Tôi luôn thích thú khi lơ lửng tự do giữa trạng thái ngủ và trạng thái thức. Vài giây nửa tỉnh nửa mê quý giá đó trước khi ta mở mắt, khi ta tin rằng những giấc mơ ấy có thể là đời sống hiện thực của ta. Còn bây giờ, chỉ một giây nữa thôi, tôi đang tận hưởng thứ huyễn tưởng cho phép tôi có thể hóa thân thành bất cứ ai, có thể hiện diện ở bất cứ đâu, có thể được yêu chiều.
Tôi cảm nhận được cái bóng đen phủ lên mí mắt mình và mắt tôi ngay lập tức mở ra. Ánh sáng chói lóa đến nỗi lúc đầu tôi không hình dung được mình đang ở đâu. Trong giây lát, tôi nghĩ mình đã trở lại phòng bệnh, nhưng rồi tôi nghe được âm vọng của biển, sóng êm êm vỗ vào bờ cát trắng phía xa xa. Tôi đưa tay lên che mắt khỏi ánh nắng. Tôi nhận thấy mình đang chú mục vào những vết khắc vào lòng bàn tay và những dấu vân tay đã lưu cữu trên da thịt tôi suốt bao năm tháng qua. Một lớp nhân dạng để nhận biết tôi là ai, bất kể làn da có khó chịu đến mức nào khi phủ lên người tôi.
Tôi ngồi dậy khi nghe thấy lũ trẻ, những tràng cười vô tư lự nhảy múa trong tai tôi cho tới khi một nụ cười lan rộng trên gương mặt tôi. Việc tôi không sinh ra chúng cũng không quan trọng lắm, giờ chúng là của tôi, tôi biết công dưỡng dục sẽ nặng hơn công sinh tạo nếu ta chịu trách nhiệm. Tôi tự trách mình vì đã lỡ ngủ quên trong khi phải trông chừng chúng, nhưng tôi nhẹ nhõm đôi chút khi nhìn quanh bãi biển. Ngoài lác đác vài cây cọ, chỉ có chúng tôi ở đây. Không có ai khác. Không cần phải e dè ai cả. Tôi cố thả lỏng. Tôi tựa lưng vào ghế, đan tay vào nhau, rồi đặt tay lên lòng. Khi nhìn xuống, tôi thấy đôi tay của mẹ mình. Tôi ngoái nhìn đứa cháu trai và cháu gái, quyết định rằng mình sẽ luôn yêu quý những đứa trẻ này như thế, bất kể chúng làm gì, bất kể chúng thay đổi ra sao, bất kể chúng lớn lên thành người thế nào.
Ánh mặt trời nóng ấm sưởi lên làn da tôi, chiếu dọi cuộc sống mới của chúng tôi. Góc nhỏ thiên đường của chúng tôi trong một vài tuần, trước khi Paul phải sang Mỹ. Tôi quay trở về khách sạn, băn khoăn không biết anh đang ở đâu. Chúng tôi đặt phòng ở tầng trệt, ngay trên bãi biển, như vậy chúng tôi có thể dạo bước dưới ánh dương suốt cả ngày và ngồi dưới những vì sao lấp lánh ban đêm. Căn phòng rộng rãi, thực ra giống như một căn hộ hơn là phòng đơn. Do đang là mùa mưa nên không có nhiều khách, có điều từ khi chúng tôi tới, không có trận mưa nào ghé qua.
Những cánh cửa chớp đều mở rộng, tôi thấy dáng Paul bên trong phòng, đang ngồi trên giường. Anh đang nghe điện thoại. Lại điện đàm. Anh chưa kịp thích ứng với cuộc sống mới như mức tôi mong đợi, nhưng anh yêu lũ trẻ, yêu quý chúng như thể là con ruột của anh. Rốt cuộc tôi cũng đã cho anh một gia đình mà anh mong đợi, giờ không ai có thể tước đi cuộc sống này của chúng tôi. Tôi lại liếc nhìn bọn trẻ lần nữa. Chúng vẫn ổn. Tôi cởi áo che nắng ra nghía về phía Paul, tôi luôn tự nhắc mình rằng anh ấy cũng cần phải trông chừng.
Paul gác điện thoại lên chiếc bàn cạnh giường ngay khi tôi bước vào phòng. Anh không ngước lên, tôi có cảm giác như thể mình vừa làm ngắt quãng chuyện gì đó.
“Ai thế anh?” Tôi hỏi.
“Không ai cả,” anh đáp, vẫn không nhìn tôi. Chiếc giường vương vãi những tờ giấy A4 chi chít những hàng chữ đen và mực đỏ. Quá trình chỉnh sửa lê thê đã lại bắt đầu.
