Không lâu sau, nhóm lãnh đạo lần lượt tiến vào phòng họp, buổi tuyển chọn động cơ cho máy bay vận tải quân sự hạng nặng nội địa chính thức bắt đầu.
Mở đầu là phần phát biểu của lãnh đạo, tiếp theo đó là đại diện Tập đoàn Động cơ Hàng không Trung Quốc (AECC), tổng công trình sư của ba mẫu động cơ lần lượt giới thiệu chi tiết về thông số kỹ thuật của từng loại mà họ phụ trách.
Mặc dù là đơn vị thiết kế máy bay vận tải hạng nặng, nhưng tổng công trình sư Đường và đội ngũ của ông đã sớm nắm giữ tài liệu cơ bản của cả ba mẫu động cơ. Tuy nhiên, các thủ tục hành chính vẫn cần phải thực hiện, hơn nữa trong các tài liệu nội bộ, có những dữ liệu chưa chắc đã được công khai hoàn toàn. Rốt cuộc, cả ba mẫu động cơ này đều chưa hoàn thiện, đặc biệt là hai mẫu động cơ 16 tấn và 20 tấn chỉ mới bắt đầu nghiên cứu chế tạo không lâu, trong khi mẫu WS-18 thì đã gần hoàn thiện.
Người đầu tiên lên đài là Lâm Kiến Dân, tổng công trình sư dự án WS-18 thuộc Công ty Động cơ Dung Phát. Vị tổng công trình sư hơn bốn mươi tuổi này bước lên bục, bắt đầu kết hợp với trình chiếu để giới thiệu về WS-18.
Động cơ WS-18 có nguyên mẫu là động cơ D30-KP2 của Nga. Đây là dòng động cơ phản lực cánh quạt hệ số đường vòng thấp, được Cục Thiết kế Soloviev nghiên cứu chế tạo cho máy bay vận tải Il-76, với lực đẩy tối đa là 12,5 tấn, hệ số đường vòng khá nhỏ, chỉ đạt 2,4:1. Tuy nhiên, tuổi thọ của nó khá ổn định, sau khi đại tu có thể đạt tới 3.000 giờ.
Hiện tại, dòng động cơ D30-KP2 này đã được Trung Quốc nhập khẩu với số lượng không nhỏ. Ngoài việc làm động cơ dự phòng cho máy bay vận tải Il-76, nó còn được lắp đặt trên dòng máy bay ném bom tầm trung và xa H-6K mới nhất.
Tất nhiên, số lượng đơn đặt hàng giữa Trung Quốc và phía Nga về dòng động cơ này không quá lớn. Hơn nữa, kỹ thuật động cơ hàng không của Trung Quốc những năm gần đây đã có những bước đột phá đáng kể, nên Công ty Dung Phát đã bắt tay vào sao chép dòng động cơ này, chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất H-6K.
Về mặt khác, Công ty Dung Phát cũng rất khao khát giành được đơn đặt hàng cho dự án máy bay vận tải hạng nặng nội địa. Bởi lẽ, nếu WS-18 chỉ được dùng làm động lực cho H-6K thì số lượng đơn hàng sẽ không cao. Hơn nữa, phía Nga vẫn đang nỗ lực đẩy mạnh tiêu thụ động cơ D30-KP2; một khi cấp trên quyết định mua thêm dòng động cơ này, thì tương lai của WS-18 coi như chấm dứt.
Vì vậy, Công ty Dung Phát đương nhiên hy vọng máy bay vận tải hạng nặng nội địa có thể chọn dùng động cơ WS-18. Trước hết, trong ba mẫu động cơ ứng viên, WS-18 là mẫu thành thục nhất, tiến độ nhanh nhất, muộn nhất là hai năm nữa có thể hoàn thành định hình và sản xuất hàng loạt quy mô nhỏ.
Sau khi trải qua quá trình thử nghiệm trên H-6K, mẫu động cơ này hoàn toàn khớp với tiến độ của máy bay vận tải hạng nặng, nên lần này Công ty Dung Phát đặt rất nhiều kỳ vọng.
Mặc dù so với hai mẫu động cơ còn lại, hiệu năng của WS-18 là yếu nhất, nhưng nó đã đủ để đáp ứng yêu cầu, dù sao thì nguyên mẫu của nó cũng đang được dùng trên máy bay Il-76 của Nga.
Chỉ là đối với một dòng máy bay vận tải chiến lược thế hệ mới, lực đẩy của WS-18 quả thực hơi thấp, đồng thời công nghệ cũng tương đối lạc hậu. Do thiết kế hệ số đường vòng có phần nhỏ, nên mức tiêu hao nhiên liệu của nó cũng tương đối cao.
Điều này đối với H-6K không phải là vấn đề lớn, bởi vì H-6 trước đây sử dụng động cơ WP-8, mức tiêu hao nhiên liệu còn cao hơn WS-18 nhiều. Sau khi thay thế bằng động cơ D30-KP2, không những lực đẩy tăng lên 30%, mà mức tiêu hao nhiên liệu còn giảm 20%, hành trình bay tăng thêm một phần ba. Do đó, mẫu WS-18 nội địa hóa dùng cho H-6K là hoàn toàn đủ dùng, bởi hiệu năng của WS-18 đã có những cải tiến nhất định so với nguyên mẫu.
