"Bươm bướm! Là bươm bướm kìa!"
Trên quan đạo, đoàn người rời Trường An tiến về Lạc Dương để tiếp tế lương thực nối đuôi nhau kéo dài dằng dặc. Giữa tiếng vó ngựa rộn ràng, chợt vang lên mấy tiếng trẻ con gọi với ra. Đó là một bé gái đang thò đầu khỏi xe ngựa, chỉ tay về phía ven đường, một mực réo gọi Đỗ Ngũ Lang nhìn theo.
Đỗ Ngũ Lang cũng vui vẻ chơi đùa cùng con gái, cười bảo: "A Cô chưa thấy bươm bướm bao giờ sao? Lần trước rõ ràng ta còn kể cho con nghe câu chuyện Lương Chúc cơ mà."
A Cô là nhũ danh hắn đặt cho con, lấy tên loài củ niễng (Giao bạch) mọc dại với mong ước đứa trẻ dễ nuôi. Còn đại danh thì trịnh trọng hơn nhiều, do Đỗ Hữu Lân tự tay chọn chữ "Tinh" (菁), nói là trích từ "Kinh Thi". Đỗ Ngũ Lang lúc ấy vốn chẳng nhìn ra được là trích từ bài thơ nào.
"Thấy rồi ạ, nhưng chưa từng thấy lúc đi du ngoạn. A gia, đi du ngoạn vui thật đấy."
"Đợi tới bờ Hoàng Hà, lúc gió lớn ta sẽ dẫn con đi thả diều."
Đỗ Ngũ Lang vốn mang bản tính ham chơi, trong hành lý nhét không ít đồ chơi như diều, con quay trúc, kẻ không biết khéo lại tưởng hắn là gã thương lái nào đó.
---❊ ❖ ❊---
Chiều tối hôm ấy, lúc đại đội nhân mã nán lại nghỉ chân ở trạm dịch Cam Đường, hắn liền dẫn thê tử và nữ nhi ra bãi cỏ chơi xúc cúc, mảy may chẳng có chút phong thái nào của một mệnh quan triều đình ngoài ba mươi tuổi. Người ngoài nhìn vào cứ lắc đầu liên tục, hắn lại tự tìm thấy niềm vui trong đó.
Đợi tới lúc chơi đùa thấm mệt, quả cúc lăn tót xuống sườn đồi, Đỗ Tinh vừa cười đùa vừa chạy đuổi theo, lại thấy một vị nữ quan dung mạo mỹ miều nhặt quả cúc lên.
"Đa tạ đạo trưởng."
"Con là A Cô phải không? Thật là xinh xắn."
"Ơ? Sao ngài lại biết tên con?"
Đỗ Tinh vẫn còn đang hiếu kỳ, Đỗ Ngũ Lang và Tiết Vận Nương từ phía sau đã chạy vội tới, hành lễ nói: "Đa tạ Bác Bình trưởng công chúa."
Lý Y Nương gật đầu, hàn huyên cùng họ vài câu, lúc tàn chuyện lại vô thức buông một lời: "Thật ngưỡng mộ phu thê hai người."
Đợi Lý Y Nương đi xa rồi, Tiết Vận Nương mới hỏi Đỗ Ngũ Lang: "Trưởng công chúa nếu đã ngưỡng mộ phu thê chốn nhân gian, cớ sao không chọn lấy một mối lương duyên, mà lại thà làm nữ quan?"
"Công chúa Đại Đường khó gả đi lắm, kẻ tiểu nhân phàn quyền phụ quý thì nàng không thèm gả, bậc tuấn kiệt khí vũ bất phàm lại chẳng muốn rước về, cứ như Ngọc Chân công chúa thế kia lại há chẳng khoái hoạt hơn sao."
"Trưởng công chúa nếu đã ngưỡng mộ, bệ hạ ắt có cách."
Đỗ Ngũ Lang ngó quanh bốn phía, hạ giọng thì thầm: "Trưởng công chúa đâu phải ngưỡng mộ phu thê có đôi có cặp, nàng ấy là đang ngưỡng mộ việc chúng ta có mối giao tình thân cận với bệ hạ đấy."
Tiết Vận Nương chẳng dám to tiếng bép xép chuyện này nữa. Nàng tự biết bản thân vốn không mảy may có chung máu mủ với bệ hạ, nhưng trước nay vẫn luôn được hắn coi như muội muội mà bao bọc chở che. Nhìn ngược lại thái độ của bệ hạ đối với vị bào tỷ sinh đôi kia luôn tồn tại một sự xa cách như có như không, điều này khiến nàng dâng lên vài phần bất an. Hôm nay nói là ngưỡng mộ, rủi như sau này sinh lòng ghen tị thì biết làm sao?
"Phu quân, thiếp thấy Đỗ gia chung quy vẫn nên hành sự khiêm nhường một chút."
Đỗ Tinh chẳng chịu buông tha, nói: "A gia, a nương, hai người đang to nhỏ chuyện gì thế?"
"Đang nói xấu A Cô đấy." Đỗ Ngũ Lang cười ha hả đáp lời.