“À, chắc phải là ai đó gọi chứ.” Tôi cố nén giận trong khi nói, đáng lẽ đây là kỳ nghỉ của chúng tôi. Một cơ hội để cả gia đình dành thời gian riêng tư với nhau, không phải trốn ở đây bù đầu với những con chữ và trao đổi với người đại diện. Tôi lại ngước ra chỗ lũ trẻ, chúng vẫn chơi ngoan, cho nên tôi quay lại với Paul. Giờ anh đang nhìn tôi, khóe môi anh hơi cong lên.
“Đáng lẽ là một điều bất ngờ,” anh vừa nói, vừa đứng dậy tiến lại hôn tôi. “Vai em đỏ ửng cả rồi, em cần bôi thêm kem không?”
“Điều bất ngờ gì thế?”
“Anh vừa gọi dịch vụ phòng.” Tôi vẫn không tin anh.
“Gì cơ? Nhưng vì sao? Còn vài tiếng nữa mới tới giờ ăn tối.”
“Đúng thế, nhưng thường thì chúng ta cần sâm panh vào ngày kỷ niệm.”
“Hôm nay đâu phải ngày kỷ niệm của chúng ta...”
“Anh đâu có nói là ngày cưới đâu,” anh mỉm cười. Tôi hiểu ý kỷ niệm của anh, tôi cũng mỉm cười.
“Em cứ nghĩ anh lại đang trao đổi với người đại diện của anh.”
“Lần này thì không phải,” anh vừa nói vừa giơ hai tay lên. “Nhưng em vừa nhắc nhở anh một chuyện. Anh sẽ gọi Skype cho cô ấy, trao đổi một chút trước khi đồ uống được mang tới, rồi thì anh hoàn toàn là của em.” Tôi trợn mắt lên. “Chỉ năm phút thôi, chắc em sẵn lòng bao dung chứ?”
“Được rồi, năm phút,” tôi nói và hôn lên má anh.
Tôi muốn tắm rửa lại nhưng trước tiên tôi nhìn ra trông chừng cặp song sinh, chúng đã hình thành thói quen mới của tôi dạo gần đây, điều mà tôi phải kiểm tra ba lần. Chúng vẫn vậy, chẳng khác gì lúc tôi để chúng lại đó, xây lâu đài cát, đập vỡ và bắt đầu lại. Chúng rất hài lòng khi chơi cùng nhau. Tôi tự hỏi liệu điều đó có phải là bất thường. Tôi tự hỏi liệu có phải lúc nào chúng cũng như thế không.
“Em xem này,” Paul nói. Anh đã bước tới chiếc bàn nhỏ ở góc phòng, laptop đang mở trước mặt anh. Tôi nhận thấy nhãn áo lật lên sau cổ chiếc áo phông của anh. Tôi bước tới và với tay để nhét nó vào, sau đó đổi ý. Tôi cũng không biết vì sao. Thay vào đó, tôi nhìn vào màn hình qua vai anh. “Người trông giữ con chó gửi qua, có vẻ như Digby cũng đang có một kỳ nghỉ vui vẻ.” Tôi mỉm cười nhìn bức ảnh. Con chó đang thở hổn hển nhưng có vẻ như nó mỉm cười trước ống kính.
“Em biết anh nhớ nó, chúng ta sẽ sớm gặp lại nó thôi,” tôi nói. Paul yêu con chó đó, không muốn bỏ nó ở lại. Tất cả chúng ta đều phải có một cái gì đó hoặc một người nào đó để yêu thương, nếu không tình yêu bên trong chúng ta không có nơi nào để đi. “Anh để mắt trông chừng bọn chúng trong khi em tắm sơ một lát nhé,” tôi vừa nói vừa ngoái nhìn cặp song sinh.
“Dĩ nhiên rồi.”
Trong khi bước vào phòng tắm, tôi nhận thấy Paul vẫn để ti vi bật. Tiếng đã bị tắt nhưng một hình ảnh quen thuộc đã choán lấy tầm mắt tôi, tôi dừng lại, không thể nhìn đi chỗ khác nữa. Tôi thấy một phóng viên tôi từng quen đang đứng bên ngoài tòa án, cả đội ngũ thực hiện tin bài cùng cánh nhà báo đang chen chúc trên vỉa hè quanh bà ta. Khung hình chuyển sang cảnh một chiếc xe thùng cảnh sát lái qua cổng vào bên trong tòa nhà. Thế rồi tôi nhìn thấy những bức ảnh ngôi nhà của Claire, ngôi nhà nơi chúng tôi lớn lên, đã đen kịt và hóa thành than. Tôi đọc dòng chữ chạy dưới màn hình, một dãy chữ viết hoa như thét vào mặt tôi.
BẮT ĐẦU PHIÊN XỬ TỘI SÁT NHÂN CỦA MADELINE FROST.
