Hoàng Nguyên Thọ thân là thành chủ Lâu Lan thành, tất nhiên không xử lý chuyện nhỏ nhặt như an bài tội tù vào thành, ngồi phủ nha làm việc tới khi trời sẩm tối mới đi ra úng thành xem rốt cuộc có bao nhiêu người tới.
Mặt trời lặn thì phải đóng cửa, đó là cấm lệnh, không cần biết bao người vào thành, cổng thành phải đóng đúng giờ, còn bao nhiêu ngày mai tính tiếp.
Úng thành chật kín người, Hoàng Nguyên Thọ ngạc nhiên, theo lý mà nói thì những người này tới từ sáng, đến giờ vào gần hết rồi, sao trông như vừa mới bắt đầu.
Lôi tuần kiềm nhìn thấy Hoàng Nguyên Thọ vội vàng chạy tới:” Phủ tôn, đám tội tù ...”
Hoàng Nguyên Thọ lạnh lùng cắt ngang:” Tới Cáp Mật rồi sẽ là con dân Cáp Mật, dù có tội nghiệt gì thì đi hơn vạn dặm đường cũng đủ trừng phạt rồi, giờ ngươi rời thành, cổng thành sắp đóng, chuyện hôm nay chỉ tới đây thôi.”
Lôi tuần kiểm không cam tâm nhìn một tráng hán xoay lưng đứng trên tường thành, tiếng tù và vang lên, báo hiệu cổng thành sắp đóng. Vốn tranh luận vài câu, Lôi tuần kiểm vội vàng nhảy chiến mã, dẫn bộ hạ rời thành, quân đội ban đêm không được ở trong thành, đây là cấm lệnh.
Tư lại Lão Hà thấy phủ tôn đại nhân không cao hứng, vừa định tới gần giải thích, thì phát hiện Hoàng Nguyên Thọ đang ngây ra nhìn một hán tử gánh hai bó củi đi vào thành.
Không chỉ Hoàng Nguyên Thọ, tất cả sai dịch tư lại trong thành đều ngây ra nhìn.
Đồng Tử không nghĩ nhiều, cha cùng thê tử, hài tử dọn dẹp nhà cửa, muốn đốt bếp nấu cơm ăn, phát hiện trong nhà cái gì cũng có, chỉ không có củi.
Trước khi vào thành hắn nhìn thấy có một khu rừng hồ dương, thế là vác rìu đi chặt một gánh củi, vội vàng quay về trước khi trời tối.
Có đám người nhìn chằm chằm làm Đồng Tử rất thiếu tự nhiên, bước chân nhanh hơn, ai rảnh đi quan tâm tới đám ngốc, lão bà hài tử đang đói.
Hoàng Nguyên Thọ nhìn theo bóng lưng Đồng Tử rất lâu, lẩm bẩm:” Bận rộn hơn một năm, tòa thành này rốt cuộc cũng có được khó lửa nhân gian.”
Những người khác cũng gật gù đầy xúc cảm, tất nhiên bọn họ tới đây xây thành khai hoang cũng phải đốt cúi nấu cơm, nhưng đây là cư dân thực sự đầu tiên trong thành, ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn, thấy vất vả cả năm cuối cùng được đền đáp.
Lâu Lan thành là yếu địa quân sự phía tây bắc Cáp Mật, khống chế Bồ Xương hải và Lâu Lan cổ đạo, cho dù Mục Tân có thuận dòng Khổng Tước hà mà xuống cũng phải công phá Lâu Lan thành mới tiến sâu được vào Cáp Mật.
Khi xây tòa thành này Thiết Tâm Nguyên yêu cầu cư dân trong thành phải do người Tống chiếm tuyệt đại đa số, đảm bảo tòa thành cách Thanh Hương thành xa nhất này dù dưới tình huống không có giám sát hữu hiệu cũng giữ được lòng trung thành.
Lâu Lan cổ thành xưa kia cũng được xây dựng bên Bồ Xương hải, từ xưa Lâu Lan là yết hầu của Tây Vực. Đáng tiếc sau khi Khổng Tước hà đổi dòng, Bồ Xương hải dần khô cạn, Lâu Lan quốc chính là Thiện Thiện quốc sau này bị người Hồi Hột công phá, quốc gia này hoàn toàn biến mất trong sa mạc.
