Phó Dũng cười nói: "Tổng sư Đường, công trình sư Lâm, lần này hai người không phải đi tham quan triển lãm hàng không ở sườn núi, tận mắt chứng kiến màn trình diễn của tiêm kích Rafale từ phía Pháp sao? Cảm giác thế nào?"
Tổng sư Đường mỉm cười đầy ẩn ý, đáp: "Rafale đương nhiên không tệ! Nó vốn là khách quen tại các triển lãm hàng không quốc tế, bay rất tốt, tốc độ leo cao nhanh nhẹn, khả năng chuyển hướng cực kỳ quyết liệt. Hơn nữa, tiêm kích Rafale sử dụng radar quét mảng pha thụ động (PESA), tuy nói chưa phải là lý tưởng nhất, nhưng so với radar băng tần D mà tiêm kích J-7A của chúng ta đang sử dụng hiện nay thì vẫn tiên tiến hơn nhiều!"
Lâm Bằng cũng biết hai vị này chắc chắn đã nắm được thông tin kỹ thuật liên quan đến hệ thống cảnh báo sớm 2000, đặc biệt là tổng sư Đường, ông ấy chắc chắn đã biết loại radar RBE2 PESA mà tiêm kích Rafale của Pháp sử dụng có hiệu năng rất ấn tượng.
Phó Dũng cười nói: "Tuy nhiên, ấn tượng của tôi về tiêm kích Rafale là phần mũi chứa radar có vẻ hơi nhỏ, đường kính chắc không quá 500mm, kích thước này cũng chẳng chênh lệch là bao so với phần mũi radar trên tiêm kích Kiêu Long của chúng ta."
Tổng sư Đường cảm thán: "Đúng vậy, thực ra các kỹ sư thiết kế Rafale có lẽ không phải không muốn thiết kế phần mũi radar lớn hơn một chút, đó vốn là giấc mơ của mọi kỹ sư thiết kế tiêm kích: trang bị radar lớn nhất, động cơ có lực đẩy mạnh nhất. Nhưng radar càng lớn thì tầm quét càng xa, nhưng đồng thời trọng lượng radar cũng tăng lên, lực cản khí động học ở phần mũi cũng lớn hơn, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tính cơ động của chiến đấu cơ."
Lâm Bằng đương nhiên hiểu rõ, tiêm kích Rafale hiện đang trang bị radar PESA RBE2 với cự ly tìm kiếm tối đa là 100 km. Khoảng cách này thực tế không hề ngắn, cao hơn nhiều so với J-7A, hơn nữa vừa vặn đáp ứng nhu cầu trang bị tên lửa không đối không MICA của Rafale, bởi vì tầm bắn tối đa của tên lửa MICA cũng chỉ khoảng 50 km!
Điều này cũng giống như tiêm kích J-7A hiện tại, vì nó chỉ có thể phóng tên lửa đối kháng tầm gần, nên radar băng tần D hiện nay vẫn có thể đảm đương được. Tuy nhiên, nếu tương lai nâng cấp lên J-8, hoặc đạt yêu cầu của phía Ả Rập để có thể phóng tên lửa không đối không tầm trung SD-10, thì radar hiện tại sẽ không đủ dùng, bắt buộc phải nâng cấp, ít nhất phải đạt tầm nhìn 120 km.
Nếu radar quá kém, kết cục sẽ giống như phi công lái chiếc J-7III kia, chỉ biết trơ mắt nhìn máy bay vận tải Y-8 của Diệp Tử và những người khác bay thoát ngay dưới mí mắt. Nếu khi đó đối thủ của họ là một chiếc Rafale, thì dù thế nào đi nữa, họ cũng không thể nào thoát được.
Tất nhiên, đó mới chỉ là chặn đánh. Nếu là không chiến giữa các chiến đấu cơ với nhau, thì radar điều khiển hỏa lực trên máy bay lại càng quan trọng. Nó giống như hai tay súng quyết đấu, kẻ nào có thị lực tốt sẽ phát hiện đối phương từ rất xa, còn kẻ thị lực kém thì chưa kịp thấy đối phương đã bị bắn hạ rồi.
Lâm Bằng nhớ lại sau này tiêm kích Rafale cũng đã chuyển sang sử dụng radar quét mảng pha chủ động (AESA). Bởi vì lúc đó Rafale được trang bị tên lửa không đối không Meteor, loại tên lửa này có tầm bắn tối đa lên tới 100 km, cho nên phiên bản radar PESA đời đầu với cự ly tìm kiếm tối đa chỉ 100 km đã không còn đáp ứng được nhu cầu.
Sau khi nâng cấp lên radar AESA, tiêm kích Rafale có thể phát hiện các mục tiêu chiến đấu cơ điển hình ở khoảng cách 150 km, tức là những mục tiêu có diện tích phản xạ radar từ 3 đến 5 mét vuông.
Lâm Bằng không khỏi nhớ tới các diễn đàn quân sự trên mạng, có rất nhiều quân mê cho rằng radar PESA là loại radar không phát sóng, chỉ thụ động tiếp nhận tín hiệu radar của địch. Điều này có lẽ cũng liên quan đến cách tuyên truyền của phía Sukhoi.
Sukhoi luôn tuyên truyền rằng các dòng tiêm kích Su của họ sở hữu loại radar PESA lợi hại nhất thế giới, chính là radar "Báo Tuyết" (Bars) trong truyền thuyết. Sukhoi khẳng định loại radar PESA này có khả năng dò tìm các mục tiêu như MiG-21 ở khoảng cách từ 350 đến 400 km.
