Sau khi đoàn chuyên gia rời đi, toàn bộ Viện Thiết kế Phi cơ lại rơi vào trạng thái vô cùng bận rộn.
Lâm Bằng biết rằng dự án máy bay cỡ lớn vẫn còn cần thời gian để chính thức phê duyệt, dự án tiêm kích oanh tạc mới cũng tương tự, ít nhất phải mất nửa năm hoặc một năm nữa mới có thể chính thức khởi động nghiên cứu và chế tạo. Nhiệm vụ trọng tâm hiện tại của Lâm Bằng là hoàn thiện tốt mẫu Tiêm Oanh-7B và phiên bản xuất khẩu FBC-1A. Tất nhiên, biên độ cải tiến lần này là tương đối lớn, dù chưa đến mức thiết kế lại hoàn toàn một chiếc máy bay mới, nhưng cũng không sai biệt là bao.
Ngược lại, mẫu "Phi Báo" mà phía Saudi Arabia yêu cầu có biên độ thay đổi nhỏ hơn, nên độ khó không quá cao, có thể tận dụng dây chuyền sản xuất Tiêm Oanh-7A hiện có để chế tạo.
Tiêm Oanh-7B và mẫu Phi Báo mới dành cho Saudi Arabia lại khác biệt hoàn toàn. Không chỉ phần thân trước và hệ thống điện tử cần sửa đổi, mà cả cánh chính, cánh đuôi, thậm chí một phần khung thân cũng phải thay đổi. Công tác thiết kế và tính toán cho những hạng mục này là cực kỳ đồ sộ.
Rất may, công tác điều phối tổng thể đều do Tổng sư Đường một tay hoạch định. Những ngày này, Lâm Bằng đi theo Tổng sư Đường đã học hỏi được rất nhiều điều, đặc biệt là cách để trở thành một vị Tổng sư thực thụ – điều mà không phải cứ nói một câu là có thể truyền thụ được.
Một chiếc máy bay liên quan đến quá nhiều chuyên ngành và lĩnh vực, cần sự phối hợp của hàng trăm, hàng ngàn nhà cung ứng, vì vậy Tổng sư Đường có thể coi là người bận rộn nhất. Còn Lâm Bằng chủ yếu đóng vai trò trợ thủ cho Tổng sư Đường, mỗi khi có cuộc họp phối hợp, Lâm Bằng lại hỗ trợ soạn thảo các tài liệu liên quan.
Dù sao đi nữa, công việc ngàn đầu vạn mối, vẫn phải từng bước mà làm.
Phía Saudi Arabia muốn một mẫu Phi Báo hoàn toàn mới, bắt buộc phải trang bị radar mảng pha. Mẫu Tiêm Oanh-7B nội địa cũng yêu cầu tương tự. Tất nhiên, radar mảng pha cũng chia làm hai loại: chủ động và thụ động. Đối với Tiêm Oanh-7B và phiên bản xuất khẩu FBC-1A, radar mảng pha quét thụ động (PESA) là đủ để đáp ứng yêu cầu.
Suy cho cùng, vào thời điểm năm 2005 này, đừng nói đến việc Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu nghiên cứu radar mảng pha quét chủ động (AESA) trên máy bay, ngay cả ba nước Anh, Pháp, Đức ở châu Âu khi hợp tác nghiên cứu radar AESA cũng chỉ mới hoàn thành thử nghiệm nguyên mẫu, còn cách xa việc đưa vào sử dụng thực tế.
Trong lĩnh vực nghiên cứu radar mảng pha trên máy bay, radar AESA của Nhật Bản hiện là loại radar điều khiển hỏa lực tiên tiến nhất thế giới. Nó sở hữu 2.000 mô-đun thu phát (TR), có khả năng phát hiện mục tiêu với diện tích phản xạ radar 1 mét vuông ở khoảng cách tối đa lên tới 210 km.
Trong khi đó, phương Tây đã nghiên cứu chế tạo radar mảng pha thụ động từ thập niên 80, nhưng radar mảng pha chủ động vẫn đang trong quá trình nghiên cứu. Ngành công nghiệp điện tử của Nhật Bản cực kỳ mạnh mẽ, vì vậy tiêm kích F-2 của họ đã được trang bị radar mảng pha chủ động tự nghiên cứu. Nghe nói khoảng cách phát hiện của nó đạt 80 km. Tất nhiên, con số này không tính là tiên tiến, bởi radar quét cơ học của Tiêm Oanh-7A cũng có thể đạt được khoảng cách tương tự.
Kể từ lần Lâm Bằng thu thập được tài liệu kỹ thuật của các loại chiến đấu cơ nước ngoài như Rafale đưa lên máy bay cảnh báo sớm KJ-2000, các viện nghiên cứu điện tử lớn trong nước đã triển khai công tác nghiên cứu các loại radar điều khiển hỏa lực nước ngoài này, đồng thời ứng dụng vào việc cải tiến các hệ thống nội địa.
Đáng tiếc là trên những chiến đấu cơ đó vẫn chưa có radar mảng pha, ngay cả trên chiếc Rafale mới nhất cũng chỉ sử dụng radar quét cơ học (Pesa/Mesa). Dù Trung Quốc đã chế tạo được máy bay cảnh báo sớm KJ-2000 sử dụng radar mảng pha, nhưng radar mảng pha của máy bay cảnh báo sớm và radar điều khiển hỏa lực trên chiến đấu cơ có sự khác biệt rất lớn. Đặc biệt là việc thu nhỏ kích thước là cực kỳ khó khăn. Không gian phần mũi chiến đấu cơ rất hạn chế, nhưng lại yêu cầu khả năng quan sát tầm xa, vì vậy ngay cả châu Âu và phương Tây vẫn chưa có mẫu radar mảng pha chủ động nào được đưa vào sử dụng thực tế.
