Chương 1150: Phải sớm quyết đoán
Sào huyệt của đám hải tặc khét tiếng tại Hồ Lô đảo năm xưa, nay đã trở thành nơi đặt nha môn Hải Sự Thự của Đại Minh. Phía trước đảo là quân cảng, tàu chiến lớn nhỏ neo đậu san sát. Cách đó chừng mười dặm trên mặt biển, các đội chiến hạm cùng thuyền phụ trợ thay phiên tuần tra, bảo vệ sự an nguy của Hồ Lô đảo.
Cửa ngõ Hồ Lô đảo giờ đây đã hoàn toàn biến thành một pháo đài quân sự kiên cố. Những bức tường thành xây bằng nham thạch sừng sững bao trọn lấy cửa biển. Đứng từ bên ngoài nhìn vào chẳng thấy gì lạ thường, nhưng nếu đứng trên đỉnh cứ điểm, sẽ thấy hàng loạt máy bắn đá Phích Lịch Hỏa bố trí dày đặc phía sau. Trên tường thành, vô số cường nỏ cùng nỏ cơ khổng lồ tỏa ra hàn quang lạnh lẽo, tựa như mãnh thú chực chờ vồ mồi.
Bố phòng nơi đây chủ yếu để ngăn chặn các cuộc tấn công từ phía biển, do đó hỏa lực tầm xa được ưu tiên hàng đầu. Vùng biển này vốn dĩ hải tặc hoành hành, dù thủy sư Đại Minh đã nhiều lần xuất quân càn quét, nhưng Ninh Tắc Viễn cũng không dám khẳng định đã tận diệt được chúng. Quan trọng hơn, trong vùng hải vực này còn có thế lực của các quốc gia hải đảo phương xa. Hồ Lô đảo bỗng dưng quật khởi, khó tránh khỏi việc bị kẻ khác dòm ngó.
Nằm giữa hai hòn đảo là một vịnh biển yên tĩnh, nơi đặt xưởng đóng tàu với những ụ tàu khổng lồ san sát nhau. Vượt qua vùng nước này mới tiến vào bản đảo của Hồ Lô đảo. Trên đảo chính là nha môn Hải Sự Thự, khu dân cư và các dãy trại lính. Những binh sĩ thủy sư và lục chiến đội thay phiên nhau nghỉ ngơi tại đây.
Sau hơn hai năm khai phá, Hồ Lô đảo hiện có hơn hai vạn người. Ngoài binh sĩ và thợ thuyền ở xưởng đóng tàu, còn có rất nhiều bách tính được di dân đến. Họ phụ trách canh tác, cung cấp lương thực và các nhu yếu phẩm cho đảo. Khi cần thiết, những người này cũng có thể được trưng tập phục vụ quân đội.
Chu Bảo Trinh đã gặp Trần Từ chính tại nơi này.
Những cái tên như Trần Từ, Lạc Nhất Thủy vốn đã lừng lẫy thiên hạ từ lâu, Chu Bảo Trinh tuy nghe danh đã lâu nhưng đây là lần đầu được diện kiến. Hắn không mảy may nghi ngờ danh tính của họ, bởi Hồ Lô đảo lúc này đang hừng hực khí thế chuẩn bị cho một cuộc đại chiến. Binh sĩ được động viên, chiến hạm được kiểm tra đại tu, từng rương khí tài, vật tư không ngừng được chuyển lên tàu.
Thủy sư Đại Minh thực sự sắp xuất chinh.
Hắn không ngờ rằng Lạc Nhất Thủy và Trần Từ đã đứng vững tại đảo Manila, thậm chí còn tìm được một quân bài bù nhìn đắc lực. Điều này chứng tỏ Đại Minh đã tìm được kẻ đại diện cho mình ở hải ngoại.
Chu Bảo Trinh hiểu rõ kiểm soát được Manila có ý nghĩa thế nào. Đó chính là nắm giữ yết hầu giao thương giữa Đông và Tây. Manila trước kia tuy mạnh nhưng chưa đủ sức áp đảo các quốc gia xung quanh. Đại vương Ni Lan đời trước chủ yếu dựa vào thuật hợp tung liên hoành và uy tín cá nhân để gắn kết vùng biển này. Nhưng một khi Manila rơi vào tay Đại Minh, với thực lực và sự đầu tư mạnh mẽ cho thủy sư, Chu Bảo Trinh tin chắc rằng chỉ trong mười năm nữa, vùng biển này sẽ trở thành vườn sau của Đại Minh, mang về nguồn tài lực vô tận.
