Tôi tắt báo thức, tôi không cần đến nữa. Tôi hầu như chẳng ngủ được, giờ có cố cũng vô ích. Mất ngủ có thể là dấu hiệu tôi lo lắng về người chồng mất tích, nhưng đó không phải điều mà tôi đang nằm đây và nghĩ tới. Tôi cứ nhớ mãi con chim cổ đỏ đã chết, thân hình bé nhỏ vô hồn của nó. Suốt cả đêm, tôi cứ mường tượng tiếng vỗ cánh của nó trong thùng rác như thể nó chưa chết. Tôi lo rằng có lẽ nó chỉ bất tỉnh, có thể tôi đã ném nó đi khi mà nó đang say ngủ.
Tôi nhìn chằm chẳm khoảng trống trên giường. Vẫn chẳng có tin gì của Paul. Trên sàn có chiếc vỏ chai vang rỗng; tôi đã thử uống cho dễ ngủ nhưng cũng chẳng ích gì. Rượu đã trở thành một loại kháng sinh quá liều mà cơ thể tôi đã có miền dịch. Tôi cân nhắc gọi cho cảnh sát báo về việc Paul biến mất, nhưng tôi thấy như thế ngốc nghếch quá. Tôi sẽ không biết trình bày sao về nỗi sợ của mình để không bị coi là bị quẫn trí. Các ông chồng không phải đêm nào cũng về nhà, tôi biết điều này, dù gì tôi cũng đã là phụ nữ có gia đình rồi.
Tâm trí tôi chuyển từ Paul sang Claire. Rốt cuộc khi nó nghe cuộc gọi của tôi, giọng nó nghe chừng giận dữ khi tôi cho rằng nó biết anh ấy ở đâu. Nó nói nó hẹn một người bạn và tôi đã phá hủy buổi tối của nó, sau đó nó dập máy. Cô em biết chính xác điều tôi lo sợ. Tôi yêu cả hai bọn họ nhưng tôi có thể cảm nhận được mọi thứ mà tôi cố giữ an toàn cho đến lúc đã bắt đầu buông. Chỉ kéo một sợi chỉ và chúng xổ hết ra qua một lỗ không thể chắp vá. Có lẽ đã quá muộn rồi.
Trời vẫn tối nên tôi bật đèn lên, nhìn một lượt quanh căn phòng để tìm manh mối. Tôi nhớ đến túi quà chứa đồ lót nữ ở đáy tủ quần áo của Paul. Tôi lại mở túi lần nữa, lấy ra chiếc áo lót và quần lót, thớ vải satin đen mỏng được viền ren. Chắc chắn là quá nhỏ. Tôi kéo quần pyjama xuống, bước chân ra khỏi quần, đồng thời cởi áo qua đầu. Tôi để lại bộ đồ cotton màu phấn trên sàn nhà và xỏ chân vào quần lót, nhãn mác vẫn để nguyên, các đường viền cứng góc cạnh sắc nhọn hằn sâu lên làn da. Tôi nhét bầu vú vào ngực áo khổ nhỏ, rồi bước tới đứng trước chiếc gương soi toàn thân. Đã lâu rồi tôi không thấy mình như thế này. Hình thể trong gương không xấu xí như tôi tưởng, nhưng tôi vẫn không thích những gì vừa thấy. Vòng bụng đã phình to hơn trước một chút, cũng chỉ vì tôi toàn ăn những món tôi thích. Tôi ghét hình thể này cũng như ghét chính bản thân mình. Nó đã không mang lại cho anh nỗi ham muốn. Không muốn nhìn nữa nên tôi tắt đèn, nhưng tôi vẫn có thể thấy hình phản chiếu trong gương. Tôi tóm lấy bộ đồ ngủ và lại giấu mình trong đó, bộ đồ lót mới bó sát, châm chích vào da thịt. Ý nghĩ rằng bộ đồ này không được mua cho tôi đang lớn dần trong đầu, thế nên tôi cởi ra, trả lại chỗ cũ.
