Về việc lịch pháp, Tần Mục quyết định sẽ áp dụng cả dương lịch và âm lịch như đời sau.
Dương lịch lấy năm Tần Thủy Hoàng xưng đế làm năm Tần Nguyên niên. Tính toán kỹ lưỡng, đến năm Tần Mục đăng cơ chính là năm 1868, sau này tất cả các sách sử chủ yếu sẽ lấy dương lịch làm mốc ghi năm.
Âm lịch thì vẫn giữ nguyên như cũ, sau này niên hiệu của các hoàng đế có thay đổi thế nào đi nữa, cứ theo âm lịch mà tính, muốn gọi thế nào cũng được, dương lịch ghi năm sẽ không bị loạn.
Sau khi đăng cơ xưng đế, việc tiếp theo đương nhiên là phong thưởng cho quần thần.
Đại Tần cũng giống như triều Minh, khác họ không được phong vương, tước vị cao nhất là Công. Người được phong Quốc công gồm 12 vị, lần lượt là: Ngụy Quốc công Tư Mã An, Tống Quốc công Lộ Chấn Phi, Tào Quốc công Lý Nguyên, Hàn Quốc công Dương Đình Lân, Kinh Quốc công Thiệu Hoa, Vệ Quốc công Lưu Mãnh, Tín Quốc công Mông Kha, Ngô Quốc công Mã Vĩnh Trinh, Ngạc Quốc công Lý Quá, Sở Quốc công Lý Định Quốc, Tề Quốc công Lưu Bá Toàn, Yên Quốc công Hà Lượng.
Người được phong tước Hầu có ba mươi hai vị, lần lượt là: Giang Ninh hầu Dương Thận, Trường Hưng hầu Hoắc Thắng, Lục An hầu Thôi Phong, Tế Ninh hầu Lăng Chiến, Nam An hầu Ninh Viễn, Quảng Đức hầu Cao Nhất Công, Vĩnh Gia hầu Lý Thần, Nam Hùng hầu Hàn Cương, Giang Âm hầu Diêm Ứng Nguyên, Tĩnh Hải hầu Địch Trung Hành, Giang Hạ hầu Tần Dực Minh, Hội Xương hầu Điền Nhất Mỗ, Kiến Đức hầu Mã Lục Lạng, Dĩnh Thượng hầu Tô Cẩn, Lịch Thành hầu Bạch Thiết.
Ngoài ra còn có Biện Địch, Đàm Thu Bạch, Cố Quân Ân, Tống Ứng Tinh, Huệ Đăng Tương, Kim Thanh Hoàn, Hách Dao Kỳ, Lý Cửu, Triệu Kiên, Ngao Bái, Hồ Thủ Lượng, Ngưu Vạn Xuyên, Quách Vân Long, Tần Tộ Minh, Tần Tá Minh, Ngải Năng Kỳ, Lương Đào, Lưu Thể Thuần, Trịnh Tứ Hải, Lưu Trung Tần, Cố Dung, v.v... đều được phong tước Hầu.
Những người còn lại cũng đều có phong thưởng, không liệt kê chi tiết ở đây.
Về cấp bậc phi tần trong hậu cung, đặt ra một Hoàng hậu, vài vị phi tử. Dưới phi là Tiệp dư, Chiêu nghi, Quý nhân, Mỹ nhân, Tuyển thị.
Ngoài Dương Chỉ được phong Hậu, Vân Xảo Nhi phong Phi, thì Biện Ngọc Kinh vì sinh hạ một công chúa, cùng với Hồng Nương Tử và Văn Huệ công chúa do Triều Tiên đưa sang đều được phong Chiêu nghi. Cố Hàm Yên vì là tiểu thư khuê các chính thức tuyển vào cung, cũng được phong Chiêu nghi.
Đổng Tiểu Uyển và Lý Hương Quân được thăng một cấp phong làm Quý nhân. Để lôi kéo Khoa Nhĩ Thấm, Mạnh Cổ Thanh cũng được phong Quý nhân.
Tính toán lại, toàn bộ hậu cung bao gồm cả Hoàng hậu, chỉ có chín người phụ nữ có phong hiệu. Ba điện lớn của hậu đình cùng Đông cung và Tây cung sáu viện đều chưa ở đầy. Hậu cung lưa thưa thế này quả thực có chút không ra làm sao.