---❊ ❖ ❊---
Mấy ngày sau đó, trên đoạn đường từ trạm dịch Cam Đường tiến về thành Lạc Dương, Tiết Vận Nương luôn vờ như vô tình lấy lòng Bác Bình trưởng công chúa, hở chút là lại bưng mấy món ăn vặt mà Đỗ Ngũ Lang tốn công thu thập ở các châu huyện đi ngang qua mang tới.
Đỗ Ngũ Lang thấy nàng hành sự như thế, bèn nói đùa: "Nàng cũng có mưu cầu thăng quan tiến chức trên triều đường đâu, sao lại học đòi người ta lo lót quan hệ thế này."
"Nào có phải lo lót quan hệ gì." Tiết Vận Nương nói, "Thiếp chỉ cảm thấy trưởng công chúa quá đỗi cô đơn thôi."
"Cô đơn ư?"
"Nàng ấy từ nhỏ đã lớn lên chốn Dịch Đình, ngoài Hòa Chính quận chúa ra thì bên cạnh chẳng lấy nổi một người bằng hữu. Chuyến đến Lạc Dương lần này, Đường Xương công chúa thân thiết nhất với nàng ấy cũng vì lâm bệnh mà không thể đi cùng, người ngoài lại tị hiềm Hòa Chính quận chúa, cũng chẳng ai dám qua lại với bọn họ."
Đỗ Ngũ Lang nghe xong, lẳng lặng đưa gói bánh phục linh hắn vừa mua ở trong huyện thành qua, nói: "Vậy nàng mang mớ này sang cho bọn họ nếm thử đi."
Chuyện này vốn dĩ chẳng có gì to tát, nhưng ngay đêm đó lúc sửa soạn đi ngủ, hắn chợt nhớ tới những lời Tiết Vận Nương nói ban ngày: "Đường Xương công chúa lâm bệnh rồi sao?"
Đỗ Ngũ Lang lẩm bẩm nhẩm lại chi tiết này, tiếp đó lại ngẫm tới cái chết của Trương Ký, cõi lòng lập tức bị phủ lên một tầng u ám. Thoắt cái hắn đã thoát hẳn khỏi trạng thái vui vẻ, canh cánh trong lòng, căn bản chẳng tài nào vô tư nô đùa như mấy hôm trước nữa.
---❊ ❖ ❊---
Chẳng bao lâu sau, đội ngũ rốt cuộc cũng tiến vào Lạc Dương. Trải qua khói lửa chiến tranh, thành Lạc Dương trông tàn tạ hơn hẳn độ năm Thiên Bảo, nhân khẩu chết chóc vô số, lưu lạc tha hương bạt ngàn.
Đỗ Ngũ Lang ngẩng đầu ngó quanh, những vệt đen ám khói lửa xám xịt trên mặt tường thành đã bị nước mưa cọ rửa cho nhạt bớt, phủ lên một lớp rêu phong, tựa như một vết sẹo đã kéo da non nhưng vẫn hằn rõ dấu vết. Đám quan lại ra khỏi thành nghênh đón còn cố hết sức phô bày sự phồn vinh của Lạc Dương, nhưng bầu không khí điêu tàn đó căn bản không thể che giấu nổi. Dẫu cho bách tính toàn thành đều tuôn ra xem náo nhiệt, vẫn còn kém xa vạn dặm so với cảnh tượng vạn người đổ xô ra đường tráng lệ như ở Trường An.
Dân chúng chỉ trỏ bàn tán, thần sắc toát lên một nỗi mong đợi dè dặt cẩn trọng, đồng thời còn nơm nớp đan xen nỗi lo âu. Đỗ Ngũ Lang vén mành xe ngựa nhìn ra, vô cùng hiếu kỳ xem bọn họ đang rỉ tai nhau chuyện gì. Phải biết rằng, lần cuối cùng hoàng đế Đại Đường tới Lạc Dương kiếm ăn đã là năm Khai Nguyên thứ hai mươi ba, tính tới nay đã tròn hai mươi sáu năm ròng rã, bách tính còn tỏ tường quang cảnh năm ấy họa chăng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chắc hẳn bọn họ đang kỳ vọng việc thiên tử tuần du Đông Đô sẽ mang đến cho tòa thành trì này vô số kỳ ngộ chăng?
---❊ ❖ ❊---
Khoảnh trạch viện Đỗ gia tậu ở Đạo Đức phường năm xưa may thay vẫn còn đó, chỉ là đã bỏ bê không người vun vén suốt nhiều năm, rậm rạp hoang vu đi nhiều. Có người hiến kế bảo Đỗ Hữu Lân chuyển tới bờ bắc Lạc Hà, tậu một căn đại trạch ở Thanh Hóa phường nằm sát nách hoàng thành lại gần kề Bắc Thị, nhưng đã bị Đỗ Ngũ Lang cản lại.
Trong chuyến dọn vào lần này, Đỗ Hữu Lân nhìn phương vị khu nhà mà không khỏi cau mày, lại chẳng nhịn nổi bắt đầu càu nhàu:
"Lão phu tốt xấu gì cũng là tể chấp một nước, nay lại chui rúc trong cái trạch viện nhỏ bé với cửa chính mở ngoác về hướng Bắc này, còn ra thể thống gì nữa?"
