Khi đặt chân đến Viện 14, Lâm Bằng và đoàn công tác đã nhận được sự tiếp đón nồng hậu từ ban lãnh đạo đơn vị này. Dù sao đi nữa, với tư cách là đại diện từ Viện Thiết kế Phi cơ, họ đóng vai trò là bên đặt hàng, còn Viện 14 chính là đối tác cung ứng chiến lược.
Tại một phòng họp nhỏ của Viện 14, Lâm Bằng cùng các cộng sự ngồi đối diện với những lãnh đạo và chuyên gia kỹ thuật hàng đầu của viện. Phó viện trưởng Điền Chí Quân hào hứng lên tiếng: "Chào mừng Lâm tổng trợ cùng các vị chuyên gia đã đến viện chúng tôi để chỉ đạo và kiểm tra công tác. Để tôi giới thiệu qua về đội ngũ của chúng tôi. Đây là Phó tổng công trình sư Cao Thiết, người phụ trách dự án kỹ thuật radar trên không mới, còn vị này là..."
Sau khi đối phương giới thiệu xong, Lâm Bằng cũng giới thiệu các thành viên trong đoàn của mình. Tiếp đó, hai bên bắt đầu bước vào giai đoạn thảo luận kỹ thuật chi tiết.
Lâm Bằng nói: "Phó viện trưởng Điền, chuyến đi lần này của chúng tôi nhằm mục đích sớm chốt phương án radar điều khiển hỏa lực trên không cho dòng tiêm kích J-7 và mẫu máy bay xuất khẩu mới của viện. Các chỉ tiêu kỹ thuật chính, quý viện đã nắm rõ. Tôi tin rằng với nền tảng nghiên cứu hiện có, việc cải tiến để tạo ra loại radar mảng pha thụ động (PESA) theo yêu cầu của chúng tôi không phải là vấn đề quá khó khăn."
Lâm Bằng nắm rất rõ năng lực của Viện 14, đặc biệt là trong lĩnh vực radar mảng pha, nơi họ đang giữ vị thế hàng đầu quốc gia. Ngay từ thập niên 90, Viện 14 đã tiến hành hợp tác kỹ thuật với các đối tác phương Tây trong lĩnh vực radar mảng pha trên không. Khi đó, phía đối tác đã cung cấp một bộ ăng-ten mảng pha thụ động để thử nghiệm, nhưng do họ áp dụng công nghệ không cấp nguồn (passive feed) với nhiều nhược điểm lớn, Viện 14 đã từ bỏ phương án này. Các sản phẩm radar mảng pha thụ động nội địa sau đó đều chuyển sang sử dụng phương thức cấp nguồn cưỡng bức.
Bước sang thế kỷ mới, Viện 14 đã chế tạo thành công mẫu thử radar mảng pha thụ động, đồng thời đạt được những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ radar mảng pha chủ động (AESA), dù rằng công nghệ chủ động vẫn còn một khoảng cách khá xa để đưa vào thực tiễn.
Mặc dù có một số chuyên gia đề xuất bỏ qua giai đoạn mảng pha thụ động để tiến thẳng lên mảng pha chủ động, nhưng các chuyên gia đầu ngành như Viện sĩ Bí Đức đã phản đối. Do trình độ kỹ thuật điện tử trong nước thời điểm đó chưa thực sự tối ưu, họ chủ trương đi theo lộ trình hai bước: hoàn thiện mảng pha thụ động trước, sau đó mới phát triển mảng pha chủ động.
Phía Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của Viện sĩ Bí Đức, vì vậy cả Viện 14 và Viện 607 đều tập trung phát triển radar mảng pha thụ động. Tuy nhiên, radar điều khiển hỏa lực mảng pha thụ động do Viện 14 nghiên cứu sở hữu khả năng dò tìm và tấn công đa mục tiêu vượt trội, có thể theo dõi đồng thời 10 mục tiêu và tấn công 4 mục tiêu cùng lúc. Với hiệu suất tổng thể ưu việt, đây chính là lý do Viện Thiết kế Phi cơ lựa chọn radar của Viện 14 cho dự án máy bay mới. Chỉ cần thực hiện một vài cải tiến nhỏ để phù hợp với kích thước của J-7 và các yêu cầu xuất khẩu là có thể đưa vào vận hành.
Phó viện trưởng Điền Chí Quân cười nói: "Yên tâm đi, dù thời hạn nghiên cứu chế tạo mà các anh đưa ra khá gấp rút, nhưng công nghệ radar mảng pha thụ động của chúng tôi đã tương đối hoàn thiện, hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu. Chúng tôi đã chế tạo thành công mẫu thử, với mục tiêu trên không điển hình, radar đạt tầm dò tìm 150 km. Khả năng dò tìm mục tiêu mặt đất cũng có bước tiến nhảy vọt so với thế hệ tiền nhiệm."
"Hơn nữa, hệ thống còn hỗ trợ các chế độ không chiến tầm xa, cận chiến, tấn công chính xác mục tiêu mặt đất và mặt biển. Ở chế độ không đối không, nó cung cấp khả năng vừa tìm kiếm vừa theo dõi (TWS), theo dõi đơn/đa mục tiêu, quét dọc trong không chiến. Ở chế độ không đối đất, hệ thống hỗ trợ vẽ bản đồ chùm tia thực, phóng đại bản đồ, làm sắc nét chùm tia Doppler, tạo ảnh khẩu độ tổng hợp (SAR), theo dõi mục tiêu di động trên mặt đất và mặt biển. Đây là một hệ thống có khả năng dò tìm, xử lý đa mục tiêu và đa chế độ rất mạnh mẽ."