Đồng thời dẫn theo sự biến mất của con đường tơ lụa.
Nước là nguồn sinh mệnh của sa mạc hoang mạc, không có nước, sinh mệnh không thể sinh tồn ở mảnh đất này.
Thiết Tâm Nguyên đặt tên thành này là Lâu Lan, gửi gắm vào nó kỳ vọng không nhỏ.
Cha con Đồng Bản tới Lâu Lan thành thì đã là tháng bảy, vừa vặn là lúc thời tiết tốt nhất trong năm.
Đám tội vù vốn nhốn nháo không ngừng, sau khi vào thành nhận nhà, dần dần cháp nhận số mệnh.
Hoàng Nguyên Thọ ra lệnh, những nữ tội tù trong vòng một tháng phải gả cho người, vượt thời hạn này quan phủ sẽ tiến hành phân phố cho họ.
Thiết Tâm Nguyên rất không quen với hành vi này, nhưng không lên tiếng phản đối. Chuyện này ở Đại Tống không lạ, nữ tử quá tuổi không cưới gả sẽ bị quan phủ phân phối, vì một hạng quan trọng trong đánh giá chính tích địa phương là nhân khẩu gia tăng.
Huống hồ đám quan viên Đại Tống căn bản không coi nữ tử trải qua lao ngục là con người, thấy quốc gia phân phối trượng phu cho đã là ân điển rồi.
Thực tế Hoàng Nguyên Thọ chỉ cho những tội tù Đại Tống mười ngày, Lâu Lan thành còn vô khối công việc phải làm, không có thời gian cho đám nam nữ kia đỏng đảnh kén chọn.
Vì thế loại nhà có người già, có cả lão bà như Đồng gia được quan phủ trưng dùng làm nhà nữ, trong vòng ba ngày đã tiến đi mười lăm tân nương tử.
Sống khổ cực mà có tư vị là thiên phú của người Tống, người khác không học theo được, ít nhất trong mắt người Hồi Hột, người Tống ở nơi gần như địa ngục lại sống cuộc sống mà bọn họ khao khát.
Trong Bồ Xương hải không có nhiều cá, vì cái hồ này chỉ hình thành được gần một năm, vì thế nhìn người Tống xách xâu cá nhỏ xíu về, người Hồi Hột nhìn họ như nhìn kẻ ngốc.
Người Hồi Hột không hiểu, con cá nhỏ xíu dài có một tấc, vì sao tẩm ướp lại ngon như thế.
Bọn họ càng không hiểu mảnh đất đen xì ở Lâu Lan mọc ra cỏ mà bò dê cũng không ăn, vì sao sao người Tống trồng rau dại ở đó, làm thành bánh bao rau ngon như thế?
Thời gian trôi đi, khi cỏ cây bắt đầu khô, cuộc sống của người Tống và người Hồi Hột ở Lâu Lan thành phát sinh biến hóa rất lớn, lương thực được quan phủ phát như nhau, nhưng người Hồi Hột kinh ngạc phát hiện, trên bàn cơm của người Tống, thức ăn luôn phong phú hơn của họ rất nhiều.
Quốc gia khi giàu có liền có tư cách ngang ngược, muốn cách mạng thì làm cách mạng, muốn biến cách thì biến cách, chỉ cần cho bách tính ăn no bụng, mọi người vui vẻ ôm bát cơm ngồi ở chân tường nhìn quốc vương và các đại lão đấu đá nhau như xem khỉ diễn trò.
Muốn làm gì thì làm, miễn là đừng xông tới đập vỡ bản cơm của họ là được, càng đấu nhau hung dữ thì bách tính càng thích xem.
Thế nhưng…
Cái gì, trẻ con phải đi học?
Hả, trưa cho hai cái bánh ăn?
Cái này phải ủng hộ, nếu mà trẻ con không đi học vẫn được cho hai cái bánh ăn càng tốt hơn.