"Phủ đệ của chúng ta ở Trường An cũng có bề thế gì đâu, vừa hẹp vừa dài, lại chẳng vuông vắn, ở suốt bao năm a gia vẫn gạt phắt không cho ta dọn ra ngoài đấy thôi." Đỗ Ngũ Lang ra chiều chẳng bận tâm, đáp: "Trong nhà mấy năm nay tuy rủng rỉnh tiền bạc, cũng nên dành dụm để sau này cáo lão hồi hương thong thả tiêu xài."
"Cái đồ nghịch tử nhà ngươi, định chọc tức chết lão phu mới cam tâm sao." Đỗ Hữu Lân hậm hực nhấn mạnh: "Lão phu vẫn còn muốn thi triển hoài bão, không hề có dự định cáo lão."
"Ta cũng chẳng biết a gia mỗi ngày vất vả tảo triều rốt cuộc là vì cái gì? Quanh quẩn chỉ là trà diệp ăn uống hàng ngày từ ba mươi văn một cân độn giá thành sáu xâu một cân, người ngày ngày cứ chép miệng khen mùi vị khác hẳn, ta thì lại chẳng nếm ra được tí tẹo khác biệt nào. Thứ trà sao thời nay lại dám quát cái giá cắt cổ thế, đến trà bánh ngày xưa cũng chưa hề đắt đỏ đến vậy."
Đỗ Hữu Lân nổi trận lôi đình mắng: "Ta là vì chút hưởng thụ cỏn con ấy sao? Ta là vì hoài bão kinh thế tế dân!"
Nghe xong lời này, Đỗ Ngũ Lang ngập ngừng muốn nói lại thôi, âm thầm oán thầm trong bụng: "A gia chỉ có ngần ấy tài cán, vậy mà còn dám tơ tưởng đến kinh thế tế dân cơ đấy."
Hắn cũng chẳng muốn ở lại trong nhà làm vướng mắt người khác, bèn tự lột đồ thay sang thường phục rồi bước ra cửa, lượn quanh một vòng thành Lạc Dương.
Thành Lạc Dương tuy không hùng tráng bề thế bằng Trường An, nhưng phong cảnh lại mang một nét tú lệ rất riêng. Phố xá ngõ hẻm chẳng mấy quy củ, lại điểm xuyết thêm những con đường lát đá xanh cổ kính, những cây cầu chạm trổ soi bóng dòng nước chảy êm đềm đầy thi vị.
Đỗ Ngũ Lang cố ý tản bộ men theo dòng Lạc Thủy một đoạn, phóng tầm mắt liền thấy thuyền buôn qua lại dập dìu không dứt. Cảnh này khiến hắn nhớ tới một phép ví von vô tình nghe được từ miệng Tiết Bạch, đại khái nói rằng tào vận cũng tựa như huyết mạch, khí huyết lưu thông trơn tru nhanh chóng, con người sẽ càng mau chóng phục hồi sinh cơ, Đại Đường cũng tương tự như vậy. Lạc Dương trước mắt tuy còn điêu tàn, nhưng ắt hẳn sẽ thuận theo đường thủy vận mà từng bước quật khởi vươn mình.
---❊ ❖ ❊---
Cứ thế rảo bước, một gã tiểu tư chợt kéo hắn lại, lởi xởi cười: "Vị lang quân này, xin mời vào nhấp chén rượu nghe khúc hát. Ca múa của nhà ta là tuồn từ trong Giáo Phường cung đình ra đấy, chỉ mất hai văn tiền trà nước là có thể thưởng thức, tuy không sánh bằng thanh lâu sở quán giúp ngài sung sướng thân dưới, nhưng lại chuộng cái lẽ trơn họng đã tai, lấy nửa ngày nhàn nhã tự tại."
Đỗ Ngũ Lang nghe vậy, cũng cất bước đi vào. Vừa đưa mắt nhìn thử, lại thấy bỏ ra hai văn tiền trà nước chỉ có thể ngồi ghép bàn chật chội với người khác ở đại sảnh, hơn nữa khắp nơi ngập ngụa mùi mồ hôi, mùi thối chân nồng nặc, bất giác khó xử gãi gãi đầu. Hắn tuy không vung tay quá trán, nhưng xét cho cùng vẫn là quý tộc tử đệ, đang lửng lơ ở giữa ranh giới không bủn xỉn ki bo nhưng vẫn biết liệu cơm gắp mắm.
"Lang quân hay là lên nhã tọa trên lầu nhé?"
"Dẫn đường đi."
Leo lên lầu, chọn một chỗ ngồi nhỏ nhắn sát cửa sổ ngắm được dòng Lạc Thủy, gọi vài chén trà chút mồi nhắm, cũng ngót nghét bốc hơi bốn mươi bảy văn. Còn như trên lầu chắc hẳn còn nhã gian khang trang hơn nữa, nhưng hắn đi lẻ loi một mình, đâm ra cũng chẳng thiết yếu.
"Lang quân cớ sao không nếm thử món mề vịt thủy tinh của tệ điếm?"