Trong ký ức của Lâm Bằng, radar mảng pha thụ động của Viện 14 thực chất ban đầu được chuẩn bị cho tiêm kích hạm J-15. Dự án J-15 được khởi động từ năm 2001, và Viện 14 đã hoàn thành nhiệm vụ chế tạo radar trước khi mẫu máy bay này bay thử nghiệm bốn năm, điều đó cho thấy năng lực kỹ thuật của họ vô cùng ấn tượng. Ở kiếp trước, Lâm Bằng cũng biết J-7 từng dự định sử dụng radar này, nhưng do sau đó J-7 không được đưa vào biên chế, nên radar của Viện 14 cuối cùng chỉ được trang bị trên tiêm kích J-15.
Nghe xong phần giới thiệu của Phó sở trưởng Điền, Lâm Bằng vui vẻ nói: "Chúng tôi luôn tin tưởng vào thực lực của Viện 14 các ông. Radar mảng pha bị động của các ông hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật cho dòng Phi Báo mới của chúng tôi, đặc biệt là về khoảng cách dò tìm, khả năng theo dõi đa mục tiêu và các chế độ tấn công, tất cả đều vượt trội hơn hẳn so với loại radar số 10 đang được trang bị trên tiêm kích oanh tạc cơ 7 hiện nay. Dựa trên yêu cầu từ khách hàng, chúng tôi rất vui mừng được hợp tác cùng Viện 14 trong dự án lần này."
"Radar số 10 trên tiêm kích oanh tạc cơ 7 hiện tại là loại radar điều khiển hỏa lực quét cơ học, vốn bị hạn chế bởi độ chính xác của cơ cấu cơ khí và quán tính. Do đó, khi quét ở tốc độ cao, độ chính xác của radar khá thấp, gây khó khăn trong việc đối phó với các mục tiêu từ nhiều hướng và nhiều đợt tấn công. Mặc dù trên lý thuyết, nó có khả năng theo dõi hơn mười mục tiêu mặt đất và tấn công sáu mục tiêu mặt đất hoặc mặt biển, nhưng trong thực tế sử dụng, phạm vi hiệu quả rất hạn hẹp, khả năng đa mục tiêu chỉ mang tính tượng trưng. Vì vậy, chúng tôi hy vọng radar mảng pha bị động mới có thể thực sự tạo ra bước đột phá trong phương diện này!"
Phó sở trưởng Điền Chí Quân cười đáp: "Tất nhiên rồi, khả năng theo dõi đồng thời mười mục tiêu và tấn công bốn mục tiêu của chúng tôi là con số thực tế. Ưu điểm của radar mảng pha là chùm tia định hướng nhanh nhạy và độ chính xác cao. Radar mảng pha còn có thể nhanh chóng quay lại xác nhận mục tiêu ngay sau khi phát hiện, không cần phải chờ đợi chu kỳ quét tiếp theo như radar quét cơ học, từ đó nâng cao đáng kể khả năng bám bắt và tốc độ phản ứng của radar đối với mục tiêu."
"Dĩ nhiên, công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay là radar mảng pha chủ động, viện chúng tôi cũng đang dồn lực nghiên cứu. Tuy nhiên, xét ở thời điểm hiện tại, do chi phí lắp ráp quá cao và một số rào cản kỹ thuật chưa được tháo gỡ, trong nước vẫn chưa thể cung ứng loại radar điều khiển hỏa lực mảng pha chủ động cho máy bay. Việc các ông lựa chọn radar mảng pha bị động của viện chúng tôi là một quyết định vô cùng sáng suốt."
"Bởi lẽ, radar điều khiển hỏa lực mảng pha bị động cũng có những ưu thế riêng. Nó chỉ sử dụng một bộ phát và bộ thu trung tâm, năng lượng phát xạ được máy tính phân phối đến từng phần tử bức xạ trên ăng-ten. Kỹ thuật này tương đối đơn giản, chi phí sản xuất và bảo trì thấp hơn. Tuy nhiên, về băng thông và khả năng xử lý tín hiệu thì thấp hơn so với radar mảng pha chủ động, độ tin cậy cũng có phần kém hơn một chút."
Lâm Bằng tiếp lời: "Đúng là như vậy. Nhưng tiêm kích oanh tạc cơ 7 của chúng tôi là một phiên bản cải tiến chuyên sâu, hơn nữa dòng xuất khẩu cho Saudi cũng là một loại chiến đấu cơ xuất khẩu cực kỳ quan trọng. Vì vậy, trong các yêu cầu kỹ thuật đã đề ra, chúng tôi xác định rõ thời gian hoạt động trung bình giữa các lần hỏng hóc của radar điều khiển hỏa lực phải đạt từ 800 giờ trở lên. Đồng thời, thiết bị phải thích ứng được với nhiều môi trường khắc nghiệt như chịu nhiệt độ thấp, chịu nhiệt cao, chống ăn mòn, kháng bức xạ và chịu được sóng xung kích. Nó bắt buộc phải đáp ứng được các yêu cầu về môi trường vận hành, bao gồm cả những rung chấn và va đập dữ dội khi máy bay cất hạ cánh và tác chiến!"