Nơi ngõ nhỏ bình lặng phía Bắc thành Kế, có một căn nhà cấp bốn đơn sơ, thoạt nhìn chẳng khác gì trăm ngàn hộ gia đình bình dân khác. Gia chủ là một lão giả thọt chân, trong nhà nuôi hai đứa trẻ, một lớn chừng bảy tuổi, một nhỏ tầm bốn năm xuân xanh. Điều khiến xóm giềng lấy làm lạ là nữ chủ nhân nhà này quanh năm vắng bóng, họa hoằn mới về một đôi lần nhưng cũng kín cổng cao tường, khiến lân bang dù ở cạnh nhiều năm vẫn chưa rõ mặt mũi ra sao.
Thiên hạ nhìn vào, cứ ngỡ cảnh "âm thịnh dương suy", nữ nhân bôn ba bên ngoài gánh vác giang sơn, còn nam nhân lại cam phận "ăn cơm mềm", ở nhà trông trẻ. Dẫu thời thế nay đã khác, nữ nhi Đại Hán ra ngoài làm việc là chuyện thường tình, nhưng những bậc nam nhi có chút gia thế hoặc thân phận đều chẳng muốn thê tử phải lộ diện phong trần. Kẻ làm trụ cột, dẫu nghèo khó cũng phải nỗ lực gánh vác gia đình, chứ chẳng ai như gã thọt này.
Dẫu lời ra tiếng vào, thậm chí có kẻ ác khẩu chế diễu ngay trước mặt, nhưng gã thọt kia tính khí lại cực tốt, lúc nào cũng nở nụ cười hiền lành, ngày ngày bình thản chịu thương chịu khó chăm chút cho hai đứa nhỏ.
Nào ai hay biết, gã thọt chân kia chẳng phải hạng tầm thường, mà chính là vị Thôn trưởng của "Đệ nhất thiên hạ thôn" danh trấn một thời, Đại nghị viên Hà Đại Hữu của quận Tích Thạch. Thê tử lão lại càng là nhân vật hô phong hoán vũ: đương kim Thiếu tướng Sư trưởng của quân chính quy Đại Hán, thống lĩnh năm ngàn thiết kỵ Hung Nô dũng mãnh như lang như hổ.
Cổ Lệ quanh năm cầm quân chinh chiến, việc cửa nhà tự nhiên phải có người quán xuyến. Từ ngày về Kế Thành, Hà Đại Hữu vẫn giữ chức Đại nghị viên thường trú của quận Tích Thạch, nhưng vì chức trách đòi hỏi phải bôn ba qua lại giữa hai nơi, lão thấy mình không kham nổi nên đầu năm nay đã dứt khoát từ quan, lui về làm một nam nhân của gia đình, toàn tâm toàn ý chăm lo hậu phương.
Đương nhiên, Vương thượng Cao Viễn vốn trọng tình trọng nghĩa, không bạc đãi công thần. Dẫu Hà Đại Hữu không còn làm nghị viên, Ngài vẫn ban cho lão cái danh Tham nghị Đại hội nghị, cốt để lão hưởng bổng lộc mà an hưởng tuổi già, chẳng cần nhọc lòng chinh chiến.
Lân bang quanh đó làm sao thấu hiểu được vị hàng xóm lam lũ kia lại là một nhân vật có máu mặt trong toàn cõi Đại Hán. Họ không thể tưởng tượng nổi gã đàn ông thọt chân, ngày thường gặp người là cười híp mắt ấy, lại là bậc đại nhân có thể diện kiến Vương thượng bất cứ lúc nào. Càng không hay biết rằng, mỗi độ lễ Tết, hai gã thanh niên mặc thường phục đến chúc Tết nhà lão, một người là Thống lĩnh Vệ đội của Vương thượng - Hà Vệ Viễn, người kia là Hà Vệ Cao, nay cũng đã là Thiếu tướng Sư trưởng trong quân Cận vệ. Họ Hà một môn tam tướng, ai nấy đều nắm thực quyền, dẫu so với những tân quý tộc trong vương quốc cũng là hàng danh gia vọng tộc hàng đầu.
Vậy mà gia quy nhà họ lại kín kẽ vô cùng. Ngay cả Cổ Lệ mỗi khi chinh chiến trở về cũng chỉ vận thường phục, gột rửa bụi đường, khoác lên mình tấm áo tơ trắng, dịu dàng vào bếp nấu canh. Nhà họ vốn ít khách khứa qua lại. Thực ra Hà Đại Hữu vốn tính hào sảng, hiếu khách, nhưng Cổ Lệ xuất thân nơi cung đình quyền biến, hiểu rõ đạo trung dung. Nhà họ nay đã là tướng môn thế gia, kỵ nhất là giao du quá rộng mà chuốc lấy thị phi. Nghe lời thê tử, Hà Đại Hữu sống ẩn dật, hiếm khi bước chân ra khỏi cửa.
Thế nhưng năm nay, xóm giềng bỗng thấy lạ khi ngôi nhà vốn vắng vẻ như chùa Bà Đanh nay lại dập dìu xe ngựa, đông đúc như trẩy hội. Từ sáng sớm, khách khứa đã lục tục kéo đến, nghe giọng điệu thì toàn là người phương xa tới.
Tiết tháng Chạp, Kế Thành vừa trải qua trận tuyết đầu mùa. Tuyết không rơi dồn dập nhưng cứ âm ỉ rắc xuống, lớp cũ chưa tan lớp mới đã phủ, nhuộm trắng cả kinh kỳ. Những con đường lát xi măng phẳng phiu phát huy tác dụng rõ rệt, tuyết được quét sạch vào hai bên đường, bị lũ trẻ đắp thành những hình người tuyết ngộ nghĩnh, tạo nên một cảnh sắc khác lạ.
