Phía sau Tổng sư Thẩm, màn hình điện tử hiển thị phương án thiết kế ba mặt cánh của họ. Mẫu máy bay này quả thực có nét tương đồng với chiến đấu cơ Su-37, nhưng phần cánh chính lại khác biệt, sử dụng kiểu cánh tam giác kép tương tự như tiêm kích J-7E, đồng thời tích hợp cánh biên điều phía trước (canard), còn cửa hút gió được thay đổi sang dạng DSI (Diverterless Supersonic Inlet) giống như trên F-22.
Phương án của Viện 601 thực sự theo đuổi tính cơ động cực cao, điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua bố cục khí động học.
Tổng sư Thẩm trước tiên cúi chào các vị lãnh đạo và hội đồng thẩm định đang có mặt, sau đó dõng dạc nói: "Kính thưa các vị lãnh đạo, các vị chuyên gia, như mọi người đã thấy, đây là phương án tôi mang đến đấu thầu. Phương án này là kết quả của hơn mười năm nghiên cứu dự bị, được thiết kế dựa trên nền tảng của thế hệ máy bay thứ tư. Trong quá trình thiết kế, phương án đã trải qua nhiều lần tối ưu hóa, tích lũy hàng trăm lần thử nghiệm trong ống gió. Tôi muốn khẳng định rằng, toàn thể nhân viên trong viện đã dồn hết tâm huyết cho dự án này!"
"Ví dụ như, để nâng cao tính năng cơ động siêu thanh, chúng tôi đã tính toán và thử nghiệm qua mười ba loại hình dáng cánh khác nhau, cuối cùng mới tối ưu hóa ra kiểu cánh tam giác kép này. Dựa trên nền tảng J-8ACT, chúng tôi đã phát triển hệ thống điều khiển bay kỹ thuật số (fly-by-wire) đạt trình độ tiên tiến quốc tế! Để nghiên cứu đặc tính khí động học toàn cơ thể ở góc tấn lớn và tìm ra các biện pháp cải thiện, chúng tôi đã thực hiện tới chín loại thử nghiệm lựa chọn hình dáng cánh biên điều!"
"Chính vì vậy, phương án tiêm kích mới của chúng tôi được xác định sử dụng bố cục ba mặt cánh: cánh chính hình tam giác kép, kết hợp cánh biên điều phía trước, đuôi đứng kép nghiêng ra ngoài và cửa hút gió siêu thanh dạng DSI. Thiết kế này không chỉ đảm bảo tính năng siêu thanh mà còn tối ưu hóa khả năng tàng hình. Tại sao chúng tôi lại thêm cánh biên điều? Đây tuyệt đối không phải là hành động vẽ rắn thêm chân!"
Dừng lại một chút, Tổng sư Thẩm tiếp tục: "Các vị ở đây đều biết, đặc điểm khí động học của cánh biên điều là trong phạm vi tốc độ cận âm và vượt âm, khi góc tấn không quá lớn, luồng khí sẽ tách ra từ mép trước của cánh biên điều, hình thành một xoáy thoát mép trước ổn định. Dưới tác động dẫn hướng của xoáy này, không chỉ giúp lực nâng của phần cánh chính tăng lên đáng kể, mà còn kiểm soát luồng khí ở phần cánh ngoài, ngăn chặn sự tách dòng bất quy tắc trong một phạm vi góc tấn nhất định. Nhờ đó, nó nâng cao góc tấn tới hạn và giới hạn rung chấn, đảm bảo máy bay có đặc tính khí động học cận âm và vượt âm ưu việt."
"Ở trạng thái siêu thanh, nhờ có cánh biên điều, độ dày tương đối của phần cánh trong được thu nhỏ, góc quét của cánh tăng lên, giúp giảm đáng kể lực cản sóng. Ngoài ra, sự tồn tại của cánh biên điều còn giúp giảm sự dịch chuyển về phía sau của tiêu điểm khí động toàn cơ khi bay ở tốc độ vượt âm và siêu thanh, từ đó giảm lực cản cân bằng. Vì vậy, loại cánh này cũng sở hữu đặc tính khí động học siêu thanh rất tốt. Phương án của viện chúng tôi, dù là tính cơ động cận âm hay siêu thanh đều vô cùng nổi bật, điều này sẽ giúp nó chiếm ưu thế lớn hơn khi đối đầu với chiến đấu cơ F-22 của Mỹ."
"Hơn nữa, tính năng ở góc tấn lớn của phương án này cũng đặc biệt xuất sắc, có thể đạt tới 65 độ mà vẫn đảm bảo khả năng điều khiển ổn định! Đây là điều mà bất kỳ chiến đấu cơ nào khác cũng khó lòng so sánh được. Tất nhiên, về khả năng tàng hình, phương án của chúng tôi cũng rất ưu tú, giá trị RCS (diện tích phản xạ radar) hướng chính diện có thể đạt dưới 0,1 mét vuông. Thực ra chúng ta đều biết, khi đã đạt đến ngưỡng 0,1 này, việc giảm thêm nữa cũng không mang lại tác dụng quá lớn, nên giá trị này hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu tác chiến tương lai của Không quân!"