"Nghe tên đã biết là món nguội rồi, ta không ăn." Đỗ Ngũ Lang đáp: "Ta cứ nếm thử xem điểm tâm của các ngươi ra sao rồi hẵng tính."
"Gọi thêm chút thức ăn cho dễ bề xem biểu diễn đi ngài, kép hát ở chỗ chúng ta, đến Đỗ lang cũng từng vỗ tay khen ngợi đấy."
"Đỗ lang nào?"
"Lang quân chưa từng nghe qua sao? 'Đỗ lang bất tri khúc, nhất khúc thiêm vạn kim', nói chính là Đỗ Ngũ Lang ở thành Trường An, biến Giáo phường thành mối làm ăn hái ra tiền đấy."
"Hóa ra là vậy, ta muốn xem thử rồi tính."
Gã tiểu tư kia ban đầu còn ngỡ vớ được hào khách sộp chịu chi, nào ngờ kẽ tay lại khép chặt như bưng, đành thất vọng lui xuống, khuất lưng hắn còn lầm bầm càu nhàu. Đỗ Ngũ Lang cũng chẳng bận tâm, tự tìm niềm vui, từ chỗ hắn vẫn có thể quan sát trọn vẹn sân khấu đại sảnh bên dưới. Màn biểu diễn kia dẫu bị gã tiểu tư tâng bốc tận mây xanh, thực chất cũng chỉ là có người xướng một vở tân tuồng mà thôi. Vừa dứt tuồng lại có người lên múa kiếm, sau đó đám kép hát đều nối đuôi nhau lên đài tạ từ, hoa đán nọ vốn chẳng xinh đẹp gì cho cam, họa chăng chỉ được cái thanh tú khả nhân, nhưng kỹ xảo diễn xướng quả thực không tồi.
Đúng lúc này, gã tiểu tư lại ôm một ôm hoa chạy tới, lân la hỏi từng bàn xem có muốn mua hoa ban thưởng cho đào kép trên đài không. Gã cũng ranh ma ra phết, chẳng thèm bén mảng xuống sảnh dưới, chỉ nhắm vào mấy tay hào khách vung tiền rủng rỉnh ngồi trên nhã tọa. Ai mua hoa, liền lập tức đổi được một tiếng hô vang dõng dạc của cửa điếm:
"Liễu Thập Thất Lang ở Gia phường ban thưởng Quỳnh Nương năm mươi gốc mẫu đơn!"
Đám khán giả dưới đại sảnh lập tức rần rần vỗ tay reo hò, những người này dẫu chỉ gãi ngứa có hai văn, nhưng được tu trà no bụng, lại vểnh râu xem biểu diễn, vừa hóng hớt náo nhiệt, lại còn tiện thể thổi phồng mấy tay hào khách trên lầu, bồi đắp thêm vài phần không khí huyên náo. Đỗ Ngũ Lang chỉ khẽ cười thầm trong bụng, mấy cái trò này toàn là ngón nghề hắn đã chơi chán chê từ hồi cải cách Giáo phường rồi. Còn như hắn học lỏm từ đâu ư? Quanh quẩn cũng chỉ là Tiết Bạch chỉ giáo cho hắn.
Loáng cái, tiểu tư đã sán đến trước mặt hắn, hỏi: "Lang quân nếu thấy tuồng hay, sao không mua chút hoa thưởng?"
"Mấy văn?"
"Hai mươi văn một gốc."
"Ta không mua đâu, ta chỉ rảnh rỗi dạo chơi thôi."
"Lang quân cảm thấy tuồng hôm nay hát dở chăng? Nếu ngài có điểm nào chỉ giáo, chúng ta cảm kích khôn xiết."
"Ta thì biết gì mà chỉ giáo chứ." Đỗ Ngũ Lang đáp: "Ta chỉ là..."
Thực tâm, hắn chẳng qua là không muốn phí phạm tiền bạc, cảm thấy việc vung tay quá trán chỉ để phô trương thanh thế là điều vô nghĩa. Thế nhưng, hắn lại chẳng biết làm sao để khước từ cho khéo, lòng dạ không khỏi quẫn bách.
Đang lúc ngẫm ngợi định mượn cớ trong nhà có việc gấp để rời đi, chỉ tiếc là đĩa bánh nướng hạt lựu vẫn còn dang dở, thì chợt có tiếng người xen vào: "Để ta mua thay hắn, mười gốc."
Đỗ Ngũ Lang ngoảnh đầu nhìn lại, thấy một nam tử trẻ tuổi vừa từ lầu trên bước xuống. Y vận y phục thanh nhã mộc mạc, song chất vải lại trơn mượt vô cùng. Trên người y chẳng mang trang sức rườm rà, duy chỉ có miếng ngọc bội giắt bên hông là sắc ngọc thuần khiết, nét chạm trổ tinh xảo, đích thị là thượng phẩm trong hàng thượng phẩm.
Người này khí độ siêu phàm, cách ăn nói lại đĩnh đạc, hiển nhiên xuất thân từ danh môn thế gia. Vừa dứt lời, y chỉ khẽ nhấc tay, gã tiểu tư kia liền gật đầu khom lưng rối rít, chẳng dám thò tay đòi tiền, chỉ cung kính đon đả: "Vậy thì cứ ghi vào sổ nợ của Thôi lang nhé."