Đại Tề hiện nay về mặt thủy quân hoàn toàn không thể so bì với Đại Minh. Chu Bảo Trinh dường như đã thấy trước cảnh vài năm tới, trên dải hải cương ngàn dặm của Tề quốc, chiến hạm Đại Minh ngang dọc khắp nơi, khói lửa ngợp trời. Quân Minh có thể tùy ý đổ bộ, quấy phá các quận ven biển của Tề quốc.
Chưa nói đến việc họ có thể đánh chiếm được bao nhiêu, riêng sự quấy nhiễu đó cũng đủ khiến Tề quốc tiêu hao vô số binh lực, khiến các quan lại vùng duyên hải phải đau đầu nhức óc. Vùng ven biển vốn là tiềm lực của Tề quốc, nay lại trở thành một cái hố đen không đáy ngốn sạch thực lực quốc gia.
Trừ khi Tề quốc giành được chiến thắng tuyệt đối trên đại lục, nếu không, thời gian càng kéo dài, ưu thế của Đại Minh sẽ càng rõ rệt. Nắm giữ biển cả mênh mông chính là nắm giữ thế chiến lược tiến có thể công, lui có thể thủ.
Ngược lại, triều đình Đại Tề đến nay vẫn xem nhẹ thủy quân. Thứ bọn họ thèm khát không phải là kỹ thuật hàng hải hay năng lực đóng tàu của nhà họ Chu, mà là khối tài sản kếch xù của gia tộc này. Những chiến binh dạn dày sóng gió của Chu gia đang bị ép buộc đưa về vùng Kinh Hồ, chiến đấu trong những đầm lầy, khe suối như lũ tôm cá mắc cạn để đối đầu với quân Sở.
Nhìn những binh sĩ tinh nhuệ đang khẩn trương chuẩn bị, cán cân trong lòng Chu Bảo Trinh bắt đầu nghiêng hẳn về một phía.
Ba ngày sau, hắn cuối cùng cũng đạt được mục đích của chuyến đi này. Khi nhìn thấy chiếc chiến hạm năm tầng của Ninh Tắc Viễn rẽ sóng tiến tới, sự kiên trì cuối cùng trong lòng hắn hoàn toàn sụp đổ.
Biển cả này sau này sẽ thuộc về Đại Minh. Con quái vật khổng lồ đang trôi nổi kia đã khẳng định chủ quyền của nó. Những chiến hạm chủ lực trước đây nay chỉ như món đồ chơi trước mặt nó. Nhìn mũi tàu vươn dài đầy uy dũng, lớp thiết giáp bao bọc lấy boong tàu, Chu Bảo Trinh cảm thấy từng lỗ chân lông trên người như đang gào thét. Đời này nếu có thể một lần chỉ huy con chiến hạm vĩ đại như thế ra khơi, còn mong cầu gì hơn nữa?
Hắn quyết định lập tức trở về. Còn về trận chiến tại Manila, hắn thấy chẳng cần phải xem thêm nữa. Hắn chẳng lạ gì nơi đó, nếu nói chiến hạm trước kia của Đại Minh còn có thể chống đỡ, thì sự xuất hiện của con tàu năm tầng này sẽ nghiền nát mọi phòng tuyến cảng khẩu và xuyên thủng mọi tàu chiến như đâm vào tờ giấy mỏng.
Chu gia không cần phải do dự nữa. Quy thuận Đại Minh có thể khơi lại khát vọng chinh phục đại dương của dòng họ. Dù Đại Tề có trở mặt, Chu gia vẫn có thể lánh mình ngoài biển khơi, Tề quốc làm sao chạm tới? Còn về sản nghiệp trên đất liền, mất thì cũng đã mất rồi, với năng lực của Chu gia, lo gì không gây dựng lại được cơ đồ?
Thủy sư Đại Minh hiện tại không thiếu bạc, không thiếu thuyền, thứ họ thiếu nhất chính là nhân tài — những thuyền trưởng và thủy thủ dày dạn kinh nghiệm để điều khiển những con tàu vĩ đại này.
Ninh gia đã nhìn ra điểm này nên đã đi trước Chu gia một bước dài. Đại Minh đang dốc toàn lực hỗ trợ Ninh gia đào tạo nhân tài. Nếu còn chậm trễ, Chu gia sẽ thực sự không còn giá trị gì để trao đổi.