Cái này thì "nổ" hơi quá, Lâm Bằng nghĩ đến mà thấy buồn cười. Các quân mê trên mạng đều bị dẫn dắt sai lệch, cho rằng loại radar PESA này chính là không phát sóng radar mà chỉ thụ động tiếp nhận sóng radar của địch!
Việc thụ động tiếp nhận sóng radar của địch thực chất là có loại vũ khí đó, nhưng đó gọi là tên lửa chống bức xạ. Tên lửa chống bức xạ lợi dụng sóng điện từ phát ra từ radar của địch để dẫn đường, từ đó phá hủy radar và khí tài của đối phương.
Trên thực tế, sự phát triển của radar mảng pha trải qua ba thế hệ. Thế hệ thứ nhất chính là radar PESA. Loại radar này có khả năng tập trung khuếch đại công suất mạnh, cự ly dò tìm xa, khả năng phát hiện máy bay tàng hình ở cự ly gần tốt, tích hợp nhiều chức năng, nhưng lại thiếu các tính năng đặc thù, trọng lượng lớn, thể tích cồng kềnh, hình dạng đặc thù, bảo trì khó khăn, chi phí cao, không thích hợp để sản xuất hàng loạt.
Vì vậy, trên toàn thế giới cũng chỉ có số ít chiến đấu cơ sử dụng radar PESA, nổi tiếng nhất đương nhiên là dòng tiêm kích Su, và đứng thứ hai chính là các phiên bản đời đầu của tiêm kích Rafale.
Hệ thống radar mảng pha thụ động thế hệ thứ hai chính là loại radar mảng pha thụ động thông thường, đến thế hệ thứ ba thì tiến hóa thành radar mảng pha chủ động kỹ thuật số. Radar mảng pha chủ động kỹ thuật số thế hệ thứ ba sở hữu các module thu phát tín hiệu kỹ thuật số, hiệu suất sử dụng công suất cực cao, mức tiêu thụ điện năng thấp nhưng khả năng dò tìm lại đạt cự ly cực xa.
Điển hình như tiêm kích F-22 sử dụng radar quét điện tử chủ động AN/APG-77, đây là loại radar có khả năng vừa quét, vừa tìm kiếm và theo dõi mục tiêu cùng lúc.
Sau này, tiêm kích J-20 của Trung Quốc cũng được trang bị radar mảng pha chủ động kỹ thuật số. Nó có khả năng dò tìm mục tiêu có tiết diện phản xạ radar 1 mét vuông ở khoảng cách trên 300 km, đồng thời theo dõi 30 mục tiêu và tấn công cùng lúc từ 4 đến 6 mục tiêu trong số đó. Số lượng module thu phát (TR) trên radar của J-20 còn nhiều hơn cả F-22, có thể nói là dẫn đầu thế giới.
Tuy nhiên hiện tại, radar mảng pha trên máy bay của Trung Quốc vẫn đang trong quá trình nghiên cứu chế tạo. Hơn nữa, Trung Quốc vốn bắt đầu nghiên cứu từ radar mảng pha thụ động, truyền thuyết kể rằng mẫu J-10B ban đầu cũng sử dụng loại radar này. Nhưng vì hiệu năng của radar mảng pha thụ động thực sự kém hơn đáng kể so với mảng pha chủ động, nên J-10B không được sản xuất nhiều và sớm bị dừng dây chuyền, thay thế bằng J-10C sử dụng radar mảng pha chủ động để sản xuất hàng loạt.
Hiện tại, Lâm Bằng đã chuyển toàn bộ dữ liệu kỹ thuật của tiêm kích Rafale thông qua máy bay cảnh báo sớm KJ-2000 về cho các bộ phận liên quan. Vì vậy, Lâm Bằng có lý do để tin rằng radar mảng pha thụ động của Trung Quốc sẽ sớm hoàn thiện nghiên cứu. Có lẽ chỉ trong một đến hai năm tới, mẫu "Tân Phi Báo" (FBC-1 mới) sẽ có thể sử dụng radar mảng pha thụ động, khi đó chẳng phải sẽ thỏa mãn yêu cầu của phía Saudi Arabia sao?
Hơn nữa, đường kính vòm radar của Tân Phi Báo lớn hơn Rafale rất nhiều. Rafale chỉ có 500 mm, trong khi Tân Phi Báo ít nhất có thể đạt tới 900 mm, nên về hiệu năng chắc chắn sẽ vượt trội hơn hẳn, ít nhất việc quan sát mục tiêu ở khoảng cách 150 km là không thành vấn đề.
Lúc này, Phó Dũng lên tiếng: "Tổng công trình sư Đường, vậy ông xem, Tân Phi Báo của chúng ta nên dùng loại radar nào thì tốt? Là tiếp tục dùng radar Doppler xung, hay dùng loại radar mảng pha thụ động giống như trên tiêm kích Rafale?"
Tổng công trình sư Đường suy nghĩ một lát rồi đáp: "Tôi nghĩ có thể thế này, Tân Phi Báo xuất khẩu thì dùng loại mảng pha thụ động, còn phiên bản chúng ta tự sử dụng thì tất nhiên phải dùng loại radar mảng pha chủ động tiên tiến hơn!"