"Được."
"Không cần đâu." Đỗ Ngũ Lang vội ngăn lại: "Sao có thể để huynh đài chịu thiệt, cứ để ta mua là xong."
"Huynh đài không cần khách sáo, tiền tài chỉ là vật ngoại thân, nhắc nhiều quá lại hóa ra tầm thường." Nam tử trẻ mỉm cười xua tay, đoạn hỏi: "Huynh đài từ Trường An tới?"
"Đúng thế, khẩu âm của ta rõ ràng đến vậy sao?"
"Nay thiên tử đông hạnh, ắt hẳn có không ít bậc đạt quan quý tộc tụ hội tại Đông Đô, ta sợ chủ quán này cứ dai dẳng đeo bám, lại vô tình đắc tội nhầm người."
Đỗ Ngũ Lang vỡ lẽ: "Thì ra ngươi vì thế mới ra mặt gánh vác, tính tình thật thiện lương. Thế nhưng, ta trông có vẻ là kẻ thèm tính toán hẹp hòi vì mấy chuyện cỏn con này sao?"
"Huynh đài vinh nhục bất kinh, thân phận cao quý mà vẫn có thể an cư chốn phường thị bình thản như thường, nhìn thoáng qua là biết bậc đại nhân vật hiển hách rồi."
"Làm sao ngươi biết?" Đỗ Ngũ Lang kinh ngạc vô cùng: "Khí chất của ta phơi bày rõ ràng đến thế ư?"
Hắn còn đang mường tượng sẽ lĩnh giáo được câu trả lời cao thâm nào đó, kết quả nam tử kia lại cười đáp: "Ban nãy, lúc ta chiêm ngưỡng ngự giá tiến vào thành, đã nhìn thấy huynh đài trong đội ngũ rồi."
"Hả? Thì ra là thế."
Đỗ Ngũ Lang hồi tưởng lại, chính vì mải rong ruổi cùng nữ nhi nên lúc vào thành mới rớt lại phía sau, cơ mà cũng chẳng sao, bèn nói hùa: "À, người nhà ta làm quan, chức quan nhỏ xíu ấy mà, ta chỉ là gã tử đệ chơi bời lêu lổng thôi."
"Người vùng An Bình, Thôi Động, tự Minh Tích." Nam tử kia chắp tay hành lễ, từ tốn xưng danh: "Ta đứng hàng ba mươi chín trong gia tộc, huynh đài gọi ta Thôi Tam Thập Cửu cũng được, gọi ta Minh Tích cũng được."
Đỗ Ngũ Lang không khỏi bối rối, nhất thời khó lòng xuống đài, đành chắp vá qua chuyện: "Kinh Triệu, Cát... Cát Tích, ngươi cứ gọi ta Cát Ngũ Lang là được rồi."
Hắn chắp tay vái chào, định quay người rời đi, Thôi Động lại thản nhiên ngồi phịch xuống đối diện, tiện miệng dặn dò người làm mang thêm một bình hảo tửu.
"Cát huynh ắt hẳn cũng thấy tuồng xướng ở đây hát quá mức tầm thường phải không?"
Đỗ Ngũ Lang đáp: "Cũng không hẳn, chỉ là vung tiền sắm hoa, thứ mua lại được rốt cuộc cũng chỉ là thói hư vinh, ta cảm thấy thiếu thực tế quá."
Thôi Động vỗ tay trầm trồ: "Cát huynh nhìn thấu lẽ đời trần trụi rồi đấy. Thế nhân quanh năm lặn ngụp tất bật, vắt chân cầu công danh, mưu phú quý, trước sau vẫn luôn tham vọng chứng tỏ bản thân cao gót hơn người. Cơ mà kiếp phù sinh được bao lâu, dốc cạn thời gian chôn vùi vào mớ bòng bong kinh tế quan trường, há chẳng phải quá đáng tiếc sao."
Lời đàm đạo này lập tức khiến Đỗ Ngũ Lang vỡ òa cảm giác ngộ được tri âm, bèn dần dà hàn huyên mở lời, hai người chung quy vô cùng tâm đầu ý hợp.
---❊ ❖ ❊---
Vài hôm sau, Đỗ Ngũ Lang và Thôi Động đã kết thân thành bằng hữu thâm giao. Cả hai đều chung chí hướng du sơn ngoạn thủy, Thôi Động bèn gửi lời mời Đỗ Ngũ Lang tới làm khách tại biệt nghiệp Thôi gia nằm ở huyện Thọ An, tiện bề thưởng lãm cảnh sắc sơn thủy quanh dải núi Hương Lộc, Thạch Cốc lân cận.
Biệt nghiệp tọa lạc trên núi Cẩm Bình nằm ở khu vực phía nam huyện thành. Ngẩng đầu vươn mắt, có thể chiêm ngưỡng mười hai ngọn núi hùng vĩ xếp tầng tầng lớp lớp tựa như dải gấm vóc rủ xuống từ lưng chừng trời xanh, ngoạn mục vô cùng.
