Tôi nhón chân đi xuống cầu thang trong bóng tối lờ mờ của buổi sáng sớm, cẩn thận để không làm anh thức giấc. Mọi thứ đều yên vị như thế, nhưng tôi dám chắc mình đã bỏ lỡ điều gì đó. Tôi kéo chặt chiếc áo khoác dày sụ hòng kháng lại cái lạnh, bước tới căn bếp để khởi động những thói quen thường nhật. Tôi bắt đầu từ cửa sau, liên hồi lay tay nắm cửa cho đến khi biết chắc nó đã được khóa:
Lên, xuống. Lên, xuống. Lên, xuống.
Tiếp đó, tôi đứng trước bếp lò cỡ lớn, hai cánh tay gập ở khuỷu như thể tôi sắp chỉ huy dàn nhạc bếp gas ấn tượng. Những ngón tay tạo hình khá quen thuộc; ngón trỏ và ngón giữa chụm vào ngón cái trên mỗi bàn tay. Tôi lẩm bẩm một mình trong khi đưa mắt kiểm tra để đảm bảo rằng tất cả các núm vặn và mặt số đã tắt. Tôi cẩn thận soát lại ba lần, móng tay nhấp vào nhau để tạo ra một mã Morse chỉ có tôi mới giải mã được. Xong, tôi rời khỏi gian bếp, nán lại một lúc ở ngưỡng cửa, tự hỏi liệu hôm nay có phải là ngày để tôi quay lại và khởi động toàn bộ lịch trình thường ngày hay không. Nhưng không phải.
Tôi rón rén bước trên ván sàn cót két ra hành lang, cầm lấy túi xách và xem xét bên trong. Điện thoại. Ví. Chìa khóa. Tôi đóng túi lại, mở ra rồi kiểm tra lại. Điện thoại. Ví. Chìa khóa. Tôi kiểm tra thêm lần thứ ba trên đường ra cửa chính. Tôi dừng lại một chốc và hoảng hồn khi thấy người phụ nữ trong gương đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi sở hữu khuôn mặt của người từng được coi là xinh đẹp, giờ tôi hầu như không thể nhận ra cô ta. Một bảng màu pa-lét pha trộn giữa màu sáng và màu tối. Hàng mi đen dài viền quanh đôi mắt to màu lục của tôi, những quầng thâm buồn bã nép bên dưới chúng, bên trên là đôi lông mày dày màu nâu. Làn da là một tấm vải trắng phủ lên trên gò má. Mái tóc nâu ngả sang huyền, những sợi tóc thẳng lười biếng xõa trên vai vì thiếu ý tưởng tốt hơn. Tôi dùng mấy ngón tay chải qua loa trước khi buộc lại thành đuôi ngựa, cố định mớ tóc lòa xòa trên mặt bằng chiếc dây buộc ở cổ tay. Đôi môi he hé như thể tôi định nói điều gì, nhưng chỉ có không khí thoát ra khỏi miệng. Gương mặt của đài phát thanh nhìn chằm chằm vào tôi.
Tôi sực nhớ thời gian và tự nhủ chuyến tàu sẽ không đợi tôi. Tôi chưa chào tạm biệt, nhưng tôi không cho rằng việc đó quan trọng. Tôi tắt đèn và rời nhà, kiểm tra ba lần để đảm bảo cửa trước đã khóa trước khi bước xuống lối đi trong vườn ngập ngịa ánh trăng.
Trời hãy còn sớm, nhưng tôi thì đã trễ. Giờ này chắc bà Madeline đã có mặt ở văn phòng, đọc báo, ngấu nghiến bất cứ mẩu chuyện hay ho nào. Nhóm sản xuất sẽ phải chọn lọc những bài báo có nội dung phỏng vấn xuất sắc cho chương trình sáng nay trước khi bị bà ta cho một vố. Taxi đã lên đường đón và trả những vị khách mời quá khích và thiếu chuẩn bị. Mỗi buổi sáng đều khác nhau nhưng đã trở thành một lịch trình hoàn toàn quen thuộc. Đã sáu tháng kể từ khi tôi gia nhập nhóm Cà Phê Sáng và mọi thứ lại vẫn đang diễn ra không theo kế hoạch. Nhiều người sẽ nghĩ rằng tôi có một công việc trong mơ, nhưng ác mộng luôn cặp kè bên giấc mơ đấy thôi.
