề lợi dụng tay chân để đạt mục đích kiểm soát chính quyền, khiến vị trí Trung lão dần trở thành một cái bình hoa di động. Gia Tề làm vậy đương nhiên là vì quyền lực, có quyền lực mới nắm giữ được nhiều tài phú hơn, mới tiếp tục lấy vợ, nuôi tiểu đồng, và mở những bữa tiệc thác loạn trong tư dinh tại Giang Hộ.
Mà giờ đây, Lăng Long Vũ xuất hiện. Hắn sẽ mang đến cho ngài ta những gì? Điều này khiến Đức Xuyên Gia Tề dùng cái bộ não đầy tinh trùng của mình để suy tính. Nhưng rất nhanh, câu trả lời đã được hé lộ ngay tại tư dinh của Đức Xuyên Gia Tề, tức Bản Hoàn của thành Giang Hộ.
Một bản hiệp ước thông thương được đặt trước mặt Đức Xuyên Gia Tề, yêu cầu Nhật Bản mở các cảng Trường Khi, Thần Hộ, Đại Phản cho Hoa Hạ Thiên Triều.
Thứ hai, yêu cầu Nhật Bản cho phép và thừa nhận quyền cư trú, đi lại, kinh doanh công thương nghiệp của thần dân Hoa Hạ Thiên Triều tại các thành phố cảng này.
Thứ ba, tại các cảng này sẽ thiết lập lãnh sự quán, lãnh sự quán sẽ có một lượng quân đồn trú nhỏ để bảo vệ lãnh sự và sự an toàn của thần dân Hoa Hạ Thiên Triều.
Thứ tư, thừa nhận Hoa Hạ Thiên Triều là tông chủ quốc của Nhật Bản. Trong số các Đại danh của Nhật Bản, nếu kẻ nào có thái độ bất kính với Hoa Hạ Thiên Triều, Thiên Triều có quyền trực tiếp chinh phạt Đại danh đó cho đến khi kẻ đó nhận tội hối lỗi và bồi thường thỏa đáng, Mạc phủ không được can thiệp.
Thứ năm, thuê làng chài nhỏ Hoành Tu Hạ làm điểm dừng chân tạm thời cho hạm đội tuần dương của Thiên Triều, đồng thời sở hữu quyền quản hạt, cư trú và thống trị đối với vùng đất trăm dặm xung quanh Hoành Tu Hạ.
Thứ sáu, toàn bộ cảng biển, đảo nhỏ ven biển Nhật Bản tuyệt đối không được cho thuê hoặc nhượng lại cho quốc gia khác.
Thứ bảy, nếu Nhật Bản bị quốc gia khác xâm lược, Thiên Triều với tư cách tông chủ quốc sẽ hỗ trợ Nhật Bản, nhưng quân phí và hậu cần phải do Nhật Bản chi trả.
Thứ tám, nếu Mạc phủ Đức Xuyên đồng ý các điều kiện trên, Hoa Hạ Thiên Triều sẽ giao toàn bộ các loại hàng hóa thiết yếu mà Nhật Bản cần như vải vóc, lương thực, muối, tơ lụa, trà... cho các thương nhân do Mạc phủ chỉ định bán. Ngoài số thuế phải nộp, lợi nhuận thu được, Mạc phủ Đức Xuyên sẽ được hưởng ít nhất hai phần.
Thứ chín, trong số các Đại danh của Nhật Bản, nếu kẻ nào có thái độ bất kính với Hoa Hạ Thiên Triều, Hoa Hạ Thiên Triều có quyền trực tiếp chinh phạt Đại danh đó.
Thứ mười, cho phép giới công thương của Hoa Hạ Thiên Triều thuê mướn lãng nhân hoặc dân nghèo Nhật Bản, đương nhiên sẽ trả thù lao thỏa đáng...
Bản "Giang Hộ nhị thập nhất điều" dài mười tám trang giấy đặt ngay trước mặt vị tướng quân Đức Xuyên. Sắc mặt ngài ta khó coi như thể vừa chuẩn bị đi "vui vẻ" với tiểu đồng thì đối phương đột nhiên buồn đi ngoài vậy. Tóm lại là ghê tởm đến tột cùng.
Đúng vậy, bản "Giang Hộ nhị thập nhất điều" này chính là do Lương Bằng Phi mô phỏng theo bản "Nhị thập nhất điều" của hậu thế. Để soạn ra bản hiệp ước này, Lương Bằng Phi đã vắt óc suy nghĩ, đáng tiếc là gã chỉ từng lướt qua trong các đợt giáo dục lòng yêu nước trước kia, nên bản "Nhị thập nhất điều" mới này có chút sai lệch, nhưng lại ẩn chứa vô vàn dụng ý hiểm ác của Lương đại thiếu gia.
"Baka!" Đức Xuyên Gia Tề đứng phắt dậy từ ngai vàng, vẻ mặt đầy giận dữ. "Thanh quốc thật quá khinh người, lẽ nào Nhật xuất chi quốc ta không còn ai sao?!"
"Xin tướng quân bớt giận." Tùng Bình Tín Minh, Mục Dã Trung Tinh cùng đám trắc dụng nhân và tiểu đồng đều vội vàng quỳ rạp xuống, sợ rằng chỉ cần chậm một chút sẽ phải hứng chịu cơn thịnh nộ của tướng quân Đức Xuyên Gia Tề.
Đức Xuyên Gia Tề đứng đó thở hổn hển. Thực ra, trong bản "Giang Hộ nhị thập nhất điều" này, có vài điều khoản ngài ta thấy khá ổn. Chẳng hạn như điều khoản cho phép các thương nhân do Mạc phủ chỉ định bán vải vóc, lương thực, muối, tơ lụa, trà... và Mạc phủ được hưởng hai phần lợi nhuận.