Đơn vị trúng thầu radar cho Tiêm Oanh-7B và phiên bản xuất khẩu FBC-1A là Viện 14 thuộc Tập đoàn Công nghệ Điện tử Trung Quốc (CETC), cũng chính là đơn vị nghiên cứu chế tạo máy bay cảnh báo sớm KJ-2000, có trụ sở tại thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô.
Lần này, Lâm Bằng mang theo sự ủy thác của Tổng sư Đường và lãnh đạo Viện Thiết kế Phi cơ, cùng các kỹ sư thiết kế hệ thống radar điều khiển hỏa lực lên đường tới Nam Kinh để phối hợp với Viện 14 trong công tác nghiên cứu chế tạo radar cho mẫu Phi Báo mới.
Cần biết rằng thời hạn bàn giao mẫu Phi Báo mới cho Saudi Arabia không còn nhiều, thời gian dành cho Viện Thiết kế Phi cơ nghiên cứu phát triển chưa đầy hai năm. Thêm vào đó, phía Saudi Arabia lại yêu cầu sử dụng radar mảng pha thụ động, điều này càng làm tăng thêm độ khó. Tuy nhiên, Lâm Bằng vẫn đặt niềm tin vào Viện 14, bởi vì những "gã khổng lồ" như máy bay cảnh báo sớm KJ-2000 họ còn làm ra được, thì một bộ radar mảng pha thụ động dành cho máy bay đối với Viện 14 cũng không phải là nhiệm vụ quá khó khăn.
Vấn đề cốt lõi vẫn nằm ở việc kiểm soát chi phí sản xuất các linh kiện lắp ráp, nơi mà năng lực trong nước vẫn chưa thực sự tối ưu. Trong khi đó, bộ phận xử lý dữ liệu cho radar mảng pha chủ động (AESA) đã đạt được những thành công nhất định.
Chi phí sản xuất cho một linh kiện lắp ráp lên tới hàng chục nghìn nhân dân tệ, trong khi tại Mỹ, con số này chỉ rơi vào vài trăm đô la. Nếu chế tạo một chiếc tiêm kích như F-22 với khoảng 2.000 linh kiện lắp ráp cho radar mảng pha chủ động, thì chi phí tại nội địa sẽ lên tới hàng trăm triệu nhân dân tệ hoặc hơn.
Tuy nhiên, radar mảng pha bị động (PESA) có độ khó kỹ thuật thấp hơn nhiều. Dù hiệu năng không thể sánh bằng mảng pha chủ động, nhưng nó vẫn vượt trội hơn hẳn so với các loại radar quét cơ học truyền thống.
Điển hình như tiêm kích Rafale, trước khi công nghệ mảng pha chủ động trở nên hoàn thiện, họ cũng đã sử dụng radar mảng pha bị động.
Việc lựa chọn radar mảng pha bị động còn có một ưu điểm khác, đó là rất thuận tiện cho việc nâng cấp các hệ thống radar hiện có. Chẳng hạn như radar mảng pha bị động của phương Tây đều là sản phẩm từ quá trình nâng cấp; chỉ cần thay thế hệ thống anten và bộ xử lý tín hiệu số là có thể hoàn tất, trọng lượng hệ thống cũng không tăng thêm đáng kể.
Chiếc JH-7A vốn được trang bị radar quét cơ học JL-10A, việc sử dụng các linh kiện này để nâng cấp cũng khá thuận tiện.
Tất nhiên, các thế hệ tiêm kích và máy bay ném bom tương lai chắc chắn phải sử dụng radar mảng pha chủ động, bởi đó mới là tiêu chuẩn cho các dòng chiến đấu cơ cao cấp.
Nói thẳng ra, JH-7B hiện tại chỉ là một dòng máy bay mang tính chất chuyển giao. Khi thế hệ tiêm kích - máy bay ném bom mới ra đời, nó sẽ sớm dừng sản xuất.
Khoảng thời gian chuyển giao này kéo dài chừng bảy đến tám năm. Trừ đi hơn một năm nghiên cứu phát triển và bay thử nghiệm, vẫn còn khoảng năm đến sáu năm để sản xuất. Với tốc độ của dây chuyền sản xuất theo nhịp, việc xuất xưởng bốn mươi đến năm mươi chiếc mỗi năm không phải là vấn đề lớn.
Việc JH-7B sử dụng radar mảng pha bị động còn có một lợi ích khác, đó là mở đường cho radar mảng pha chủ động thế hệ mới. Trên nền tảng công nghệ mảng pha bị động đã chín muồi, việc hoàn thiện công nghệ mảng pha chủ động cũng sẽ không còn xa.
Nam Kinh, được mệnh danh là cố đô sáu triều đại, cũng giống như Tây An, là một trong những thành phố quan trọng nhất của Trung Quốc với bề dày lịch sử lâu đời.
Nam Kinh sở hữu một trường đại học hàng không vũ trụ danh tiếng, có vị thế ngang hàng với Đại học Bách khoa Tây Bắc. Rất nhiều chuyên gia đang công tác trong hệ thống công nghiệp hàng không Trung Quốc đều tốt nghiệp từ ngôi trường này.
Ngành công nghiệp thông tin điện tử tại Nam Kinh phát triển rất mạnh mẽ, và Viện nghiên cứu số 14 thuộc Tập đoàn Công nghệ Điện tử Trung Quốc (CETC) chính là đơn vị hàng đầu trong số các viện nghiên cứu điện tử tại quốc gia này.