Tôi giật nước toa lét rồi dùng dải giấy tái chế mỏng lau miệng. Tôi chà môi mạnh hơn mức cần thiết, để cho mặt giấy thô ráp chà xát làn da mình. Tôi hít thở thư thả một lúc, thấy an tâm khi không có đồng nghiệp nào chứng kiến tôi như thế này. Đây là buổi thu cuối cùng trước kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, chỉ còn một ngày nữa là kết thúc, vậy là xong. Chỉ một vài giờ nữa, tôi có thể gắng gượng được. Tôi lấy kẹo cao su bạc hà từ túi xách và cho vào miệng. Tôi đã tập nhuần nhuyễn cách che giấu cảm giác nôn nao, nhưng đây không phải là cảm giác như thế.
Sáng nay lúc ở trên tàu, tôi đã xem lại nhật trình của mình, đã mười ba tuần, tôi thậm chí chẳng để ý. Có vẻ chúng tôi không làm chuyện đó thường xuyên và tôi cứ nghĩ rằng bầu bí sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Chúng tôi đã dành không ít thời gian cố gắng và lúc này khi đã gần như từ bỏ thì tôi lại đang mang thai. Tôi sẽ mua dụng cụ thử sau giờ làm việc cho chắc chắn.
Tôi không nghe thấy tiếng gì cả, cho nên tôi dội nước lần nữa trước khi mở cửa buồng vệ sinh. Tôi cứ nghĩ mình ở một mình, hóa ra tôi đã nhầm.
“Cô đây rồi. Cô ổn chứ?” Madeline hỏi.
Tôi cảm thấy má mình đỏ bừng lên. Trước đây, tôi chưa bao giờ gặp bà trong này, cứ thấy sai sai chỗ. Tôi cứ nghĩ bà ta có ghế tiểu tiện đặt dưới bàn làm việc hay thứ gì đó tương tự.
“Cô đã làm gì chỗ đầu cô thế kia?” Bà vừa hỏi vừa nhìn chằm chẳm vào trán tôi. Tôi soi gương, dùng ngón tay cào cào tóc che đi vết bầm tím.
“Cháu đụng phải thứ gì đó ở hành lang lúc về nhà tối qua.” Sự thật là thế, nhưng những từ ấy vẫn để lại dư vị khó chịu trong miệng tôi.
“Khuya quá hả? Dìm chết nỗi buồn à?”
Tôi mở vòi nước rửa tay, không đáp lời.
“Ờ, thế còn đỡ hơn nghén. Bầu bì làm hỏng hết sự nghiệp của phụ nữ.”
Tôi không phản ứng, chỉ rửa đi rửa lại tay mình. Xét về mặt nào đó, trông bà ta có vẻ khác lạ, cứ như thể bà đang xé nát kịch bản. Bà đang ứng biến và tôi không thể theo kịp - những câu thoại tôi đã tập dượt không còn ý nghĩa nữa. Tôi tắt vòi, lấy khăn giấy và quay mặt về phía bà ta. Đôi khi không nói gì chính là nói quá nhiều.
“Tôi mừng là đã bắt kịp cô,” bà nói.
Tôi muốn bỏ chạy. Tim tôi đập mạnh đến nỗi tôi dám chắc bà ta cũng nghe thấy.
“Tôi cần được biết là cuộc nói chuyện hôm nay sẽ chỉ dừng lại trong những bức tường này.” Bà nói tiếp, cứ như thể chúng tôi là bạn cánh hẩu lâu năm và tôi là người đáng tín tưởng. Tôi vẫn không thể nói nên lời, cho nên chỉ gật đầu. Bà ta với tay vào túi xách, lấy ra một xấp phong bì màu đỏ. “Tôi muốn hỏi cô biết gì về những thứ này.”
Tôi nhìn chúng. Rồi nhìn vào mắt bà. “Thiệp Giáng sinh sao?”
“Không phải thiệp Giáng sinh. Tôi đoán chắc cô biết có người đang lan truyền tin đồn về tôi trên mạng. Tuần này tôi còn nhận được thư đe dọa gửi tới văn phòng và nhà riêng. Tôi dám chắc hai sự việc này có liên quan, tôi muốn biết cô có nhìn thấy việc gì bất thường hoặc ai đó khả nghi quanh đây không.”
“Không, cháu không nghĩ thế.”
“Bản thân cô không phải mở thứ gì phản cảm chứ?”
“Không,” tôi mỉm cười. Tôi không cố ý cười.
