Thực tế, không chỉ dự án máy bay cảnh báo sớm trên hạm sắp chính thức được phê duyệt, mà thế hệ máy bay chiến đấu trên hạm mới cũng sẽ được khởi động trong năm nay. Với tư cách là lãnh đạo cấp cao của ngành công nghiệp hàng không và là chuyên gia đầu ngành, Lâm Bằng đã nhận được thông tin rằng muộn nhất là vào cuối năm nay, cả hai dự án trọng điểm này đều sẽ chính thức được phê duyệt.
Có thể nói, năm nay là một năm bùng nổ của ngành công nghiệp hàng không Trung Quốc! Hàng loạt dự án trọng điểm được phê duyệt, cùng với đó là việc sản xuất hàng loạt và đưa vào biên chế các dòng chiến đấu cơ như J-15, máy bay vận tải chiến lược Y-30 và nhiều khí tài quan trọng khác.
Độ khó trong việc phát triển máy bay cảnh báo sớm trên hạm còn lớn hơn nhiều so với máy bay cảnh báo sớm trên đất liền. Nguyên nhân là do nó phải vận hành trên sàn đáp tàu sân bay chật hẹp, đòi hỏi khắt khe về việc kiểm soát kích thước và trọng lượng trong quá trình cất hạ cánh.
Hơn nữa, máy bay cảnh báo sớm trên hạm nội địa hiện nay còn phải đáp ứng yêu cầu phóng bằng máy phóng, điều này đặt ra những tiêu chuẩn kỹ thuật cực kỳ cao cho thiết kế khung thân. Về phần radar thì không có vấn đề gì lớn, bởi vì dòng máy bay cảnh báo sớm KJ-3000 đã sử dụng ăng-ten mảng pha quét điện tử chủ động (AESA) dạng linh hoạt, máy bay cảnh báo sớm trên hạm đương nhiên cũng có thể áp dụng công nghệ này.
Vì vậy, đối với máy bay cảnh báo sớm trên hạm, yếu tố quan trọng nhất chính là nền tảng máy bay!
Hiện tại, tàu sân bay Liêu Đông do sử dụng phương thức cất cánh bằng đường băng nhảy cầu nên không thể mang theo máy bay cảnh báo sớm cánh cố định, đành phải tạm thời sử dụng trực thăng cảnh báo sớm Ka-31.
Có thể nói, trực thăng cảnh báo sớm hoàn toàn không thể so sánh với máy bay cảnh báo sớm cánh cố định, chỉ được coi là giải pháp tình thế "có còn hơn không".
Trực thăng cảnh báo sớm Ka-31 được phát triển thành công vào cuối thập niên 80, vốn dành cho tàu sân bay của Nga sử dụng phương thức cất cánh nhảy cầu, không thể mang theo máy bay cảnh báo sớm cánh cố định.
Ka-31 tiếp tục sử dụng thiết kế của dòng Ka-29, hệ thống động lực và hệ thống chịu lực cũng tương đồng. Đây là loại trực thăng đồng trục với hai bộ cánh quạt bố trí trên cùng một trục, mỗi bộ gồm 3 cánh, khoảng cách giữa hai tầng cánh quạt là 1,4 mét.
Không gian bên trong của loại trực thăng cảnh báo sớm này cực kỳ chật hẹp, khoang vận hành radar chỉ dài hơn 4 mét, rộng hơn 1 mét và cao vỏn vẹn 1,3 mét. Điều này có nghĩa là các nhân viên vận hành radar chỉ có thể khom lưng khi di chuyển bên trong.
Trọng lượng cất cánh tối đa của Ka-31 gần 13 tấn, được coi là một loại trực thăng khá lớn, cần biết rằng trực thăng Z-8 nội địa cũng chỉ có trọng lượng tương đương.
Vấn đề lớn nhất của trực thăng cảnh báo sớm trên hạm chính là trần bay thấp, tầm hoạt động ngắn, thời gian bay liên tục hạn chế, tốc độ chậm, và hiệu suất radar cảnh báo sớm hoàn toàn không thể so sánh với máy bay cảnh báo sớm cánh cố định.