Trời vẫn tối nhưng tôi quá quen thuộc với ngôi nhà nên vẫn lần được đường đi trong bóng tối. Cái chòi là khu vực riêng tư của Paul, nhưng phòng làm việc nhỏ sau nhà là của tôi. Căn phòng riêng ấy chỉ đủ chỗ cho một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Tôi ngồi xuống, bật đèn bàn lên. Cái bàn là đồ đã qua sử dụng nên chứa đựng những bí mật mà tôi không biết lẫn những bí mật của riêng tôi. Có bốn ngăn kéo nhỏ và một ngăn kéo lớn, trông chiếc ngăn kéo lớn bằng gỗ này giống như một nụ cười thấu cảm vậy. Tôi dễ dàng mở nó ra và đeo đôi găng tay trắng mà tôi tìm thấy bên trong. Sau đó, tôi lấy một tờ giấy cùng với cây bút máy, và tôi cặm cụi viết. Khi tôi viết xong, chắc chắn rằng tôi đã viết đúng lượng từ và muốn chúng được đọc, tôi gấp tờ giấy lại hai lần và nhét nó vào cái phong bì đỏ. Sau đó, tôi tắm rửa, gột sạch mọi dấu vết của cảm giác tội lỗi hoặc lo lắng, và chuẩn bị sẵn sàng cho công việc.
Tôi tới sớm hơn thường lệ. Văn phòng chính không có ai, nhưng tôi thấy ánh đèn từ phòng Madeline. Tôi cởi áo khoác, đặt túi xách lên bàn, cố giũ bỏ làn sương mỏi mệt đang vây kín bản thân. Tôi cần phải thận trọng, tập trung vào nhiệm vụ trước mắt. Trước khi ngồi xuống, tôi nghe thấy cửa phòng bà ta hé mở.
“Amber, cô đấy à? Tôi nói chuyện với cô được không?”
Tôi đảo mắt, thận trọng vì biết không ai nhìn thấy tôi. Tôi không cần điều này ngay bây giờ, nhưng tôi điều chỉnh lại nét mặt và đi đến văn phòng nhỏ trong góc, tay tôi nắm chặt thành nắm đấm phòng thủ giấu trong túi.
Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa đang hé mở trước khi đẩy nó mở hẳn ra. Bà ta ngồi đó, vận đồ đen, như mọi khi. Madeline hơi cúi người xuống bàn, mặt bà nhíu lại, tiến sát màn hình để đọc được nội dung trên đó. Tin đồn vẫn đang tràn ngập trên Twitter, làm dấy lên nhiều suy đoán về việc bà ta sắp ra đi. Tôi tự hỏi liệu có phải bà đang đọc các bình luận gắn nhãn #MadelineFrost mới không, có vô số bình luận như thế.
“Đợi chút nhé, tôi đang làm dở một chút.” Bà ta vẫn luôn như thế. Thời gian là thứ duy nhất bà ta coi trọng và bà muốn tôi biết điều này. Madeline đang gõ gì đó trên máy tính mà tôi không thấy được.
“Tôi lấy làm vui vì cô tới sớm.” Bà ta nói. “Tôi hy vọng chúng ta được trò chuyện đôi chút trước khi những người khác tới.”
Tôi cố gắng không phản ứng, duy trì từng cơ mặt ở đúng vị trí của chúng. Bà ta nhấc cặp kính xuống khỏi mặt và để chúng lủng lẳng trên sợi dây cườm màu hồng quấn quanh chiếc cổ cứng ngắc của mình. Tôi tưởng tượng cảnh xiết chặt sợi dây đó lại, rồi tống khứ hình ảnh đó khỏi tâm trí mình.
“Sao cô không ngồi đi?” Madeline nói, chỉ về chiếc ghế nệm bọc da màu tím mà bà ta mang từ Maroc về cách đây vài tháng.
“À, thế này được rồi, cháu cảm ơn cô ạ,” tôi trả lời.
“Cô ngồi đi,” bà nói, hai hàng móng cắt tỉa gọn gàng ra hiệu. Tôi mỉm cười đáp lại và làm theo lời bà ta bảo. Đây là việc các đạo diễn phải làm vào mỗi buổi sáng, bước vào căn phòng nhỏ nhắn này và ngồi trên chiếc ghế nệm, chờ Madeline hành hạ họ bằng câu chuyện trong chương trình ngày hôm đó. Tôi ngồi xổm xuống và cố gắng giữ thăng bằng - chiếc ghế quá thấp, không thoải mái chút nào. Như mọi khi, nó liên quan đến quyền kiểm soát và rõ ràng là tôi không hề có quyền đó.