Trong sân nhà Hà Đại Hữu cũng có một bức tượng tuyết, nhưng lại là hình ảnh một nữ tướng quân uy phong lẫm liệt đang cưỡi chiến mã xông trận. Đây là thành quả cả ngày trời của ba cha con lão. Vì tuyết trong sân không đủ, Hà Đại Hữu còn phải ra ngoài phố gánh thêm hai chuyến về mới hoàn thành.
Khách khứa vào cửa, ai nấy đều cung kính liếc nhìn bức tượng tuyết ấy. Họ thừa hiểu, người tuyết này là để dành cho ai. Đám người này cũng chẳng phải hạng thường, mà đều là các vị Đại nghị viên đến từ quận Tích Thạch.
Kể từ khi chế độ Đại nghị hội được luật pháp hóa, qua ba năm tôi luyện, các quận đều đã nhận rõ tầm quan trọng của nó. Các quận hội quán tại Kế Thành vốn dùng để kinh doanh, đón tiếp đồng hương, nhưng cứ đến tháng Chạp là đóng cửa tạ khách để dành toàn lực tiếp đón các nghị viên về dự hội nghị thường niên. Các nghị viên dẫu ngày thường có mâu thuẫn, tranh chấp đến đâu, thì lúc này cũng phải đồng tâm hiệp lực vì lợi ích của địa phương mình. Các quận lớn còn liên kết với nhau để thao túng các đề án, tạo thành một cục diện chính trị vô cùng sôi động.
Đất nước Đại Hán bao la, kinh tế mỗi vùng một khác. Một chính sách của triều đình nghiêng về đâu sẽ mang lại lợi ích thiên lộc cho vùng đó. Bởi thế, đây là lúc Kế Thành náo nhiệt nhất, tin tức cũng nhiễu loạn nhất. Những chuyện các nghị viên tranh cãi, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay trở thành đề tài đàm tiếu nơi đầu đường xó chợ. Tờ "Đại Hán báo tuần" cũng nhờ những tin tức lá cải, bát quái bên lề hội nghị mà lượng tiêu thụ tăng vọt. Dân chúng có thể không hiểu sâu về pháp lệnh, nhưng lại cực kỳ hào hứng với những chuyện thâm cung bí sử này.
Ngày nay, người dân Đại Hán biết chữ ngày một nhiều. Trẻ nhỏ đến tuổi đều bắt buộc phải đến trường học đường, nếu gia đình nào không chấp hành sẽ bị quan phủ hỏi tội. Ở Đại Hán, tiểu học không mất học phí, lại còn được triều đình phụ cấp cơm nước. Dẫu ban đầu có gia đình vì tiếc sức lao động của con trẻ mà trốn tránh, nhưng sau vài vụ xử phạt nghiêm khắc, hiện tượng này đã tuyệt diệt.
Dân trí nâng cao, báo chí càng thêm đắt khách. Ngay cả những bậc cha mẹ mù chữ cũng mua một tờ báo về để con cái đọc cho nghe. Chỉ riêng tại Kế Thành, mỗi kỳ báo tiêu thụ hơn mười vạn bản - một con số kinh hoàng với một thành phố hơn một triệu dân. Cứ mười người thì có một người biết chữ, đây quả thực là một kỳ tích giữa thời đại này.
Đó cũng chính là thành tựu khiến Cao Viễn tự hào nhất, dẫu cái giá phải trả cho quốc khố là không hề nhỏ. Hiện tại, Ngài chỉ có thể miễn phí giáo dục vỡ lòng, còn tiến xa hơn nữa thì lực bất tòng tâm. Nhiều đứa trẻ sau khi biết chữ đã phải rời ghế nhà trường để bước vào cuộc mưu sinh.
Các nghị viên đương nhiên chẳng quan tâm đến việc họ là nguồn vui cho dân chúng. Họ đến đây với tinh thần hăng hái như ra chiến trường, sẵn sàng quyết chiến vì lợi ích của quận nhà. Nếu không, năm tới kẻ phải xách gói về vườn chính là họ.
Nhưng với các nghị viên quận Tích Thạch, họ chẳng cần lo lắng quá nhiều. Nếu Kế Thành là trung tâm chính trị, thì Tích Thạch chính là huyết mạch kinh tế của Đại Hán. Là nơi phát tích của Chinh Đông quân, quận Tích Thạch tập trung hầu hết các xưởng binh khí và các đại gia tộc kinh thương hàng đầu. Sự giàu có của họ là không bàn cãi. Tại hội nghị, họ không phải đi cầu xin viện trợ, trái lại còn là đối tượng để các vùng khác lôi kéo, bởi số lượng nghị viên của Tích Thạch quận đông nhất nhì cả nước với ba mươi sáu ghế.
Bất kỳ đề án nào nếu nhận được cái gật đầu của toàn bộ nghị viên Tích Thạch, coi như đã nắm chắc phần thắng. Bởi đằng sau những lá phiếu ấy là trọng lượng của cả một nền kinh tế hùng mạnh.
Với các nghị viên quận Tích Thạch, mỗi lần về Kế Thành là một chuyến đi vinh hiển. Và địa điểm họ thường lui tới nhất, ngoài hội quán, chính là tư dinh của Hà Đại Hữu. Dẫu đã lui bước, nhưng tầm ảnh hưởng của lão đại thôn trưởng này vẫn sừng sững như thái sơn. Đến đây, họ có thể dò xét được tâm ý của Vương thượng Cao Viễn đối với các đề án năm nay, từ đó mà định ra kế sách ứng phó, vừa mang lại lợi ích cho quận nhà, vừa không làm phật ý bậc quân vương.