Tôi ghé mua cà phê cho mình và một đồng nghiệp ở tiền sảnh rồi sải bước trên những bậc cầu thang ốp đá dẫn lên tầng năm. Tôi không thích thang máy. Tôi nở một nụ cười trên mặt trước khi bước vào văn phòng, tự nhủ rằng đây là việc tôi giỏi nhất: thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh. Tôi có thể là “cô bạn Amber”, “cô vợ Amber”, nhưng ngay lúc này là thời gian dành cho “Amber của chương trình Cà Phê Sáng ”. Tôi có thể diễn hết mọi vai mà cuộc đời phân cho, tôi thuộc mọi lời thoại; tôi đã luyện tập suốt một thời gian dài.
Mặt trời vẫn chưa ló dạng, nhưng đúng như dự đoán, nhóm nhỏ với phụ nữ chiếm phần đa đã tụ tập với nhau. Ba nhà sản xuất mới, được khơi dậy bởi cà phê và hoài bão, đang ngồi cắm cúi ở bàn. Xung quanh là những chồng sách, kịch bản cũ và những chiếc cốc rỗng, họ gõ bàn phím như thể cuộc sống truyền thanh của họ phụ thuộc vào việc đó. Ở góc xa xa, tôi nhìn thấy ánh đèn của Madeline trong văn phòng riêng của bà. Tôi ngồi vào bàn, bật máy tính, đáp lại những nụ cười và lời chào hỏi ấm áp của những người khác. Mọi người không phải là những tấm gương, họ không nhìn thấy ta theo cách ta nhìn thấy bản thân.
Năm nay, Madeline đã thay ba trợ lý riêng. Không ai ở lại đủ lâu trước khi bà ta sa thải họ. Tôi không muốn văn phòng riêng, tôi không cần trợ lý riêng, tôi thích ngồi ngoài này cùng mọi người. Chiếc ghế bên cạnh tôi vẫn trống. Lúc này mà Jo chưa có mặt thì quả là lạ thường, tôi quan ngại có gì đó không ổn. Tôi nhìn xuống ly cà phê thừa đang nguội dần, rồi tự nhủ sẽ mang vào chỗ Madeline. Coi như quà cầu hòa!
Tôi đứng ở ngưỡng cánh cửa để ngỏ như một con ma cà rồng đang chờ được mời vào. Văn phòng của bà ta nhỏ như lỗ mũi, nói theo nghĩa đen là một chiếc tủ đựng đồ được chuyển đổi công năng vì bà ta không muốn ngồi cùng những người khác trong nhóm. Những chiếc khung lồng ảnh chụp Madeline cùng những nhân vật nổi tiếng chen chúc nhau trên bức tường giả và một chiếc kệ be bé trưng các giải thưởng phía sau chiếc bàn làm việc. Bà ta không ngước lên. Tôi quan sát mái tóc ngắn xấu xí, những chân tóc bạc lộ ra bên dưới phần tóc đen. Mớ ngấn cằm chồng lên nhau, trong khi những cuộn thịt tròn lẳn được giấu khéo bên dưới bộ đồ đen thùng thình. Chiếc đèn bàn tỏa ánh sáng lên bàn phím, những ngón tay đeo nhẫn của Madeline lướt qua. Tôi biết bà ta có thể nhìn thấy tôi.
“Cháu nghĩ có lẽ cô cần cái này,” tôi nói, thất vọng vì mấy từ ngữ đơn giản ấy lại chiếm bao thời gian để tôi chọn lựa.
“Để trên bàn đi,” bà ta đáp, mắt không rời khỏi màn hình.
Sẵn sàng thôi.
Một chiếc quạt sưởi nhỏ hắt ra từ trong góc và hơi ấm có mùi khen khét hệt như đang khóa chân tôi đứng yên. Tôi đang rót ánh nhìn chằm chằm vào nốt ruồi trên má bà ta. Thi thoảng đôi mắt tôi vẫn làm thế: tập trung vào điểm không hoàn hảo của một người, trong giây lát quên mất rằng họ có thể nhận ra tôi đang chú mục vào những thứ mà họ không muốn người khác nhìn thấy.
“Kỳ nghỉ cuối tuần của cô vui chứ?” Tôi ướm hỏi.
“Tôi không có hứng tán gẫu,” bà ta nói. Tôi bèn mặc kệ bà ta.