“Cô có biết về cuộc hẹn của Matthew với các khách mới hôm qua không?” Bà hỏi.
“Dạ có,” tôi nói, đáp lại ánh nhìn của bà ta. Madeline gật đầu, rồi quét mắt khắp người tôi như thể đang đánh giá bộ đô tôi mặc. Chiếc váy mới rõ ràng chẳng hề khiến bà ta thấy ấn tượng. “Tôi muốn nhờ cô giúp một chuyện,” cuối cùng bà ta lên tiếng, “Nếu cô nghe thấy điều gì đó mà cô nghĩ có thể là tôi muốn biết, hãy báo cho tôi.” Tôi bắt đầu cho rằng bà ta quên mất rằng chính bà đang cố đá tôi văng khỏi đây, hoặc có lẽ bà ta nghĩ tôi không biết.
“Dĩ nhiên rồi,” tôi đáp. Giả dụ có con rắn độc đang quấn quanh cổ bà ta thì tôi cũng sẽ chẳng mở miệng.
“Chúng ta phải kề vai sát cánh bên nhau, Amber ạ. Nếu họ loại bỏ tôi, họ sẽ xây dựng chương trình mới hoàn toàn, họ vẫn luôn như thế. Họ cũng sẽ thay thế cô, chớ có nghĩ họ sẽ không làm thế. Cô nhớ chưa, lần tới nếu nghe ngóng được gì thì nhớ kể cho tôi, được chứ?” Nói xong, bà ta nâng kính lên mũi, lại bắt đầu gõ phím để tỏ ý cuộc gặp đã chấm dứt.
Tôi chật vật đứng dậy khỏi chiếc ghế nệm, rồi rời phòng, đóng cửa lại.
“Cậu ổn chứ?” Jo thì thào, cô bạn vừa mới tới.
Tôi ngồi xuống bàn. “Ừ, ổn.” Tôi nói, biết thừa Madeline đang quan sát từ ô kính trên cửa phòng của bà.
“Trông cậu chẳng ổn chút nào,” Jo nói.
“Tớ không biết Paul đi đầu nữa. Đêm qua anh ấy không về nhà.” Ngay khi vừa nói những lời ấy, tôi đã thấy hối tiếc.
“Lại là Claire nữa à?” Jo hỏi. Những từ ấy tát thẳng vào mặt tôi, nỗi sợ của tôi biến thành cơn giận, nhưng rõ ràng trên mặt cô bạn toát lên vẻ lo lắng thực sự. Jo chẳng có lỗi gì khi biết quá nhiều về quá khứ của tôi. Chính tôi đã kể cho cô bạn nghe.
Tôi không biết phản ứng sao cho phải, cho nên vội đáp kiểu đãi bôi: “Tớ không nghĩ thế.”
“Hay chúng ta đi uống cà phê nhé?”
“Không, cảm ơn cậu, tớ ổn.” Tôi quay đi, bật máy tính rồi nhìn chằm chằm vào màn hình.
“Tùy cậu vậy,” cô bạn nói rồi bỏ đi mà không thêm một lời nào nưa.
Khi cô ấy đi rồi, tôi mở thư điện tử. Hộp thư đến của tôi chật ních những lời chào mời. Chúng hầu hết là thư rác, quảng cáo giảm giá cho những thứ tôi không muốn hoặc không cần, nhưng có một thông tin thu hút tôi. Con chuột rê qua cái tên quen thuộc, mắt tôi dán chặt vào dòng tiêu đề:
Xin chào.