Vì vậy, tổng công trình sư Lâm Kiến Dân đã tập trung nhấn mạnh vào ưu thế của động cơ WS-18, chẳng hạn như độ thành thục, tiến độ, và lực đẩy đã tăng thêm một tấn so với nguyên mẫu, hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu của máy bay vận tải quân sự hạng nặng nội địa.
Tiếp theo lên đài là Cao Vĩ Dân, tổng công trình sư của động cơ WS-20 với lực đẩy 16 tấn.
Động cơ WS-20 tuy về tiến độ và độ thành thục còn kém hơn WS-18, nhưng lực đẩy lại lớn hơn. 16 tấn đối với máy bay vận tải hạng nặng nội địa dường như là một giá trị lực đẩy rất lý tưởng.
Hơn nữa, động cơ WS-20 bắt nguồn từ động cơ Taihang đã được sản xuất hàng loạt và lắp đặt trên tiêm kích J-10, nên độ tin cậy được đảm bảo, vì cả hai đều dùng chung lõi động cơ. WS-20 áp dụng thiết kế hệ số đường vòng lớn, đạt tới con số 5, cao gấp đôi so với WS-18.
Do đó, động cơ WS-20 thực chất là một mẫu động cơ phản lực cánh quạt hệ số đường vòng lớn rất ưu việt. Nếu trên cùng một loại máy bay vận tải mà lắp đặt lần lượt WS-18 và WS-20, kết quả mang lại sẽ rất rõ rệt.
Động cơ WS-20 chắc chắn sẽ có mức tiêu hao nhiên liệu khi bay tuần tra thấp hơn đáng kể so với WS-18, ít nhất là giảm được 10%, còn mức tiêu hao nhiên liệu khi cất cánh thậm chí có khả năng chênh lệch hơn 30%. Hơn nữa, lực đẩy của WS-20 còn lớn hơn 2,5 tấn. Nhờ đó, cùng một mẫu máy bay vận tải, không những tốc độ tuần tra nhanh hơn mà lượng nhiên liệu tiêu thụ cũng ít hơn, dẫn đến tầm bay được mở rộng đáng kể.
Tất nhiên, lực đẩy lớn hơn cũng đồng nghĩa với việc có thể thiết kế máy bay với kích thước và trọng lượng lớn hơn, từ đó tăng khả năng chuyên chở.
Ví dụ như phương Tây đã thay thế động cơ D-30KP-2 bằng động cơ phản lực cánh quạt tỷ số đường vòng cao S90 mới trên dòng máy bay Il-76TD, giúp tầm bay tăng từ 3.600 km lên 4.300 km, hiệu suất được cải thiện rất rõ rệt.
Tổng công trình sư Cao Vĩ Dân hào hứng phát biểu: "Lực đẩy tối đa của động cơ phản lực cánh quạt tỷ số đường vòng cao WS-20 của chúng ta có thể đạt tới 160.000 Newton, cao hơn 40% so với động cơ D-30KP-2, trong khi mức tiêu hao nhiên liệu giảm hơn 10%. Điều này đồng nghĩa với việc dòng máy bay vận tải hạng nặng nội địa của chúng ta có thể chế tạo với quy mô lớn hơn, chở được nhiều hơn và bay xa hơn. Một điểm cực kỳ quan trọng nữa là, động cơ WS-20 sẽ được tích hợp hệ thống điều khiển kỹ thuật số toàn quyền tiên tiến nhất."
Dừng lại một chút, Cao Vĩ Dân tiếp tục: "Vì vậy, chúng tôi hy vọng máy bay vận tải hạng nặng nội địa sẽ sử dụng động cơ WS-20. Theo tính toán của chúng tôi, nếu trang bị WS-20, máy bay vận tải nội địa có thể đạt trọng lượng cất cánh tối đa 240 tấn, cùng tải trọng hữu ích vượt mức 65 tấn. Tất nhiên về mặt tiến độ, WS-20 có thể sẽ chậm hơn một chút và không kịp lắp đặt cho lô máy bay vận tải đầu tiên, nhưng hoàn toàn có thể trang bị cho lô thứ hai khi đã đạt trạng thái hoàn thiện. Máy bay chiến đấu J-10 của chúng ta chẳng phải cũng thực hiện theo phương thức đó sao? Vì vậy, chúng tôi hy vọng các vị lãnh đạo, bao gồm cả đơn vị thiết kế máy bay vận tải hạng nặng, sẽ đưa ra quyết định lựa chọn động cơ WS-20. Xin cảm ơn mọi người!"
Bài diễn thuyết của Cao Vĩ Dân rất truyền cảm. WS-20 quả thực là một mẫu động cơ tốt, nhưng để tạo ra một chiếc máy bay vận tải chiến lược thực thụ, sánh ngang với dòng "Bá Vương" có khả năng bay vòng quanh trái đất, thì mẫu động cơ này vẫn chưa đủ tầm. Cần biết rằng động cơ F117-100 sử dụng trên máy bay "Bá Vương" có lực đẩy lên tới gần 20 tấn. Nhờ đó, nó vừa đạt trọng lượng cất cánh tối đa 280 tấn, vừa sở hữu khả năng cất cánh đường băng ngắn ưu việt. Máy bay vận tải nội địa nếu chỉ sử dụng WS-20 thì không thể làm được điều đó, bởi sự chênh lệch về lực đẩy là quá lớn.
Do đó, đối với máy bay vận tải chiến lược nội địa, những động cơ phản lực cánh quạt có lực đẩy 20 tấn mới chính là nguồn động lực lý tưởng.