Quay trở lại bàn làm việc, tôi nhìn lướt qua chồng bưu phẩm được gom lại từ hôm thứ Sáu: một vài cuốn tiểu thuyết trông đã phát ngán nói chi đến đọc, vài lá thư của người hâm mộ và thiệp mời dự dạ tiệc từ thiện khiến tôi không khỏi quan tâm. Tôi nhấm nháp ly cà phê và nghĩ về bộ cánh sẽ mặc và những người tôi tính rủ cùng tham tiệc. Thực ra tôi nên làm nhiều công việc thiện nguyện hơn, chỉ bởi do tôi dường như không mấy dư dật thời giờ. Madeline là gương mặt đại diện của Crisis Child, cũng là người có máu mặt ở Cà Phê Sáng . Tôi luôn nhận thấy có phần hơi kỳ lạ trong mối quan hệ thân thiết giữa bà với tổ chức từ thiện dành cho trẻ em thuộc hàng quy mô nhất nước, vì bà ta ghét trẻ con và chưa từng có con. Thậm chí bà chưa bao giờ kết hôn. Bà hoàn toàn cô đơn trong cuộc sống nhưng không bao giờ đơn độc.
Khi đã phân loại xong các bưu phẩm, tôi đọc sơ qua những ghi chú ngắn gọn của chương trình sáng nay, những hiểu biết cơ bản trước khi chạy chương trình vẫn luôn luôn hữu dụng. Tôi không sao tìm thấy một cây bút mực màu đỏ, nên bèn ra chỗ tủ đựng văn phòng phẩm.
Chiếc tủ đã được cấp thêm đồ.
Tôi nhìn ngoái qua vai, rồi quay trở lại với những tầng được sắp xếp gọn gàng của chiếc tủ. Tôi lấy một xấp giấy chú, rồi vơ thêm vài cây bút đỏ và bỏ vào túi. Tôi cứ lấy cho đến khi chiếc hộp gần như trống rỗng. Tôi để lại mấy cây bút có màu mực khác. Không có người nào ngước lên khi tôi quay trở lại bàn, họ không nhìn thấy tôi trút hết mọi thứ vào hộc bàn và khóa lại.
Đúng lúc tôi bắt đầu lo lắng rằng hôm nay người bạn duy nhất của mình ở đây sẽ vắng mặt thì Jo bước vào, mỉm cười với tôi. Cô ấy vẫn mặc trang phục như mọi khi, chiếc quần jeans xanh denim cùng áo phông trắng, như thể cô ấy chẳng thay đổi chút nào so với thuở những năm 1990. Đôi bốt mà cô ấy thường bảo chẳng ưa một chút nào đã mòn gót, mái tóc vàng ẩm ướt vì đi ngoài mưa. Cô ấy gieo người xuống chiếc bàn cạnh tôi, đối diện mấy nhà sản xuất kia.
“Xin lỗi, mình tới trễ.” Cô ấy thì thào. Ngoài tôi ra, không ai để tâm.
Người cuối cùng xuất hiện là Matthew, biên tập viên của chương trình. Việc này trái với thường lệ.
Chiếc quần vải chino mỏng đang căng ra ở các đường nối, hẳn được anh ta để hơi thấp hòng tạo độ phồng xung quanh phần giữa thân. Chiếc quần hơi cộc so với đôi chân dài của anh ta, để lộ đôi tất sặc sỡ bên trên đôi giày màu nâu, sáng bóng. Anh ta đi thẳng đến chiếc bàn làm việc ngăn nắp cạnh cửa sổ mà không buồn mở lời chào. Tại sao một nhóm phụ nữ sản xuất chương trình dành cho phụ nữ lại được quản lý bởi một người đàn ông? Điều này hoàn toàn nằm ngoài khả năng phán đoán của tôi. Nhưng dẫu thế Matthew đã nắm bắt cơ hội và giao cho tôi công việc này khi người tiền nhiệm của tôi đột ngột rời đi, vì vậy tôi nghĩ mình nên hàm ơn.
“Matthew, nếu đã đến đây rồi thì cậu quá bộ vào phòng tôi được không?” Tiếng Madeline vang lên từ đầu kia căn phòng.
“Hẳn anh ta nghĩ rằng buổi sáng của mình sẽ không thể tệ hơn được nữa,” Jo thầm thì. “Hết giờ làm tụi mình vẫn đi uống chút gì chứ?”
Tôi gật đầu, nhẹ nhõm vì cô ấy sẽ không biến mất ngay sau khi chương trình kết thúc.
Chúng tôi quan sát Matthew lấy tập ghi chú và nhanh chóng tiến vào chỗ Madeline, chiếc áo khoác đủ màu của anh ta tung ra hai bên như là nó có thể bay lên được. Một lúc sau, anh ta xông ra ngoài, mặt đỏ bừng thoáng vẻ bối rối.