Ngay cả khi đã bật nút bấm im lặng, chiếc ti vi dường như vẫn quá sức ồn ào. Tôi không hiểu tại sao anh cứ nhất quyết mở ti vi suốt như thế, nó như một dạng ám ảnh. Tôi tắt ti vi, xoay người định nói vài lời với Paul, nhưng anh đã thực hiện cuộc gọi Skype rồi. Tiếng máy chờ quen thuộc ngừng lại, anh đã bắt đầu nói vào laptop trước khi tôi có cơ hội lên tiếng. Tôi bèn mặc kệ anh, bước vào phòng tắm. Tôi bắt gặp hình ảnh mình trong gương. Thần thái của tôi thật rạng ngời. Tôi giống con người mà mình phải trở thành, sống cuộc sống mà tôi cần phải sống. Cuộc sống mà tôi từng bị trộm đi mất.
Tôi đóng cửa, bật vòi sen. Tắm táp sẽ nhanh thôi. Chỉ cần dội sạch cát và kem chống nắng, gội đầu rồi thay đồ. Tôi cởi bộ bikini, bước vào dưới vòi sen, để cho làn nước mát phả vào mặt. Tôi nghe tiếng gõ trên cửa phòng khách sạn và thầm rủa họ đến đúng lúc quá.
“Mời vào,” Paul nói. Tôi nghe thấy anh vẫn tiếp tục cuộc gọi tới London, nhưng tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi anh đang bận, năm phút này đối với tôi đã trở thành một thứ xa xỉ mà tôi không còn coi nó là điều hiển nhiên có được. “Tuyệt, cảm ơn cậu, cậu cứ để ở đó,” anh nói. Lời của anh bị vòi sen bóp nghẹt, nhưng giọng anh nghe chừng mất tập trung, dứt dạt. Tôi hy vọng anh nhớ boa cho họ.
Tôi nhanh chóng mặc áo quần, chải sơ làn tóc rối, bôi ít kem lên mặt và vai. Paul đang ngồi trên ván sàn bên ngoài căn phòng, mặt hướng ra phía mặt biển nhuộm một màu lam dịu. Anh đã đưa lũ trẻ về gần chỗ chúng tôi hơn, để chúng ngồi trên tấm chăn dưới bóng cây; tôi yêu anh bởi anh yêu chúng theo đúng cách tôi trông đợi ở anh.
“Em đây rồi, anh cứ tưởng em đuối nước rồi cơ,” anh nói khi tôi bước ra nhập hội cùng. “Uống một chút nhé, thưa quý bà?” Anh hỏi, và lấy chai sâm panh từ xô bạc trong chiếc khay đặt trên bàn.
“Rất lấy làm hân hạnh,” tôi ngồi xuống cạnh anh, cảm nhận hơi nóng từ chiếc ghế gỗ qua làn vải váy. Katie quay sang khi nghe tiếng tôi đáp và nó mỉm cười.
“Mẹ ơi,” nó nói, rồi tiếp tục chơi đùa. Trước đây nó chưa từng gọi tôi như thế, điều này khiến tôi quá đỗi hạnh phúc. Dầu sao tôi cũng là mẹ đỡ đầu của chúng, có gì sai khi mong đợi hơn thế kia chứ? Paul dùng ngón tay cái bấm vào lớp giấy bọc màu vàng quanh cổ chai. Anh xé lớp giấy trước khi những ngón tay anh vặn nắp kim loại cố định nút bần, rồi anh thành thạo gỡ ra. Không có cú bật nắp, không xì xèo, không lộn xộn. Anh rót đầy ly của chúng tôi, tôi cảm thấy hân hoan vô cùng. Mọi thứ giờ đây đều êm đẹp. So với những gì diễn ra trước đây. Đây chính là những gì tôi hằng mong muốn. Tôi đang ở thiên đường cùng gia đình mình, đây hẳn chính là cảm giác hạnh phúc. Tôi không biết chắc trước đây mình đã thực sự được cảm nhận hay chưa.
Anh đặt chai rượu trở lại chiếc khay, tôi nhìn thấy thứ gì đó bên cạnh lấp lánh ánh sáng.
“Cái gì thế?” Tôi vừa nói vừa nhìn xuống ánh vàng trên khay màu bạc.
“Gì là gì?” Anh hỏi và nhìn theo ánh mắt tôi. Tôi mỉm cười, cho rằng đấy là một điều ngạc nhiên nữa, một món quà, một trò chơi.
Nhưng không phải.
Trong thoáng chốc tôi không thể thốt nên lời.
“Anh có nhìn thấy người đưa thứ này vào phòng chúng ta không?”
“Lúc ấy anh đang gọi Skype. Họ vào để đồ ở đó thôi. Sao thế? Có gì không ổn à?”
Tôi không trả lời. Tôi nhìn sững chiếc lắc mỏng mảnh trên khay, nhỏ bằng cổ tay con nít. Nó được nối bằng chiếc kim băng cũ đã hơi gỉ, ngày sinh của tôi được khắc trên lớp vàng.
Tên của tôi là Amber Taylor Reynolds. Có ba điều bạn cần biết về tôi.
1. Tôi bị hôn mê.
2. Em gái tôi qua đời trong một tai nạn bi thảm.
3. Đôi lúc tôi nói dối.
HẾT