Cũng may Lộ Chấn Phi sau khi được Dương Chỉ đồng ý, đã chọn trước 381 thiếu nữ đủ tuổi để sung túc hậu cung. Những tú nữ này đều là những cô gái thông minh xinh đẹp được chọn lọc qua nhiều tầng, nghiêm túc mà nói, họ đều là lực lượng dự bị sinh sản cho hoàng gia. Trong đó, từ 381 người này lại chọn ra chín người có nhan sắc tuyệt trần, hiền thục ôn lương phong làm Mỹ nhân để hầu hạ.
Sau khi đại lễ đăng cơ và việc phong thưởng tại điện Kim Loan kết thúc, Tần Mục mở tiệc lớn trong cung đãi quần thần. Trước điện Tử Thần bày ra một dãy tiệc rượu dài, văn võ bá quan mỗi người một chỗ ngồi, chật kín cả sảnh đường, không khí vô cùng náo nhiệt.
Tần Mục mặc áo Cổn miện mười hai chương của hoàng đế, Nhật, Nguyệt, Tinh Thần, Sơn, Long, Hoa Trùng sáu loại dệt trên áo; Tông Di, Tảo, Hỏa, Phấn Mễ, Phủ, Phất thêu trên váy, đội mũ mười hai lưu miện. Cái gọi là mười hai lưu miện chính là chuỗi ngọc treo trên mũ miện, số lượng chuỗi ngọc này có quy định nghiêm ngặt, Thiên tử là cấp bậc cao nhất với mười hai lưu.
Mục đích của việc đặt lưu trên mũ miện đế vương là để "che mắt". Ý nghĩa là bậc quân vương khi quan sát sự việc, không được "soi xét quá mức". Nói cách khác, một người làm lãnh đạo phải nhìn thấu đại cục mà có thể bao dung những sai sót nhỏ nhặt.
Tần Mục cảm thấy ngụ ý này quả là chân lý. Giống như Mã Lục Lạng, dù là ở trong buổi ngự yến này, vẫn khó che giấu được khí chất thảo khấu, nhưng không thể cứ nhìn chằm chằm vào cái khí chất đó mà phải nhìn thấy ưu điểm của hắn.
"Kiến Đức hầu." Tần Mục gọi một tiếng.
Trong một ngày mà có đến ba mươi hai người được phong Hầu, hơn nữa tước Hầu này còn chưa kịp ấm chỗ, Mã Lục Lạng nhất thời không nhận ra Tần Mục đang gọi mình, vẫn đang trò chuyện rôm rả với Hàn Tú và những người đã lâu không gặp.
Cho đến khi Hàn Tú lén kéo vạt áo hắn, hắn mới ngơ ngác chỉ vào mũi mình hỏi: "Bệ hạ đang gọi vi thần sao?"
Đám quan lại trong tiệc, ai nấy đều mỉm cười.
Trong thời khắc vui vẻ này, Tần Mục cũng khá hài hước, mỉm cười nói: "Trẫm cũng không nhớ Kiến Đức hầu là phong cho ai, tốt nhất ngươi nên lấy sắc phong của mình ra xem, kẻo nhận nhầm."
Mã Lục Lạng thật sự làm theo, lấy sắc phong ra xem. Cả điện vốn chỉ khẽ cười, giờ đây không ai nhịn được nữa, bật cười thành tiếng.
Mặt Mã Lục Lạng đỏ bừng vì xấu hổ, vội vàng cất sắc phong, ấp úng nói: "Thần... thần thất lễ, xin Bệ hạ giáng tội."
"Ừm, vậy phạt ngươi kính mỗi vị đại thần đang ngồi đây một chén rượu."
"A!" Mã Lục Lạng nhìn hàng trăm văn võ bá quan, mặt tái mét. Nếu mỗi người một chén thì làm sao chịu nổi. "Bệ hạ, ngài cứ phạt thần hai mươi quân côn... ừm, đình trượng đi ạ."
"Thôi được rồi, cất sắc phong của ngươi đi, lỡ làm mất thì Kiến Đức hầu mà trẫm phong e là chẳng còn ai nhận nữa đâu."
Chúng thần lại cười lớn, Mã Lục Lạng cũng cười hì hì, làm bộ làm tịch bái lạy Tần Mục: "Thần tạ ơn Bệ hạ long ân."