Thôi Động và Đỗ Ngũ Lang sóng vai phi ngựa, chuyện trò rôm rả: "Võ Hậu năm xưa cũng từng thân chinh ngự tới chốn này, hai chữ 'Cẩm Bình' cũng chính là do đích thân ngài ban tặng."
"Quả nhiên là ỷ sơn bàng thủy, rặt một chốn bồng lai tuyệt diệu." Đỗ Ngũ Lang xuýt xoa: "Vậy còn bao lâu nữa mới đặt chân tới biệt nghiệp nhà ngươi?"
"Đã tới từ khuya rồi." Thôi Động quay lưng chỉ tay, cũng chẳng rõ là đang trỏ vào nơi nào: "Bắt đầu từ nửa canh giờ trước, chúng ta đã tiến vào Cẩm Bình biệt nghiệp rồi."
"Ra thế."
Lại cưỡi ngựa thêm nửa canh giờ, hai người rốt cuộc cũng lách vào một khoảnh đại trạch viện trải dài tít tắp dưới chân núi.
Vừa bước chân vào cổng, thình lình đã trông thấy bốn chữ to tướng "Cẩm Bình Kỳ Quan" do chính tay Võ Tắc Thiên ngự bút ban thưởng.
Sau khi Đỗ Ngũ Lang rảnh rang buôn chuyện với người làm trong phủ, mới vỡ lẽ tằng tổ phụ của Thôi Động vốn là danh thần thời Sơ Đường - Thôi Hành Công, từng kề vai sát cánh cùng Ngụy Trưng biên soạn bộ《Tứ Bộ Quần Thư》.
Gia môn của Thôi Động trực thuộc đại phòng của Bác Lăng Thôi thị, theo lý mà nói vốn phải càng hiển hách hơn nữa. Chẳng qua là sau khi kinh qua những đòn roi chèn ép một cách cố ý của mấy đời hoàng đế Đại Đường, đến nay hành sự chỉ dám khép nép điệu thấp.
Thì ra, bốn chữ "Cẩm Bình Kỳ Quan" bề ngoài ra chừng lột tả nỗi xuýt xoa cảm thán của Võ Tắc Thiên, thực chất dạo ấy lại mượn bốn chữ này vạch đi mất một nửa diện tích ruộng đất của Thôi gia ở huyện Thọ An.
Năm xưa vị Thôi Hữu Phủ cùng nhận quan chức chung đợt với Tiết Bạch cũng chính là huyện úy Thọ An, thao túng phía sau việc này cũng chính là bàn tay tương trợ của Thôi gia. Dẫu cho huyết mạch hiện tại đã cách biệt xa xôi, thế nhưng ở cái thế đạo này, làm việc gì rốt cuộc vẫn không thể thiếu đi sự nâng đỡ đùm bọc qua lại giữa gia tộc.
Bước sang ngày thứ hai Đỗ Ngũ Lang đến ở, đám tử đệ trẻ tuổi nhà họ Thôi bèn bày tiệc rượu tẩy trần đón gió cho hắn.
Họ tụ tập giữa rặng trúc rợp bóng tao nhã, thả chén rượu trôi theo dòng suối uốn lượn, vừa nhấp trà vừa đàm đạo thi văn. Lối hành xử mang đậm phong cốt kiêu bạt của thời Ngụy Tấn khiến Đỗ Ngũ Lang lâng lâng, cảm thấy bản thân dường như cũng thấm đẫm thêm vài phần phong nhã. Bấy lâu nay, hắn luôn mong Đỗ Hữu Lân cáo lão hồi hương, tâm nguyện chung quy cũng chỉ là được trải qua cuộc sống thanh nhàn như thế này.
Lân la một hồi, đám người rốt cuộc vẫn xoay sang bàn luận quốc sự, đề tài chẳng ngoài việc mổ xẻ chuyện Thiên tử đến Lạc Dương. Điều khiến Đỗ Ngũ Lang vô cùng ngạc nhiên là luận điểm của họ không hướng về sự phồn hoa mà chuyến đi này mang lại cho Lạc Dương, trái lại còn đinh ninh rằng đây là biểu hiện lột trần sự sa sút của quốc lực.
"Thời Huyền Tông hoàng đế cầm quyền, dựa vào tào vận và các loại pháp lệnh, vun đắp thiên hạ thái bình phú quý, kho lẫm sung túc ăm ắp. Kết quả chỉ vì một trận biến loạn lại đánh lùi về điểm xuất phát rồi."
"Suy cho cùng, đâu phải vị Thiên tử nào cũng có thể quản lý ra được một vương triều rực rỡ huy hoàng tựa như Huyền Tông hoàng đế."
"Rốt cuộc vẫn là do triều đình mai một danh thần, rặn não cũng chẳng moi ra được biện pháp nào vẹn toàn hơn..."
Đỗ Ngũ Lang vốn dĩ còn hồ nghi Thôi Động cố tình bám đuôi tiếp cận mình, nhưng nghe qua mớ luận điệu này, hắn mới xác định chắc nịch rằng Thôi Động căn bản mù tịt về thân phận của hắn. Trong lứa tử đệ Thôi gia, Thôi Động là kẻ coi nhẹ kinh tế quan trường nhất. Thời khắc người bên cạnh đàm luận việc nước, y chỉ ngồi cạnh hóng chuyện, tiện ném cho Đỗ Ngũ Lang một ánh mắt tỏ vẻ áy náy.