Tốc độ bay của Ka-31 chỉ đạt 250 km/h, trần bay 3.500 mét, tầm bay tối đa chỉ 600 km, thời gian bay liên tục vỏn vẹn 2,5 giờ với bán kính tác chiến 150 km.
Với bán kính tác chiến ít ỏi này, nó thậm chí còn không hiệu quả bằng hệ thống radar kiểm soát hỏa lực trên các chiến hạm.
Trong khi đó, máy bay cảnh báo sớm trên hạm E-2D Hawkeye có trọng lượng cất cánh tối đa gần 26 tấn, trần bay vượt quá 11.000 mét, tốc độ bay bằng tối đa hơn 600 km/h, thời gian bay liên tục vượt quá 6 giờ; đây là những thông số mà Ka-31 hoàn toàn không thể sánh kịp.
Radar của Ka-31 sử dụng loại ăng-ten radar xung Doppler cứng, ăng-ten được gập dán 90 độ dưới bụng máy bay. Khi trực thăng đến vùng cảnh giới, ăng-ten mới được xoay và duỗi ra.
Ka-31 thực tế chỉ có hai thành viên phi hành đoàn: một phi công và một nhân viên vận hành radar.
Trong tác chiến thực tế, Ka-31 thiếu giá trị thực dụng, nhiều nhất chỉ có thể cung cấp khả năng quan sát vùng trũng và mở rộng phạm vi cảnh báo radar một cách hạn chế, không có tác dụng lớn trong việc nâng cao sức chiến đấu cho biên đội tàu sân bay.
Vì vậy, mặc dù Trung Quốc đã mua một vài chiếc Ka-31, nhưng thực tế lại gần như không sử dụng đến.
Tàu sân bay mới bắt buộc phải có máy bay cảnh báo sớm cánh cố định tiên tiến, đây là điều chắc chắn. Trên thế giới, máy bay cảnh báo sớm trên hạm đầu tiên đã xuất hiện hơn 70 năm trước, hiện tại Trung Quốc vẫn chưa thể bù đắp được lỗ hổng công nghệ này.
Mẫu máy bay cảnh báo sớm trên hạm đầu tiên trên thế giới do Mỹ chế tạo, có tên là TBM-3W, được cải tiến dựa trên khung thân của máy bay ném ngư lôi TBF-3 Avenger. Tất nhiên, hiệu năng của thế hệ máy bay cảnh báo sớm đầu tiên này rất kém cỏi, với radar AN/APS-20 có đường kính ăng-ten 2,4 mét và nặng hơn 300 kg, đây đã là loại radar lớn nhất thời bấy giờ.
Hơn nữa, loại máy bay cảnh báo sớm sơ khai này không có khả năng chỉ huy và quản lý trên không, chỉ có thể thực hiện cảnh giới radar, và khoảng cách dò tìm mục tiêu bay cũng chỉ đạt khoảng 100 km.
Sau chiến tranh, Hoa Kỳ tiếp tục phát triển dòng máy bay cảnh báo sớm E-1, với trọng lượng cất cánh tối đa tăng lên 16 tấn, tầm bay đạt khoảng 1.500 km. Radar của nó có khả năng quét 360 độ với phạm vi dò tìm lên tới 300 km. Tuy nhiên, loại máy bay này vẫn chưa sở hữu năng lực chỉ huy tác chiến trên không.
Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã phát triển tiếp dòng E-2, một trong những loại máy bay cảnh báo sớm nổi tiếng nhất thế giới với biệt danh "Mắt Ưng". Nó có khả năng duy trì hoạt động trên không trong sáu giờ liên tục. Radar cảnh báo sớm của E-2 có thể phát hiện mục tiêu chiến đấu cơ ở khoảng cách tối đa 460 km, đối với tên lửa hành trình là 270 km, đồng thời xử lý hàng trăm mục tiêu cùng lúc. Đây là một bước tiến vượt bậc về tính năng.