Hay như việc cho phép người của Hoa Hạ Thiên Triều thuê mướn lãng nhân hoặc dân nghèo, tất nhiên là có trả thù lao.
Hai điều này khiến Đức Xuyên Gia Tề vô cùng hài lòng. Suy cho cùng, Nhật Bản vừa trải qua nạn đói kinh hoàng mang tên "Thiên Minh cơ cẩn". Do thuế khóa nặng nề và sự bóc lột của lãi suất cao, nông dân phải bỏ ruộng đất chạy trốn, đất đai hoang hóa, kinh tế của các lãnh chúa phá sản. Võ sĩ cấp thấp ngày càng nghèo túng, võ sĩ cấp cao thì sống xa hoa, nợ nần chồng chất. Quan thương cấu kết, chính sự Mạc phủ hủ bại, hối lộ hoành hành, cộng thêm thời tiết khắc nghiệt và núi lửa Thiển Gian phun trào, cuối cùng dẫn đến nạn đói Thiên Minh. Chỉ trong năm năm ngắn ngủi từ 1783 đến 1787, số người chết đói, chết bệnh lên tới hơn một triệu mười vạn người. Đồng thời, các cuộc bạo động của thị dân và khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp cả nước, bao gồm cả Giang Hộ và Đại Phản.
Nếu có thể nhập khẩu lương thực từ bên ngoài, thì nạn đói như vậy sẽ không bao giờ tái diễn. Còn tơ lụa và trà chính là thứ mà các Đại danh cùng sĩ tộc công khanh yêu thích. Về phần muối, đó cũng là thứ Nhật Bản khan hiếm. Dù Nhật Bản bốn bề giáp biển, nhưng do khí hậu nên việc sản xuất muối ăn vô cùng khó khăn...
Tóm lại, những thứ này giờ được bán vào Nhật Bản không chỉ giúp người dân nâng cao mức sống, mà còn giúp uy tín của Đức Xuyên Gia Tề tăng cao. Quan trọng hơn cả, hai phần lợi nhuận đó sẽ chảy thẳng vào túi của vị tướng quân này.
Hãy thử nghĩ xem, một quốc gia cần bao nhiêu tơ lụa và trà, cần bao nhiêu lương thực và muối? Đức Xuyên Gia Tề nhắm mắt lại, dường như đã nghe thấy tiếng tiền bạc va chạm vào nhau đầy êm tai.
Còn việc cho phép người Thiên Triều thuê mướn lãng nhân và dân nghèo, điều này lại càng được Đức Xuyên Gia Tề giơ hai tay tán đồng. Bởi lẽ hiện nay, giai cấp võ sĩ đã phân hóa rõ rệt, một lượng lớn lãng nhân và dân nghèo mất đất hoặc bị lãi nặng bóc lột đến mức phải lưu vong trở thành yếu tố bất ổn nhất trong nước. Hơn nữa, đám người này thường tụ tập về các thành phố lớn, hở chút là bạo động, khiến người ta đau đầu vô cùng.
Tất nhiên, có những điều khoản khiến Đức Xuyên Gia Tề vui vẻ, nhưng cũng có không ít điều khoản khiến ngài ta cảm thấy khó chịu, thậm chí là nhục nhã. Đến mức ngài ta giận đến nỗi quên cả việc tra xét xem tại sao trên bản hiệp ước mà sứ giả Thanh quốc đưa tới lại không đề "Đại Thanh Đế quốc" mà là "Hoa Hạ Thiên Triều".
Nếu không phải vì sự kiêu hãnh của một vị tướng quân buộc ngài ta phải giữ phong độ, có lẽ ngài ta đã nhảy dựng lên chửi bới như một mụ đàn bà đanh đá ngay tại Bản Hoàn – tư dinh của mình.
"Nhật xuất chi quốc ta hàng trăm năm nay chưa từng xưng thần nạp cống cho bất kỳ quốc gia nào. Hãy bảo hắn cút khỏi Giang Hộ, những điều khoản trên... không thể chấp nhận được." Đức Xuyên Gia Tề sau khi thèm thuồng nhìn qua vài điều khoản, chỉ đành đau đớn ném bản hiệp ước xuống sàn.
"Tướng quân, thần sẽ đi thông báo cho sứ giả Thanh quốc ngay, chỉ là..." Tùng Bình Tín Minh mồ hôi nhễ nhại trên trán, lo lắng ngước nhìn vị tướng quân đại nhân vốn có tính khí thất thường này.
"Chỉ là cái gì?" Đức Xuyên Gia Tề mất kiên nhẫn hỏi.
"Vị sứ giả đó có nói, nếu tướng quân không đồng ý ký hiệp ước này, thì mọi hậu quả, Nhật xuất chi quốc ta phải tự gánh chịu." Tùng Bình Tín Minh vội vàng giải thích: "Vị sứ giả Thanh quốc đó từng nói, Thanh quốc đã phái một hạm đội gồm ba mươi chiến hạm đang trên đường tới nước ta."
"Nani?" Miệng Đức Xuyên Gia Tề suýt nữa thì ngoác đến tận mang tai, ngài ta phá lên cười cuồng dại: "Trung lão, ba mươi chiến hạm thì làm được gì? Chẳng lẽ chúng tưởng ba mươi chiến hạm là có thể bắt ta khuất phục sao? Đúng là đồ ngu xuẩn, ngu xuẩn tột cùng!"