“Tốt hơn hết chúng ta nên vào thẳng phòng thu,” Jo nói, ngắt ngang mạch suy nghĩ của tôi. Dường như đó là một dự tính hay, vì chúng tôi sẽ lên sóng trong mười phút nữa.
“Để tớ xem xem Nữ hoàng điện hạ đã sẵn sàng chưa.” Tôi đáp và hài lòng khi lời này khiến Jo mỉm cười. Tôi bắt gặp ánh mắt của Matthew khi anh ta nhướn cong đôi mày về phía tôi. Đáng lẽ tôi không nên nói bô bô câu ấy ra.
Khi đồng hồ đếm ngược đến giờ phát, mọi người di chuyển vào vị trí. Bà Madeline và tôi tới studio, ngồi vào vị trí quen thuộc trên sân khấu trung tâm tối sẫm. Chúng tôi được quan sát qua một cửa sổ lớn bằng kính từ khu vực an toàn, giống như hai sinh vật hết sức khác biệt do nhầm lẫn mà bị nhốt chung chuồng. Jo và những người còn lại trong nhóm sản xuất ngồi ở phòng ngoài. Căn phòng sáng trưng và náo động, với cả triệu nút bấm có sắc màu khác nhau trông phức tạp khủng khiếp bất chấp phần việc của chúng tôi thực sự hết sức đơn giản: trò chuyện với khách mời và vờ tỏ ra thích thú. Ngược lại, phòng thu sáng lờ mờ, lặng yên một cách khó chịu. Chỉ có một cái bàn, vài cái ghế cùng vài chiếc micro. Madeline và tôi ngồi trong khung cảnh u sầu, lặng lẽ phớt lờ nhau, chờ đèn phát sóng hiện màu đỏ và hành động đầu tiên bắt đầu.
“Chào buổi sáng và chào mừng quý vị đến với chương trình ngày thứ Hai của Cà Phê Sáng , tôi là Madeline Frost. Một lát nữa thôi, trong chương trình ngày hôm nay, chúng ta sẽ gặp gỡ nhà văn vô cùng ăn khách E. B. Knight, nhưng trước đó, chúng ta sẽ thảo luận về việc số lượng phụ nữ đóng vai trò trụ cột trong gia đình ngày càng tăng và với các cuộc điện thoại gọi đến hôm nay, chúng tôi mời quý vị đến với chủ đề những người bạn trong tưởng tượng. Hồi còn nhỏ quý vị có từng có một người bạn như thế không? Có lẽ hiện tại quý vị vẫn có...”
Giọng nói quen thuộc của bà ta trên sóng khiến tôi bình tĩnh trở lại, tôi bật chế độ lái tự động, đợi đến lượt mình lên tiếng. Tôi tự hỏi không biết Paul đã dậy chưa. Dạo gần đây anh không còn là anh nữa: thức khuya trong chòi viết văn, lên giường đi ngủ ngay trước khi tôi thức dậy, hoặc là không ngủ luôn. Anh thích gọi căn chòi đó là cabin. Tôi thích gọi mọi vật bằng đúng tên của chúng.
Chúng tôi đã từng trải qua buổi tối cùng E. B. Knight, khi cuốn tiểu thuyết đầu tay của Paul xuất bản. Chuyện đó diễn ra cách đây năm năm, không lâu sau khi chúng tôi lần đầu gặp mặt. Bấy giờ tôi là một phóng viên truyền hình. Chuyên làm tin tức địa phương chứ chẳng to tát gì. Nhưng việc nhìn thấy bản thân lên hình sẽ buộc bạn phải cải thiện diện mạo của mình, không giống như ở đài phát thanh. Lúc ấy người tôi rất thanh mảnh, tôi không biết nấu nướng; trước Paul, tôi không phải nấu cho ai ăn cả và hiếm khi lăn vào bếp vì mình. Bên cạnh đó, tôi hết sức bận rộn với công việc. Tôi chủ yếu làm tin về những ổ voi ổ gà trên đường hay nạn trộm chì từ mái nhà thờ, nhưng một ngày nọ, sự tình cờ đã tạo ra bước ngoặt. Phóng viên mục giải trí của chúng tôi bị ốm, tôi được cử đi phỏng vấn một tác giả mới xuất hiện ở làng văn thay cho cô ấy. Tôi thậm chí còn chưa đọc cuốn sách của tác giả này. Tôi đã nôn nao và bực bội khi phải làm thay công việc của người khác, nhưng tất cả đã thay đổi khi anh nhà văn bước vào phòng.