“Không phải đùa đâu, đây là chuyện nghiêm túc. Tôi nghĩ kẻ viết những lá thư này hẳn phải ở bên trong tòa nhà.”
Chính lúc này tôi mới nhận ra, điều khác lạ ở bà ta. Chính là dáng vẻ Madeline khi sợ hãi. Trước đây tôi chưa từng nhìn thấy.
“Lá thư cuối cùng này nằm trên bàn tôi sáng nay, trước khi tôi đến.” Bà ta vừa nói vừa cầm chiếc phong bì đỏ trên cùng giơ lên.
“Trong đó viết gì?”
“Viết gì không quan trọng.”
Một khoảng lặng khẽ lướt qua.
“Cô đã kể với anh Matthew về những lá thư này chưa?” Tôi hỏi.
“Chưa đâu.”
“Thế thì có lẽ cô đừng nên kể.”
Bà xét nét nhìn tôi. “Tôi sẽ gặp cô bên ngoài,” bà nói rồi >bỏ đi. Tôi ở thêm lúc nữa rồi lại rửa tay.
Trong suốt chương trình, tôi quan sát Madeline kĩ hơn. Tôi ghét bà, nhưng phải thừa nhận bà là người dân gạo cội. Tôi nhìn khuôn mặt bà ta, kiếm tìm nét tương đồng nhưng chẳng thể. Bà gật đầu khi tôi xin phép đi vệ sinh, cứ như thể bà hiểu cảm giác của tôi, cứ như thể bà tỏ ra quan tâm. Tôi lao đi, bỏ quên điện thoại trong phòng thu. Jo vào tìm tôi trong nhà vệ sinh xem tôi có ổn không. Cô ấy dấp ít nước lên mặt tôi, cách này tỏ ra có hiệu quả đôi chút.
“Cậu chỉ cần trụ được đến cuối chương trình, giờ cũng không còn lâu nữa. Cậu đã làm rất tốt, tất cả sẽ ổn thôi,” cô ấy nói.
Tôi ước gì mình tin vào cô ấy. Tôi ước những lời này là thực. Cô ấy trở lại phòng thu trước tôi, để tôi có thời gian lấy lại nhịp thở. Tôi trở ra, dừng lại ở bàn của Matthew. Phòng gã trống trơn khi chúng tôi lên sóng, gã vẫn luôn để điện thoại ngoài này. Có vẻ như sẽ chẳng ai lấy trộm nó, tôi đoán - điện thoại của gã đã cũ tới mức thậm chí chẳng cài được mật khẩu. Chỉ cần chưa tới ba mươi giây để gửi tin nhắn rồi xóa khỏi mục tin đã gửi.
Họ đã thực hiện được một nửa chương trình thu âm trước Giáng sinh khi tôi trở lại chỗ ngõi - micro đã tắt, tôi có vài phút nghỉ ngơi.
“Trông cô không khỏe lắm. Nếu cô cần nghỉ, tôi vẫn xoay được khi không có cô.”
“Cháu không sao, cảm ơn cô,” tôi đáp rồi ngồi xuống. Màn hình điện thoại của tôi vẫn sáng đèn với tin nhắn chưa đọc mà tôi vừa gửi từ điện thoại của Matthew.
Đã đặt bữa tối cho cô, tôi và người dẫn mới vào tuần tới, M x
Lén liếc nhìn gương mặt Madeline để xác nhận chắc chắn bà đã xem tin nhắn, tôi nở nụ cười tỏ ý xin lỗi. Tôi nhìn cổ và ngực bà đỏ ửng lên như thể cơn giận đang đốt cháy cả làn da bà ta.
Những cuộc điện thoại gọi đến đều liên quan đến chủ đề gia đình vào Giáng sinh. Tôi kiên nhẫn lắng nghe cô Kate ở Cardiff tâm sự không muốn đến thăm mẹ chồng; chị Anna ở Essex đã không nói chuyện với anh trai mình trong hơn một năm và không biết nên mua quà gì cho anh ta. Tất cả chỉ là vớ vẩn, hoàn toàn nhảm nhí, tất thảy đều như vậy. Những người này đúng thật rảnh rỗi sinh nông nổi. Thật là thảm hại! Cơn buồn nôn lại cuộn lên một lần nữa khi Madeline nói về tầm quan trọng của sự tha thứ.
