Một người Tây Vực vốn đứng bện dây thừng ngoài sân, đợi Lãnh Bình đi rồi liền vào trong lều của Mạnh Nguyên Trực, bỏ mũ da ra, lộ cái đầu trọc lốc, nói:” Không thể giữ Hạ Nguyên Ngũ nữa.”
Mạnh Nguyên Trực nhạt giọng nói:” Không chỉ hắn, phàm là thứ họa hại đều không thể giữ lại, niệm tình hắn vạn dặm xa xôi tới Tây Vực nên ta chưa xử lý, giờ hắn lại làm chuyện ngu xuẩn gì nữa?”
Người kia vỗ vỗ cái đầu trọc lóc:” Hắn bất mãn với an bài của đại vương, nếu đại tướng quân không ra tay được thì để ta làm.”
Mạnh Nguyên Trực cười lớn:” Có gì mà không ra tay được, chẳng qua lo giờ ra tay khiến kẻ khác bất an.”
“ Một đám đánh thuê không gốc rễ, cũng chẳng thể khơi lên được sóng gió gì.” Người Tây Vực trọc đầu nói:” Tối nay đại vương tới quân doanh, bất kể thế nào Đại tướng quân cũng đảm bảo tuyệt đối an toàn. Hừ, đám người này không biết điều, nếu không có đại vương cưu mang thì chúng bị chặt đầu ở Đại Tống hết rồi.”
“ Không phải nói ngài, nhưng người Tống có thói xấu coi mình cao hơn người khác một bậc, ta đoán chừng ở Đại Tống hắn ngoan hơn chó, người Cáp Mật chúng ta chào đón chúng, coi chúng như người nhà, chúng lại coi mình ở trên người khác, cả một đám không biết điều, cho rằng với thân phận mình phải đứng trên đầu trên cổ người khác. Loại người này không được tồn tại ở Thanh Hương cốc.”
“ Đợi khi tân quân của Thanh Hương cốc chúng ta luyện thành, vứt bọn chúng đi cũng không tiếc.”
Mạnh Nguyên Trực gật đầu không nói thêm, Hạ Nguyên Ngũ là thành phần quá khích, tên Thiết Thập Tam này cũng thế, những người theo Thiết Tâm Nguyên từ ngày đầu như vậy cực kỳ sùng bái y, tới mức từ bỏ vinh quang đi làm cận vệ nho nhỏ, không chấp nhận có kẻ đối đầu với tộc trưởng của mình, dù chỉ là trong ý nghĩ.
Buổi chiều Thiết Tâm Nguyên tới thành Cáp Mật, người đầu tiên mà y tiếp kiến là Âu Dương Tu đã tới trước năm ngày.
Âu Dương Tu tháp tùng Thiết Tâm Nguyên lên tường thành Cáp Mật, tuy cưỡi ngựa vẫn phải đi một canh giờ mới hết.
Tới Vọng Kinh lâu, Thiết Tâm Nguyên vỗ cột trụ lớn nói:” Trong một năm xây lên được tòa thành lớn thế này, không tầm thường, tướng quốc vất vả rồi.”
“ Không tiếc nhân công, không tiếc tiền bạc, hơn năm vạn người làm ngày làm đêm, mười vạn lừa ngựa chết mệt, có thành tích này cũng chẳng lạ.”
Lời này mang theo chút tức giận, Thiết Tâm Nguyên mỉm cười:” Quốc tướng đang phiền não vì chuyện lính đánh thuê?”
Âu Dương Tu chắp tay:” Mùa đông vừa qua xảy ra một trăm bảy bảy vụ mệnh án, tám phần liên quan tới lính đánh thuê.”
Thiết Tâm Nguyên gật gù:” Thế là tốt hơn ta đã dự liệu, một tòa thành hai mươi vạn người sinh sống, ta không thể yêu cầu quá cao.”
Âu Dương Tu thở dài:” Quả thực trong tòa thành ăn uống không đủ, mùa đông chết có hơn trăm người là công lớn với xã tắc, nhưng tính chất sự việc thì không đơn giản. Lính đánh thuê phát triển quá độ đã thành nhọt độc rồi, không chỉ có mệnh án, còn có hơn nghìn vụ án đả thương người, năm trăm vụ án phóng hỏa, đều liên quan tới lính đánh thuê.”
“ Hơn nữa đại bộ phận đều là lĩnh đánh thuê người Tống tự cho mình cao hơn người một bậc, diễn biến thành va chạm giữa các tộc người, xin hỏi đại vương định xử lý ra sao?”
Thiết Tâm Nguyên xoa cái mũi bị gió lạnh làm đỏ ửng:” Nói như đã có rất nhiều người bị quan phủ bắt?”