Các ủy viên thẩm định và lãnh đạo quân đội ngồi dưới bắt đầu xì xào bàn tán.
Lâm Bằng cũng đang suy ngẫm, phương án của Viện 601 có giá trị RCS thực sự lớn hơn không ít so với chiến đấu cơ J-20 mà Viện 601 phát triển sau này. Tất nhiên, so với F-22 của Mỹ thì lại chênh lệch một cấp số nhân.
Theo dữ liệu công bố, giá trị RCS hướng chính diện của F-22 là 0,001 mét vuông, F-35 là 0,006 mét vuông, J-20 theo thông tin lan truyền trên mạng là khoảng 0,02 mét vuông. Còn với T-50 (tức Su-57) của Nga, theo phía họ công bố thì giá trị RCS hướng chính diện là 0,1 mét vuông. Tất nhiên, cũng có nhiều chuyên gia nghi ngờ con số này, cho rằng nó phải đạt từ 0,3 mét vuông trở lên.
Nói cách khác, phương án của Viện 601 thực chất không khác biệt nhiều so với T-50 của Nga, bởi cả hai đều là những phiên bản phát triển chuyên sâu từ dòng Su-27, hoặc có mối liên hệ mật thiết với dòng máy bay này.
Chiến đấu cơ có khả năng tàng hình mạnh nhất thế giới đương nhiên vẫn là F-117. Đây là mẫu máy bay do tập đoàn Lockheed Martin nghiên cứu chế tạo bí mật cho Không quân Mỹ vào những năm 80 của thế kỷ trước, cũng là chiến đấu cơ tàng hình đầu tiên trong lịch sử hàng không thế giới. Nhờ áp dụng thiết kế ngoại hình tàng hình đặc thù cùng vật liệu hấp thụ sóng radar, giá trị RCS của F-117 chỉ vỏn vẹn 0,0001 mét vuông.
Nhận định của Tổng sư Thẩm quả thực không sai, khi khoảng cách phát hiện chiến đấu cơ của radar địch giảm xuống dưới mức 0,1 mét vuông, sự chênh lệch về hiệu quả không còn quá lớn.
Bởi lẽ, khoảng cách dò tìm của radar có mối liên hệ trực tiếp với căn bậc bốn của giá trị RCS mục tiêu. Ví dụ, một chiến đấu cơ có giá trị RCS là 5 mét vuông, tương đương với dòng tiêm kích J-10A, nếu bị radar địch phát hiện ở khoảng cách 100 km, thì chiếc F-22 với giá trị RCS 0,01 mét vuông sẽ bị phát hiện ở khoảng cách bằng 100 km chia cho căn bậc bốn của 500. Nói cách khác, khoảng cách bị radar phát hiện của F-22 chỉ là 20 km, bằng một phần năm so với J-10A.
Tương tự, có thể suy tính rằng nếu phương án thiết kế "601" có giá trị RCS là 0,1 mét vuông, thì so với J-10A, giá trị RCS của nó nhỏ hơn 50 lần. Lấy 100 km nhân với nghịch đảo căn bậc bốn của 50, kết quả xấp xỉ 30%, tức là 30 km.
Như vậy, khoảng cách bị radar phát hiện giữa mục tiêu có RCS 0,1 mét vuông và 0,01 mét vuông chỉ chênh lệch khoảng 10 km, đối với F-22 thì mức chênh lệch này là 50%. Nếu đối đầu với các hệ thống radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA) tiên tiến như trên F-22, thì phương án "601" sẽ bị phát hiện ở khoảng cách 60 km.
Nếu phương án "601" được trang bị radar có tính năng tương đương, khi bay đối đầu với F-22, khoảng cách phát hiện đối phương sẽ là 40 km. Với khoảng cách chênh lệch 20 km này, F-22 có khả năng sẽ khai hỏa trước. Như vậy, phương án "601" thực sự vẫn tiềm ẩn rủi ro nhất định! Bởi trên thực tế, dù tính cơ động của chiến đấu cơ có ưu việt đến đâu, cũng rất khó để thoát khỏi các loại tên lửa không đối không đã được phóng đi trong vùng không thể né tránh.
So với phương án "601", khoảng cách phát hiện giữa phương án "611" và F-22 chỉ chênh lệch 10 km, tương đối khả quan hơn. Dù sao với khoảng cách 10 km khi hai máy bay bay đối đầu, chỉ mất hơn mười giây là tiếp cận. Phi công F-22 sau khi phát hiện mục tiêu vẫn cần thời gian để khóa mục tiêu và chuẩn bị khai hỏa.
Từ góc độ này mà xét, phương án "601" quả thực đã đi chệch hướng. Có lẽ họ cũng giống như các kỹ sư tại Cục thiết kế Sukhoi, cho rằng dựa vào khả năng cơ động siêu việt của chiến đấu cơ là có thể né tránh được tên lửa từ máy bay địch.