“Giáng sinh là dịp để ở bên gia đình, cho dù đó là bất cứ thành viên nào,” bà ta nói, tôi cố không nôn ra bàn. Sao bà biết được? Bà chẳng có người thân nào nữa cả.
Cuối cùng, khi chương trình gần kết thúc, tôi thấy kiệt sức, nhưng tôi biết ngày hôm nay còn vô số việc cần phải làm. Đây là cơ hội cuối cùng và tôi thì chỉ mới bắt đầu.
Madeline không phải là người thích xem ti vi, nhưng thứ khiến bà thích hơn cả giọng nói của bà trên sóng radio chính là ngắm nhìn bản thân trên màn hình ti vi. Với tư cách là gương mặt đại diện của Crisis Child, bà được yêu cầu thực hiện các cuộc phòng vấn kỳ quặc trên truyền hình, thay mặt cho tổ chức từ thiện phát biểu và hôm nay là một dịp như thế. Chương trình tin tức mà trước đây tôi từng là phóng viên đã hẹn phỏng vấn Madeline trên bản tin giờ ăn trưa của họ, để nói về những đứa trẻ sống trong cảnh nghèo đói nhân lúc Giáng sinh. Tất cả những việc cần làm chỉ là gọi một cuộc điện thoại, vờ là người của tổ chức từ thiện, đề nghị phỏng vấn người nổi tiếng là gương mặt đại diện của tổ chức và số điện thoại di động của trợ lý riêng của bà ta nếu họ quan tâm. Phần còn lại sẽ cứ thế tiếp diễn.
Có một chiếc xe tải vệ tinh khổng lồ đang sẵn sàng trên phố. Khi nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi có thể thấy một chiếc máy quay được đặt trên giá ba chân ở phía trước cây thông Noel bên ngoài tòa nhà của chúng tôi. Ngay sau khi chương trình kết thúc, chúng tôi đi xuống cầu thang.
“Việc này sẽ mất bao lâu nữa?” Madeline quát hỏi một trong số nhân viên kỹ thuật.
“Không lâu đâu, chỉ cần tìm vệ tinh và chỉnh mic lên thôi,” John, một đồng nghiệp cũ của tôi nói. Anh quay lại và thấy tôi đang đứng sau lưng bà ta, một nụ cười rạng rỡ xuất hiện trên khuôn mặt anh. “Amber Reynolds! Em khỏe không? Anh nghe nói bây giở em đang làm việc ở đây!” Anh ấy ôm tôi và tôi ngạc nhiên trước cách thể hiện tình cảm này. Tôi mỉm cười đáp lại và cố gắng không tỏ ra quá ngượng ngập, không thể đáp lại cái ôm và đợi anh buông ra.
“Em khỏe, cảm ơn nhé. Gia đình anh thế nào rồi?” Cuối cùng khi anh buông, tôi cất tiếng hỏi. Anh chẳng có cơ hội trả lời.
“Sao cô lại ra đây? Không ai muốn phỏng vấn cô đâu.” Madeline vừa nói vừa nhìn về phía tôi.
“Matthew bảo cháu đi cùng cô.”
“Tôi dám cá là cậu ta làm thế.”
Nụ cười của John kém tươi dần. Anh đã làm việc ở đài truyền hình hơn ba mươi năm. Trong thời gian công tác anh đã gặp vô số người như Madeline rồi. Người nổi tiếng không còn gây ấn tượng khi lột bỏ vẻ khiêm tốn.
“Liệu tôi có thể chỉ...” John loay hoay với chiếc mic, nhưng thật khó để tìm được vị trí thích hợp giữa những nếp vải màu đen mà bà ta đang mặc để đính và giấu cục pin đi.
“Bỏ tay ra khỏi người tôi,” Madeline quát. “Đưa nó cho cô ta, cô ta sẽ làm việc này. Dù sao thì cô ta cũng đã từng làm bên truyền hình; bây giờ ai cũng có thể tự xưng là nhà báo cả.” John gật đầu, đảo mắt khi bà không nhìn đến và đưa chiếc mic cho tôi.
“Tôi hầu như chẳng thể nghe thấy gì từ phòng thu,” Madeline vừa nói vừa chỉnh chiếc tai nghe mà tôi vừa giúp cài xong.
“Em đã chỉnh đúng rồi mà,” tôi nói với John.
“Để anh đi xem liệu có thể điều chỉnh trong xe tải không,” anh nói, tháo tai nghe và rời khỏi máy quay. “Có phiền em quá không?” Anh hỏi tôi. Tôi thấy anh vui ra mặt vì có cớ để rút lui.