Sau khi chúng thần cùng kính rượu Tần Mục ba lần, kỹ nữ giáo phường ra dâng ca múa. Đầu tiên là tiếng chuông trống vang dội, âm hưởng trầm bổng vang vọng giữa cung điện nguy nga tráng lệ.
Tiếp đó, ba trăm vũ công ăn mặc như tướng sĩ quân Tần biểu diễn bài "Vô Y". Vũ công cầm qua Tần, vác nỏ Tần, theo nhịp trống bước những bước nhảy hùng tráng mạnh mẽ, vừa múa vừa hát: "Khởi viết vô y, dữ tử đồng bào. Vương vu hưng sư, tu ngã qua mâu. Dữ tử đồng cừu. Khởi viết vô y? Dữ tử đồng trạch. Vương vu hưng sư, tu ngã mâu kích. Dữ tử giai tác..."
Giọng Tần khàn khàn, động tác mạnh mẽ, phối hợp với khúc nhạc khiến người ta cảm thấy hào hùng, máu nóng sôi trào. Các tướng quân ngồi đó đều không nhịn được mà vỗ tay hát theo, như thể lại quay về chiến trường khói lửa mịt mù, sống chết có nhau năm nào.
Nghe nói năm xưa Đường Thái Tông khi đãi tiệc quần thần trong hoàng cung cũng thích xem biểu diễn "Tần Vương phá trận nhạc", còn Đường Huyền Tông lại thích xem "Vũ y nghê thường vũ". Qua đó không khó để thấy khí phách của một đế vương thế nào. "Tần Vương phá trận nhạc" thể hiện ý nghĩa "Bốn biển hoàng phong che chở, ngàn năm đức nước trong xanh; không cần mặc giáp trụ nữa, hôm nay báo công thành", trong đó yếu tố mừng công là chủ yếu. Còn "Vô Y" diễn tả cảnh tượng chiến trường đoàn kết hợp tác, sống chết có nhau. Cả hai đều thuộc loại vũ đạo võ thuật quy mô lớn, thể hiện một phong thái cương kiện.
Sau khi biểu diễn xong "Vô Y", tiếp theo là bài "Kiêm Gia". Đây là sự sắp đặt theo ý của Tần Mục. Những người đọc thuộc "Kinh Thi" đều nhìn ra ngay, dù là "Vô Y" hay "Kiêm Gia", đều xuất phát từ "Tần Phong thiên" trong "Kinh Thi", đều thể hiện phong thái của đất Tần.
Vào ngày đại lễ đăng cơ, lấy hai bài thơ trong "Kinh Thi" chương Tần Phong để biên thành ca múa, ý nghĩa vô cùng sâu xa.
Tiếng nhạc trong trẻo du dương vang lên, 200 người phụ nữ xuất hiện, vật trang trí trên đầu như cỏ lau (kiêm gia), khi múa, váy áo bay bổng, như gió thổi bên bờ nước, dáng vẻ yểu điệu. Một người đàn ông đội mũ cao thắt đai, dưới sự bảo vệ của các binh sĩ cầm qua, ngồi xe đi ra, đi giữa những "cỏ lau" đang nhảy múa như sóng.
Tiếp đó, người đàn ông đội mũ cao thắt đai cất tiếng hát:
"Kiêm gia thương thương, bạch lộ vi sương. Sở vị y nhân, tại thủy nhất phương, tố hồi tòng chi, đạo trở thả trường. Tố du tòng chi, uyển tại thủy trung ương.
Kiêm gia thê thê, bạch lộ vị hy. Sở vị y nhân, tại thủy chi mi. Tố hồi tòng chi, đạo trở thả tê. Tố du tòng chi, uyển tại thủy trung đê.
Kiêm gia thái thái, bạch lộ vị dĩ. Sở vị y nhân, tại thủy chi sĩ. Tố hồi tòng chi, đạo trở thả hữu. Tố du tòng chi, uyển tại thủy trung chỉ."