Mà đám tử đệ Thôi gia này buông lời bình phẩm hoàng đế, mặt chẳng biến sắc mảy may vương tia sợ hãi, thậm chí còn toát lên thứ thái độ cư cao lâm hạ của bậc bề trên. Chung quy cũng không hẳn là chĩa mũi giáo về phía Tiết Bạch, mà là mầm mống bắt nguồn từ thái độ coi khinh của Ngũ Tính Thất Gia đối với dòng họ Lý từ xưa đến nay.
"Đương kim Thiên tử quả thực có tài thao lược, nhưng rộng mà không tinh. Có thể dẹp loạn An Sử, đó là do quốc vận Đại Đường vẫn còn sâu dày, cộng thêm khí vận của y không tồi. Còn như mấy cái quốc sách ban hành từ lúc đăng cơ đến nay, đủ nhìn thấu được, y rắp tâm cải cách nhưng lại sợ đầu sợ đuôi chùn bước."
"Đúng vậy, triều đình chột dạ muốn thu thêm thuế khóa, thế nhưng không dám nói thẳng ra miệng, đành lách qua chuyện thu thuế muối, thuế trà để hốt bạc. Kết cục, giá muối giá trà hiện nay đội lên rất cao phải không?"
"Năm nay có vẻ đã chùng xuống đôi chút rồi, cũng đủ nhìn ra triều đình đang cố ý kìm hãm giá muối. Ta có nghe phong phanh, Thiên tử độ này dấy lên tâm ý trọng dụng Lưu Yến mà xa lánh Nguyên Tái, chỉ nhìn từ vụ tào vận lập kho bãi là rõ mười mươi rồi."
"Kế 'men theo đường nước lập kho' của Lưu Yến chưa chắc đã cao minh hơn cách gấp rút xây kho của Nguyên Tái là bao. Mấu chốt thực sự nằm ở chỗ, Lưu Yến chủ trì việc đánh thuế muối, thường chừa lại một phần lợi nhuận cho thương lái, nhờ vậy mà luôn kìm giữ được giá muối."
"Việc này ắt hẳn lọt mắt xanh Thiên tử hơn. Thiên tử cố tình bày vẽ ra trò trà sao, trà pha, mục đích thực chất là dùng đường thu thuế trà bù đắp khoản trống thuế má, quyết đè giá muối xuống bớt."
"Lấy tiền lời từ thuế trà đắp đổi cho một phần tiền thu thuế muối, rành rành ra là khát cầu đám phú hào uống trà, đại thương nhân buôn trà sành sỏi chảy máu nhiều một chút, thu ít đi chút tiền mồ hôi nước mắt của bần dân ăn muối."
"Lời tuy thốt ra như vậy, nhưng ắt hẳn không quấy phá đến hũ bạc của Ngũ thúc chứ?"
Lũ tử đệ nhà họ Thôi mồm năm miệng mười ném qua ném lại, tùy hứng trò chuyện bâng quơ, Đỗ Ngũ Lang ngồi một bên nghe lại bị một phen chấn động sâu sắc. Hắn tự đắc bản thân là cận thần của Thiên tử, dẫu chưa nếm thịt heo cũng từng ngắm lợn chạy, bề dày độ sâu nắm bắt thế cục thiên hạ đáng lý phải vô cùng thấu suốt, bèo nhất cũng dư sức đè bẹp lũ thiếu niên lún phún chưa xuất sĩ hoặc rụt rè vừa nhón gót chốn quan trường này. Nào ngờ, ánh nhìn đục khoét quốc sách của bọn họ lại sắc bén nhạy cảm hơn hắn gấp bội phần.
Hắn quan sát vô cùng cặn kẽ một lúc lâu, bọn người này hắn tuyệt nhiên chẳng nhận mặt lấy một người, nhưng chắc nịch không có ai nắm giữ quan cao trên triều đường cả. Vậy thì mớ tin tức của họ, rốt cuộc là đánh hơi ra từ đâu?
"Vậy nên mới nói, ta chẳng thèm tin việc Thiên tử tới Lạc Dương kiếm ăn là vì Trường An hao mòn lương thảo, chắc hẳn là vì Yển Sư."
Nghe đến đây, Đỗ Ngũ Lang chẳng kìm nổi mồm miệng: "Yển Sư ư?"
"Cát huynh mù tịt rồi sao? Thiên tử lúc trước từng tại vị Yển Sư úy, vô vàn tư sản khổng lồ của y đều khởi gia từ Hà Nam Đạo. Tới Lạc Dương, y khống chế cục thế sẽ còn dễ dàng hơn hẳn chốn Trường An."
Đỗ Ngũ Lang ngớ người, câm nín chẳng biết chen lời nào. Đám tử đệ Thôi gia bèn tiếp tục bàn luận.
"Đúng hệt như Võ Hậu tại Đông Đô."