Phía đối tác xuất bản cuốn sách của Paul đã thuê một phòng ở khách sạn Ritz cho cuộc phỏng vấn, chỗ đó hệt như một sân khấu còn tôi thì có cảm giác giống như một diễn viên không thuộc lời thoại. Tôi còn nhớ mình đã cảm thấy tụt hết cả hứng, nhưng khi anh ngồi xuống chiếc ghế đối diện, tôi nhận ra anh còn căng thẳng hơn cả tôi. Đó là cuộc phỏng vấn đầu tiên của anh trên truyền hình và bằng cách nào đó tôi đã giúp anh trở nên thoải mái. Sau đó khi anh hỏi danh thiếp của tôi, tôi không thực sự suy nghĩ gì cả, nhưng trên đường trở ra xe, cậu quay phim cùng đoàn đã hớn hở bình luận về “phản ứng hóa học” giữa chúng tôi. Tôi mang cảm giác như một thiếu nữ khi anh nhắc lại đêm đó. Chúng tôi chém gió và mạch chuyện cứ tuôn ra, như thể chúng tôi đã quen biết nhau. Anh nói tuần tiếp đó anh sẽ đi dự lễ trao giải thưởng về sách và chưa mời ai đi cùng. Anh hỏi liệu tôi có rỗi không. Vừa hay tôi chẳng vướng bận gì. Trong buổi lễ đó, chúng tôi ngồi cùng bàn với E. B. Knight, đó là bữa ăn tối cùng một huyền thoại và là cuộc hẹn hò đầu tiên không thể nào quên. Bà ấy rất quyến rũ, thông minh và sắc sảo. Tôi đã từng mong đợi được gặp lại bà ấy kể từ khi biết chương trình có bà làm khách mời.
“Cháu rất vui được gặp bác ạ,” tôi nói khi nhà sản xuất đưa bà vào phòng thu.
“Rất vui được gặp cháu.” Bà ấy đáp rồi ngồi vào ghế. Không hề có dấu hiệu bà ấy nhận ra tôi, tôi dễ dàng bị lãng quên như thế đấy.
Mái tóc ngắn bạc phơ đặc trưng làm tôn lên khuôn mặt nhỏ đã bước sang tuổi 80. Bà ấy đẹp lão, ngay đến những nếp nhăn cũng nằm rất gọn gàng. Bề ngoài trông bà có vẻ mềm mại dịu dàng, song trí óc lại rất nhạy bén. Đôi má của bà ấy ửng hồng với lớp phấn dặm, đôi mắt xanh thông thái và thấu suốt, đảo quanh trường quay trước khi xác định mục tiêu. Bà ấy mỉm cười ấm áp với Madeline như thể bắt gặp một người hùng. Các vị khách thỉnh thoảng vẫn làm như vậy. Chuyện đó cũng không khiến tôi thấy phiền, không thực sự.
Kết thúc chương trình, tất cả chúng tôi lao vào phòng họp để chuẩn bị họp bàn. Chúng tôi ngồi đợi Madeline, căn phòng im lặng cho đến khi bà ta xuất hiện. Matthew bắt đầu nói - điều gì hiệu quả, điều gì không. Khuôn mặt của Madeline không được vui, miệng nhếch lên giống như thể bà ta đang mở hộp kẹo bơ bằng mông. Đám chúng tôi giữ im lặng và tôi cho phép tâm trí của mình lang thang một lần nữa.
Này này ngôi sao nhỏ lấp lánh...
Madeline cau mày xen vào.
Tôi tự hỏi bạn là cái gì.
Bà ta trố mắt, đảo tròng.
Phía trên cao tít thế giới này...
Khi Madeline đã cạn kiệt những chỉ trích không lời, cả nhóm đứng dậy, bắt đầu tản ra.
Giống như một viên kim cương trên bầu trời.