Tiếng hát của ông ta không hề bi lụy quấn quýt như người ta tưởng tượng, mà là giọng hát trong trẻo như ngâm nga, diễn tả một ý nghĩa khao khát hiền tài. Ở đời sau, người ta mỗi khi đọc bài "Kiêm Gia" này, ngay lập tức sẽ nghĩ đến những câu chuyện tình yêu kiểu Quỳnh Dao. Nhưng thực ra, bài thơ này vốn dĩ có thể là bài thơ cầu hiền của Tần Mục Công. "Y nhân" ở bên bờ nước trong thơ, chỉ những người như Khương Thái Công. Còn người "tố hồi tòng chi" đi tìm "y nhân" kia, chỉ những bậc đế vương khao khát hiền tài như Chu Vũ Vương. "Y nhân" không có nghĩa là "giai nhân", mà có nghĩa là "người đó".
Ít nhất, "Kiêm Gia" được diễn trên hoàng cung Đại Tần hôm nay, thể hiện chính là ý nghĩa khao khát hiền tài.
Vào ngày này, Tần Mục đặc biệt cho người diễn "Vô Y" và "Kiêm Gia" trong Tần Phong thiên, một võ một văn, đồng thời bày tỏ tâm thái và kỳ vọng của bản thân mình với tư cách là một đế vương. Ông kỳ vọng các tướng lĩnh tiếp tục đoàn kết hợp tác, đánh thắng kẻ thù. Kỳ vọng có được nhiều hiền tài trị thế hơn, để quản lý Đại Tần quốc phú dân cường, ngày càng hưng thịnh.
Văn võ bá quan nhìn ra tâm ý sâu xa của ông, do Tư Mã An dẫn đầu, cùng rời khỏi chỗ ngồi, bái lạy ông: "Bệ hạ thánh hiền, sánh ngang Nghiêu Thuấn!"
Tần Mục cười ha hả nói: "Các khanh bình thân, hôm nay không cần câu nệ lễ nghi, các khanh cứ thoải mái uống rượu."
Trong toàn bộ hoàng cung, cờ hoa rực rỡ, ca múa chúc mừng, cung nữ đi lại giữa các bàn tiệc, thêm rượu gắp thức ăn, bóng dáng hương thơm dập dìu, khách khứa trong và ngoài nước thoải mái nâng chén.
Bên ngoài hoàng cung, cũng là một cảnh tượng vui mừng khắp thành, tiếng trống tiếng nhạc, tiếng pháo, tiếng cười vang vọng tận mây xanh.
Ngay cả các cô gái ở thanh lâu cũng tự phát bước xuống khỏi lầu Yên, ca hát nhảy múa, cùng chúc mừng Đại Tần đại thắng bắc phạt, tân hoàng đăng cơ.
Lý đại nương không còn bày hàng bên đường nữa, mà mở một cửa tiệm, tiệm bánh rán của bà buôn bán rất phát đạt. Những chiếc "Tần bính" bán ra, vì truyền thuyết đẹp đẽ về Bệ hạ và Tương phi nương nương, cùng câu chuyện nghìn vàng trả ơn một chiếc bánh, mà được gán cho những ý nghĩa đặc biệt. Hiện nay, nam nữ kết hôn ở thành Nam Kinh, trong sính lễ nhất định phải có Tần bính.
Ngày tân hoàng đăng cơ, 9.999 chiếc Tần bính được làm gấp trong tiệm của Lý đại nương đã được mời người dân Nam Kinh ăn miễn phí, từ sáng sớm đã bị giành sạch.
Từ Vĩnh Thuận thì lại có cách riêng, để chúc mừng tân hoàng đăng cơ, ông bày hàng trăm bàn tiệc lưu thủy trước cửa nhà mình, người dân qua lại cứ tự nhiên ăn uống.
Những tửu lầu cao cấp nhất bên sông Tần Hoài cũng lần lượt tung ra các chương trình khuyến mãi, trong vòng ba ngày, tất cả rượu nước đều miễn phí.
Ngay cả gã đồ tể họ Trương ở chợ Ngô Vương cũng chơi chiêu mua một tặng hai. Ờ, đừng hiểu lầm, không phải mua một cân tặng hai cân, mà là mua một cân tặng hai lạng. Nhưng gã hét lớn "mua một tặng hai" vẫn gây ra sự chấn động cực lớn.
Tóm lại, ngày hôm đó trong thành Nam Kinh nhà nhà treo đèn kết hoa, còn náo nhiệt hơn cả Tết, trên đường phố nam thanh nữ tú, như là đi hội Nguyên Tiêu, khắp nơi là biểu diễn ca múa, tiếng cười của người lớn trẻ nhỏ vang như sóng trào.