Tôi bắt đầu dùng móng tay lột da môi. Tôi nên xóa email đó đi, tôi biết đó là việc nên làm. Tôi liếc một vòng quanh văn phòng. Tôi vẫn đang ngồi một mình. Tôi lại lột bỏ một mẩu da từ môi trên, đặt xuống bàn. Nó có màu mận của ly rượu tối qua. Tôi nhớ hồi tối khi không ngủ được, tôi đã lấy tấm danh thiếp ra khỏi ví, ngón tay cái lướt qua dòng chữ in nổi. Tôi nhớ mình đã gõ tên gã vào email trên điện thoại, tô màu cho dòng tiêu đề, soạn ghi chú thông thường, lo lắng rằng gửi nó vào đêm khuya có vẻ kỳ quặc, nhưng rốt cuộc cũng gửi đi. Má tôi đỏ bừng, vì xấu hổ, giờ tôi không thể nhớ chính xác những thứ đã đề cập.
Tôi mở mail ra đọc, rồi tôi đọc thêm lần nữa, lần này chậm hơn nhiều, cẩn thận cắt nghĩa từng từ.
Vì những kỷ niệm xưa.
Tôi nhẩn nha vài từ trong khi đọc. Nếu có nhắm mắt, tôi vẫn có thể hình dung tác giả.
Những ký ức tươi đẹp.
Những ký ức ấy hẳn không vui vẻ hoàn toàn.
Một thức uống để hồi tưởng?
Tôi lột thêm một mẩu da nữa khỏi môi, quan sát một mẩu bé xíu đã khô cứng lại trên đầu ngón tay mình. Tôi đặt nó vào đống nhỏ cùng những mẩu khác.
Hồi tưởng. Tưởng. Hồi tưởng.
Paul vẫn mất tích. Cuộc hôn nhân của tôi đang treo trên đầu sợi chỉ. Tôi đang làm gì thế này? Ý nghĩ này chết từ trứng nước.
“Này này, trở lại mặt đất đi Amber,” Jo nói, lắc lắc tay trước mặt tôi. Tôi thu nhỏ cửa sổ email, thu dọn đống da thừa trên mặt bàn, cảm thấy má mình đỏ ửng lên.
“Cậu đang chơi trò Space Invaders đấy à?” Tôi thốt lên.
“Gì cơ? Không. Tại sao?” Cô bạn cười toe.
“Vì cậu đang xâm lược không gian của tớ.”
Nụ cười của cô bạn bay biến.
“Xin lỗi. Có lần tớ nghe người ta nói thế, nghĩ thấy cũng hài. Tớ không có ý xúc phạm gì cậu đâu, tớ đang mải chìm đắm trong thế giới riêng.”
“Tớ biết. Gắng đừng lo lắng nữa, tớ chắc anh ấy vẫn ổn thôi.”
“Ai cơ?” Tôi hỏi, tự nhủ liệu có phải cô bạn đã nhìn thấy email của Edward không.
“Paul, chồng của cậu ấy?” Cô bạn nói, mày cau lại.
“À, phải, tớ xin lỗi. Hôm nay tớ cứ lẩn thẩn thế nào ấy.”
Giọng Madeline vang lên từ trong phòng, khiến chúng tôi câm nín khi bà triệu tập trợ lý riêng. Bà ta đứng lù lù ở ngưỡng cửa và đưa thẻ tín dụng cùng những lời dặn dò cho trợ lý. Bà ta muốn đưa mấy món đồ đi giặt khô, cho trợ lý biết mã PIN và mọi thứ khác mà chị ấy cần biết. Cách bà nói với mọi người khiến tôi giận điên lên.
Tôi nghĩ về email của Edward trong khi chúng tôi trao đổi trong cuộc họp giao ban buổi sáng. Tôi nghĩ về nó trong phòng thu, trong các cuộc phỏng vấn và cả trong khi nghe điện thoại. Tôi hầu như không nghe thấy bất cứ điều gì mà người khác nói trong suốt buổi sáng. Tôi nên cảm thấy tội lỗi, nhưng tôi lại không cảm thấy thế. Paul đã không gần gụi tôi trong nhiều tháng trời và tôi không làm điều gì sai trái. Chúng tôi chỉ thân thiết với nhau, thế thôi. Đó chỉ là một kỷ niệm ở khoảng thời gian và địa điểm khác. Kỷ niệm không thể làm tổn thương bất cứ ai, trừ khi nó được chia sẻ.