“ Vâng, nhưng vẫn còn một số được quan quân bao che, quan phủ không vào quân doanh được, đám ngựa hại bầy này không trừ, không thể dẹp yên dân phẫn. Trong mắt lão phu bất kể bách tính không phân man di và người Tống hay người Hán, tất cả đều như nhau, mong đại vương không nên thiên vị.”
Thiết Tâm Nguyên mỉm cười, vị lão tiên sinh này cũng biết dùng thủ đoạn để đạt mục đích rồi.
Đừng nghe Âu Dương Tu luôn mồm đòi đối xử người Tây Vực và người Hán giống nhau, nhưng luật hộ tịch với ba màu khác nhau ở Cáp Mật chính là do ông ta đưa ra.
Người Tống, người Hán cùng những người trong thành Thanh Hương theo Thiết Tâm Nguyên từ đầu được cấp hộ tịch vàng.
Có thứ này, họ được tự do sinh sống, kinh doanh trong giới hạn luật pháp, nam phải nhập ngũ, dù tương lai làm nghề gì thì cũng phải vào quân đội năm năm, bọn họ được hưởng thuế thấp, được tham gia khảo thí thành quan viên.
Có thể nói họ là người tự do đích thực.
Người đóng thuế quá mười quan, có đất đai nhà cửa của mình, sống ở Cáp Mật trên hai năm thì được nhận hộ tịch xanh, bọn họ đa phần là cư dân các bộ tộc nhỏ bị chinh phục và thương cổ sống ở Thanh Hương thành.
Bọn họ được phép tiến hành mua bán ở khu thương nghiệp quy định, chỉ cần thành thật làm việc buôn bán mười năm, một người trong gia đình sẽ được chuyển thành hộ tịch vàng.
Bọn họ phải gánh thuế nặng nhất, trong quân đội và quan phủ chỉ có thể làm quân đầu và tư lại tầng thấp, muốn làm quan viên, trừ khi lập công lớn, hoặc nộp thuế với số lượng khổng lồ, nếu không là vọng tưởng.
Con người cầm hộ tịch đỏ, bọn họ không được tự ý rời khỏi nơi mình sinh sống qua ba mươi dặm mà không được quan phủ phê chuẩn, nếu không bị coi là phản nghịch bỏ trốn, bất kỳ ai cũng có quyền bắt lấy đem lên quan phủ.
Quan phủ đảm bảo ruộng đất bọn họ khai hoang được thuộc về bọn họ, đảm bảo cho bọn họ được sở hữu con thú đi săn được, đảm bảo con cái họ có quyền được đi học.
Nếu như bọn họ thuần thục được sử dụng văn tự nước Tống, hộ tịch sẽ trở thành màu xanh, còn nếu là quân nhân, lập công ba cấp sẽ lập tức chuyển hộ tịch xanh.
Quy định như vậy nhìn có vẻ rất công bằng, ai cũng có đường tiến lên, chỉ cần nỗ lực là có vô số khả năng.
Đáng tiếc đó chỉ là ảo tưởng.
Người cầm hộ tịch vàng chỉ cần mười năm sẽ đứng vững trên đỉnh kim tự tháp của xã hội, chỉ tay sai phái người sổ xanh sổ đỏ.
Đó chính là giai cấp.
Người Tống, người Hán và người Tây Vực theo Thiết Tâm Nguyên từ ban đầu thì đắc ý, họ là người hưởng lợi, không cao hứng mới là lạ.
Thương cổ hộ tịch xanh lần đầu tiên cảm thụ được sự quan tâm của quan phủ, thấy mình nên có bảo đáp là tất nhiên, đồng thời bừng bừng quyết tâm tiến lên.
Người sổ đỏ cũng thế, so với Hồi Hột vương chỉ đòi tiền, đòi lương thực, đòi mỹ nữ mà nói, Hồi Hột vương là thánh nhân, một mình lấy lương thực ra nuôi sống trăm vạn người Hồi Hột.
Nhưng sự bình yên do sức hút quân vương sinh ra đó, trời biết duy trì được bao năm, tương lai người Hồi Hột nổi dậy tấn công kinh đô là chắc chắn, vì ngay từ đầu cái gốc đã lệch rồi.
Còn nếu cho mọi người bình đẳng như nhau, những người đã hi sinh lương thực của mình đóng góp giúp y vượt qua khó khăn sẽ nhảy ra chửi bới, rồi lập tức có người bất mãn tạo phản.
Thiết Tâm Nguyên biết cái gốc đã lệch, nhưng y chỉ có thể từ từ uốn nắn để trông cho nó thẳng mà thôi:” Thế này đi, đánh tám mươi gậy, đầy tới Hoàng Kim cốc làm khổ sai, ta biết tiên sinh tín phụng câu loạn thế dùng trọng hình, nhưng Cáp Mật ta không phải đang loạn thế, mà nên xử phạt nhẹ.”