Ngày hôm sau, Chu Bảo Trinh bước lên chiến hạm quay về. Hắn chẳng còn màng đến việc nộp ba thành phí bảo hộ để đổi lấy sự che chở của thủy sư Đại Minh nữa, mà điều Chu gia cần làm lúc này là tìm cách bước lên con tàu khổng lồ của Đại Minh để tiến ra biển lớn. Chu Bảo Trinh đã hạ quyết tâm, trở về sẽ dốc toàn lực thuyết phục tộc trưởng. Nếu gia tộc không chịu chuyển hướng, một mình hắn cũng sẽ thoát ly khỏi Chu gia. Dù không mang theo được xưởng đóng tàu, nhưng với những thợ giỏi và binh sĩ dưới quyền, hắn tin rằng Đại Minh vẫn sẽ trọng dụng.
Ngày thứ ba, Trần Từ cũng rời Hồ Lô đảo. Đại Minh đã quyết định xuất quân giúp họ kiểm soát Manila, hắn phải về bàn bạc với Lạc Nhất Thủy để phối hợp tác chiến. Việc chuẩn bị cho một cuộc đại chiến như vậy cần không ít thời gian.
Thủy sư Đại Minh đang lặng lẽ nhe nanh múa vuốt, chuẩn bị cho cuộc viễn chinh đầu tiên nhằm chinh phục biển cả.
Trong khi Ninh Tắc Viễn đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc viễn chinh, thì Trần Chí Hoa cũng đã dẫn quân Minh tiến sát Ung Đô, hạ trại cách thành chưa đầy năm mươi dặm. Trước mặt họ là các vệ thành của Ung Đô. Muốn hạ được kinh đô, trước tiên phải nhổ sạch các vệ thành này.
Dù tuyết lớn phủ kín mặt đất, không thích hợp cho đại quân tác chiến, nhưng Trần Chí Hoa không có ý định để quân đội nằm im trong trại suốt mùa đông. Những vệ thành này chính là nơi luyện quân lý tưởng. Quân Minh vốn thiếu kinh nghiệm công thành, mà các vệ thành này quy mô vừa phải nhưng phòng thủ hoàn thiện, rất thích hợp để tập trận thực tế.
Trong cái lạnh thấu xương, doanh trại quân Minh vẫn hừng hực khí thế. Ngược lại, Ung Đô lại chìm trong bầu không khí sầu thảm. Nơi đây đã trở thành thành trì cuối cùng của Đại Tần. Kết cục ra sao ai cũng rõ, chỉ là vấn đề thời gian. Giá cả leo thang chóng mặt, lương thực có tiền cũng không mua được. Thành phố bị quân quản hoàn toàn. Mã Siêu sau khi trở về đã cưỡng chế tịch thu toàn bộ lương thực và nhu yếu phẩm của các hộ gia đình, áp dụng chế độ phân phối nghiêm ngặt.
Ưu tiên hàng đầu dĩ nhiên là quân đội. Sau đó, đừng nói là dân nghèo, ngay cả các danh gia vọng tộc hay quan lại cũng phải chịu cảnh bữa đói bữa no, hằng ngày chỉ lo làm sao cho đầy bụng.
Người dân trong thành Ung Đô đã khổ, những người Minh bị giam trong ngục lại càng thảm khốc hơn. Sau biến cố Hổ Lao quan, Mã Việt nổi trận lôi đình, ra lệnh bắt giam toàn bộ người Minh ở Ung Đô.
Các thương nhân Minh quốc tại Ung Đô và các vùng lân cận là những kẻ chịu trận đầu tiên. Nếu không vì triều đình Tần quốc muốn giữ họ lại làm con bài mặc cả khi quân Minh tấn công, có lẽ đầu họ đã rơi từ lâu.
Dù mạng sống còn giữ được, nhưng hơn một ngàn thương nhân bị nhốt trong đại lao hằng ngày chỉ nhận được một bát cháo loãng soi gương được và một mẩu bánh bao đen nhỏ xíu.
Thời tiết lúc này nước đóng thành băng, trong ngục tối lại càng rét lạnh thấu xương. Thứ duy nhất để sưởi ấm là ít cỏ khô trên đất. Khi bị bắt, trời vẫn còn ấm áp, nay đã vào đông đại hàn. Chỉ với những bộ áo mỏng trên người, họ chỉ biết ôm chặt lấy nhau để tìm chút hơi ấm mong manh.
Bóng tối của tử thần đang bao trùm lên đầu mỗi người.