Trước đây, ngành công nghiệp hàng không Trung Quốc từng thực hiện nghiên cứu kỹ thuật và chế tạo thử nghiệm máy bay cảnh báo sớm trên hạm dựa trên khung thân vận tải cơ Y-7. Tuy nhiên, kích thước của nó quá lớn với sải cánh 29 mét, chiều dài thân 24 mét và chiều cao 8,5 mét. Dù thời gian bay liên tục có thể đạt mười giờ với tầm bay tối đa 4.000 km, nhưng do khổ người quá lớn, nó không thể vận hành trên tàu sân bay.
Vì vậy, theo quan điểm của Lâm Bằng, nền tảng máy bay cảnh báo sớm trên hạm phù hợp nhất hiện nay chính là phát triển một dòng máy bay cánh quạt nghiêng. Thiết kế này không chỉ đóng vai trò là nền tảng cảnh báo sớm mà còn có thể dùng làm máy bay vận tải trên hạm.
Động cơ tuabin trục 10 (Wozhou-10) đã được nghiên cứu chế tạo thành công. Đây là một loại động cơ ưu việt, rất phù hợp để cung cấp công suất cho các dòng máy bay cánh quạt nghiêng có trọng lượng từ 25 đến 30 tấn.
Hoa Kỳ đã có kế hoạch sử dụng máy bay cánh quạt nghiêng V-22 Osprey để thay thế cho dòng máy bay vận tải C-2 Greyhound. Lâm Bằng từng đề xuất ý tưởng này trong một cuộc họp và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ lãnh đạo hải quân.
Nếu nghiên cứu chế tạo thành công máy bay cảnh báo sớm cánh quạt nghiêng, đây sẽ là một bước tiến mang tính thời đại. Kết hợp với công nghệ ăng-ten mảng pha tích hợp (conformal antenna), nó sẽ trở thành máy bay cảnh báo sớm trên hạm tốt nhất thế giới. Ưu điểm lớn nhất của nó là khả năng cất hạ cánh thẳng đứng trên boong tàu sân bay, thậm chí là trên boong tàu tấn công đổ bộ.
Nhờ đó, tính linh hoạt của nó sẽ vượt trội hơn hẳn so với các loại máy bay cánh cố định truyền thống hay trực thăng. Tất nhiên, khi cất cánh nó vẫn có thể sử dụng phương thức máy phóng. Hơn nữa, bản thân dòng máy bay cánh quạt nghiêng này trong tương lai hoàn toàn có thể trở thành một mẫu hình đa năng cho cả lục quân, hải quân và không quân.
Nhờ sở hữu công nghệ ăng-ten tích hợp tiên tiến, máy bay cánh quạt nghiêng không cần phải mang theo một "cái đĩa" radar cồng kềnh trên lưng, do đó không gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất bay.
Dù sử dụng động cơ tuabin trục 10 với công suất 8.000 mã lực hay loại động cơ tuabin trục 25 mạnh mẽ hơn với 11.000 mã lực, thì tính năng của dòng máy bay cảnh báo sớm cánh quạt nghiêng trên hạm này đều rất khả quan.
Máy bay cánh quạt nghiêng Osprey chỉ sử dụng hai động cơ với tổng công suất chưa đầy 10.000 mã lực nhưng đã đạt trọng lượng cất cánh tối đa lên tới 27 tấn.
Đối với máy bay cảnh báo sớm cánh quạt nghiêng trên hạm, việc trang bị hai động cơ tuabin trục 10 sẽ cung cấp nguồn lực cực kỳ mạnh mẽ. Với trọng lượng 30 tấn, tỷ lệ công suất trên trọng lượng của nó sẽ lớn hơn nhiều so với Osprey, đồng thời cũng vượt trội hơn hẳn so với tổng công suất 10.000 mã lực từ hai động cơ tuabin trục trên dòng E-2D.