“Amber, tôi có chuyện muốn nói với cô.” Matthew nói, kéo tôi ra khỏi giấc mộng ban ngày. Qua giọng điệu của anh ta, tôi chẳng có lựa chọn nào khác. Anh ta đóng cửa phòng họp lại, tôi ngồi xuống, dò tìm manh mối trên gương mặt anh ta. Như thường lệ, anh ta là người mà ta không thể đọc vị, không chút cảm xúc; có thể mẹ anh ta vừa mới qua đời nhưng bạn cũng không biết được. Anh ta lấy một cái bánh quy từ chiếc đĩa mà chúng tôi bày ra để mời khách và ra hiệu cho tôi làm theo. Tôi lắc đầu. Khi Matthew muốn đưa ra quan điểm, hình như anh ta vẫn luôn tuân theo quy trình. Anh ta cố nở nụ cười với tôi nhưng sớm tắt lịm, thay vào đó cắn một miếng. Một ít vụn bánh bám trên đôi môi mỏng của anh ta, đôi môi cứ khép mở như một con cá vàng trong khi anh ta cố sức tìm cho đúng từ ngữ.
“Là thế này, tôi có thể bắt đầu một cuộc hàn huyên nho nhỏ, hỏi cô có khỏe không, vờ như tôi đang quan tâm, đại loại thế, hoặc là tôi vào thẳng chuyện,” anh ta nói. Một nỗi hoảng hốt quặn thắt trong bụng tôi.
“Anh nói tiếp đi,” tôi nói, chỉ ước gì anh ta không nói nữa.
“Dạo này cô và bà Madeline thế nào rồi?” Anh ta vừa hỏi vừa cắn thêm một miếng bánh.
“Vẫn như mọi khi, bà ấy chẳng ưa tôi,” tôi hấp tấp đáp. Giờ đến lượt tôi trưng ra nụ cười giả tạo, một kiểu đãi bôi chiếu lệ.
“Phải, chính thế, và đó là vấn đệ,” Matthew nói. Đáng lẽ tôi không nên ngạc nhiên về chuyện này, thế mà tôi lại ngạc nhiên. “Tôi biết bà ấy đã không để cô dễ chịu khi cô mới gia nhập nhóm, nhưng bà ấy cũng gặp khó khăn, phải điều chỉnh để quen với việc có cô ở bên. Tình trạng căng thẳng giữa hai người dường như không được cải thiện. Có lẽ cô nghĩ mọi người không quan tâm, nhưng có đấy. Việc hai người có mối quan hệ tốt thực sự quan trọng với chương trình và với cả nhóm.” Anh ta nhìn tôi chằm chằm, chờ đợi câu trả lời mà tôi không biết nên phản ứng ra sao. “Cô có nghĩ mình có thể cải thiện mối quan hệ với bà ấy không?”
“À, tôi nghĩ tôi có thể thử...”
“Tốt. Tôi đã không nhận ra tình trạng khó ở của bà ấy, cho đến ngày hôm nay. Bà ấy đã đưa ra một tối hậu thư.” Anh ta dừng lại, hắng họng trước khi tiếp tục. “Bà ấy muốn tôi cho người khác thay cô.”
Tôi đợi anh ta nói thêm, nhưng anh ta không nói. Những lời của anh ta treo lơ lửng ở khoảng không giữa chúng tôi trong khi tôi cố gắng cắt nghĩa chúng.
“Anh sa thải tôi sao?”
“Không!” Anh ta phản đối, nhưng gương mặt anh ta lại lộ ra phản ứng khác khi cân nhắc điều cần nói. Đôi tay anh ta chắp lại trước ngực, lòng bàn tay hướng vào nhau, chỉ để các đầu ngón tay chạm nhau, giống như một tháp chuông có màu da hoặc một hành động cầu nguyện hờ hững. “À, chưa đâu. Tôi sẽ cho cô thời gian đến dịp năm mới để đảo ngược tình thế. Amber, tôi rất lấy làm tiếc khi mà toàn bộ chuyện này lại xảy đến ngay trước lễ Giáng sinh!” Anh ta thôi vắt chéo cặp chân dài, như thể việc ấy cũng cần nỗ lực, trước khi cơ thể anh ta lùi lại cách xa tôi hết mức mà chiếc ghế cho phép. Miệng anh ta mím lại không ra hình dạng gì, dường như anh ta đang nếm phải thứ gì cực kỳ tệ hại trong khi chờ đợi câu trả lời của người đối diện. Tôi không biết nên nói gì với anh ta. Thỉnh thoảng tôi nghĩ không nói gì là tốt nhất, im lặng là vàng. “Cô rất tuyệt, chúng tôi đều thích cô, nhưng cô cần phải hiểu rằng Madeline chính là Cà Phê Sáng, bà ấy đã dẫn chương trình suốt hai mươi năm nay. Tôi xin lỗi, nhưng nếu phải chọn giữa hai người thì tôi cũng đành bó tay.”