"Không sai, Võ Hậu xưng đế ở Đông Đô, đương kim Thiên tử ắt hẳn cũng muốn thi hành biến pháp ở Đông Đô rồi."
"Khoản vay xuân miêu."
"Ta dám đánh cược, triều đình có làm tốt đến mấy đi chăng nữa. Xuống tới địa phương, khoản vay xuân miêu ắt sẽ bị một số kẻ thâu tóm thao túng trong tay để cho vay nặng lãi, nông hộ bình thường nếu muốn nhận khoản tiền này, chính là phải 'cộng thêm' một hai phân tiền lãi."
Đỗ Ngũ Lang hỏi dò: "Cớ sao lại vậy?"
Kẻ vừa phán quyết nhát dao buông tiếng cười khổ xa xăm, đáp: "Thói đời là thế."
Thôi Động nghe chẳng lọt lỗ tai, khẽ kéo chéo áo Đỗ Ngũ Lang: "Đừng dính dáng đàm luận thứ kinh tế quan trường với bọn họ nữa, chúng ta đi thưởng ngoạn trúc hải."
"Tam Thập Cửu Lang, triều đình hiện tại đã chú trọng khoa cử hơn rồi, nghe bảo chắc chắn năm nay sẽ khai mở Ân khoa, văn chương của ngươi làm lả lướt như nước chảy, không định đi thử sức xem sao?"
Thôi Động hờ hững: "Chẳng cần đâu."
Đỗ Ngũ Lang vẫn thòm thèm muốn mượn góc nhìn của bầy tử đệ Thôi gia soi mói thêm đôi chút quan điểm về khoản vay xuân miêu, tuy bị Thôi Động lôi tuột đi, rốt cuộc vẫn lén lút ngoái lại. Đúng ngay nhịp thở này, một gã thư đồng nãy giờ vẫn hầu hạ cạnh bên chợt đánh bạo cất lời.
"Thập Thất Lang, nghe bảo năm nay có thêm một vòng hương thí, bất kể thân phận nào cũng được tranh tài, ngay cả nô tài cũng vậy, là thật sao?"
Thôi Thập Thất Lang hờ hững liếc gã thư đồng một cái, chẳng thốt nửa lời, song ánh mắt lạnh lẽo đã đủ sức răn đe, nhắc nhở gã rằng nơi này không đến lượt kẻ dưới lên tiếng.
Gã thư đồng kinh hãi thất sắc, vội vã dập đầu tạ tội: "Tiểu nhân biết tội."
Thế nhưng, Thôi Thập Thất Lang vẫn lặng thinh như tờ, vẻ mặt âm trầm như thể cơn thịnh nộ chưa vơi, dường như sắp sửa trừng trị gã đến nơi.
"Nghiễn Phương, theo ta." Thôi Động chợt lên tiếng.
Chỉ một câu nói tựa như chiếc phao cứu sinh, gã thư đồng tên Nghiễn Phương lập tức thoát khỏi áp lực ngàn cân, cuống cuồng rảo bước bám theo sau Thôi Động và Đỗ Ngũ Lang.
Đỗ Ngũ Lang nghe thấy cái tên ấy, bất giác nhớ về gã thư đồng Đoan Nghiễn của mình năm xưa. Hắn cẩn thận đánh giá Nghiễn Phương một lượt, nhận ra dù hai người cùng chung một chữ trong tên, song bản chất lại khác biệt một trời một vực. Đoan Nghiễn vốn lười biếng, ham ăn, lại có phần ngốc nghếch, nhưng bù lại vô cùng nghĩa khí và trung thành; trái lại, Nghiễn Phương lúc nào cũng giữ vẻ mặt căng thẳng, cử chỉ khuôn phép đến mức cứng nhắc.
---❊ ❖ ❊---
"Ngươi cần gì phải hỏi Thập Thất Lang những chuyện đó?" Thôi Động kiên nhẫn giải thích: "Quan bảng ghi 'không phân hộ tịch', quả thực là bất kể hộ tịch nào cũng có thể tham gia hương thí. Nhưng ngươi vốn là kẻ không có hộ tịch, huống hồ chỉ mới đọc qua vài cuốn sách, liệu có thể thi đậu chăng?"
"Tiểu nhân... chỉ muốn thử xem sao."
"Ta hiểu tâm khí ngươi cao." Thôi Động mỉm cười, ôn tồn nói: "Thế này đi, lúc về ta sẽ hỏi qua Bát thúc, tìm cho ngươi một công việc tử tế."
Ban đầu, Nghiễn Phương nhìn Thôi Động bằng ánh mắt đầy mong đợi, nhưng nghe xong câu ấy, sắc mặt gã lập tức ảm đạm, thất vọng tràn trề.
Gã hiểu rõ, cái gọi là công việc tử tế kia, chung quy cũng chỉ là làm tay sai cho Thôi gia mà thôi.
Đỗ Ngũ Lang đứng cạnh nghe xong, thầm nhủ khi trở về nhất định phải hỏi thử Tiết Bạch, xem chuyện 'không phân hộ tịch' kia rốt cuộc che giấu mưu tính ẩn tàng gì.