“Không sao... em cũng hy vọng giúp được đôi chút.” Tôi mượn chiếc tai nghe của anh để nghe tiếng nhà sản xuất ở đầu kia và nhắc Madeline lúc nào cần nói. Bà không hề lo lắng và dễ dàng điều chỉnh bản thân sang chế độ đại sứ quan tâm khi nghĩ rằng cả thế giới đang dõi theo mình. Những câu trả lời cứ trượt ra nơi đầu lưỡi bà ta, hết lời nói dối này đến lời nói dối khác.
“Cháu nghĩ chừng đó được rồi,” tôi vừa nói vừa cởi chiếc tai nghe ra.
“Cô chắc chứ? Đâu đã dài lắm đâu.”
“Cháu nghĩ thế, họ nói giờ còn một khách mời khác nữa.” Nụ cười giả tạo của bà lập tức tắt ngóm trên mặt. “Cháu rất tiếc khi cô phải nhìn thấy tin nhắn lúc nãy,” tôi nói.
“Chuyện vớ vẩn,” trông bà ta có vẻ kích động, giơ đồng hồ lên xem.
“Nếu cô rời khỏi Cà Phê Sáng , ít nhất cô cũng có nhiều thời gian cho công việc từ thiện.”
“Tôi sẽ chẳng đi đâu cả, tôi có hợp đồng lao động, còn từ thiện là việc ở nhà. Không ai dạy cô điều đó à? Gã dở hơi kia có quay lại không hay là tôi đi được rồi.”
“Cháu sẽ hỏi lại xem phần của cô xong chưa,” tôi nói, đeo lại chiếc tai nghe. Tôi nghe giọng người sản xuất chương trình rất to và rõ ràng. “Nhưng nội dung phải bổ ích, giúp nâng cao nhận thức về đối tượng trẻ em dễ bị tổn thương chứ?” Chúng tôi đã thảo luận về vấn đề này rất nhiều lần trước đây, tôi biết suy nghĩ của bà ta về vấn đề này.
“Dễ bị tổn thương, có cái mông của tôi ấy. Hầu hết những đứa trẻ này đều đần độn và tôi cho rằng cha mẹ chúng nó là kẻ có lỗi. Nên có loại bài kiềm tra IQ để xác định những người quá ngu đần thì không nên sinh con đẻ cái, sau đó những người nào có điểm số thấp sẽ bị triệt sản. Quá nhiều kẻ ngu đần đổ bộ lên đất với những đứa con chậm phát triển của họ là một sai lầm lớn của đất nước này.” Tôi nhìn thấy John bước ra khỏi chiếc xe tải đỗ ở dưới đường, điên cuồng vẫy vẫy tay trên đầu như đang cố ra hiệu hạ cánh máy bay khẩn cấp.
“Cháu nghĩ giờ cô có thể đi rồi,” tôi nói.
“Được, đúng lúc đấy,” Madeline đáp. Tôi không thể đồng tình hơn nữa. Bà xoay gót và quay trở lại bên trong tòa nhà. Tôi nhìn theo bà, không thể rời mắt khỏi bộ pin vẫn được gắn sau lưng chiếc khăn pashmina màu đen đo đùng. Bà chọc ngón tay vào nút gọi thang máy, sau đó quay sang phía tôi và mỉm cười. “Và sau đó, có những ả điếm mang thai do nhầm lẫn, thường là với đối tượng mà họ không nên quan hệ. Đó là lý do vì sao Chúa tạo ra công nghệ phá thai. Đáng buồn thay, có quá nhiều con chó cái ngu ngốc không biết về điều đó.” Cửa thang máy mở ra. “Cô không vào sao?” Tôi lắc đầu. “Ồ, tôi quên mất, cô sợ thang máy.” Bà trố mắt, đảo tròng và bước vào trong, liên tục bấm vào nút để đảm bảo cửa đóng lại trước khi bất kỳ ai khác có thể vào được.
Khi tôi leo lên đến bậc thang ở tầng năm, dường như tôi đã bỏ lỡ một hồi của vở kịch yêu thích. Mọi người đang nhìn về hướng văn phòng của Madeline. Matthew đang ở trong đó cùng bà ta, cả hai đang hét vào mặt nhau, thế nên từng lời của cuộc nói chuyện đáng ra là riêng tư của họ đều bày ra trước bàn dân thiên hạ, bất chấp cánh cửa đóng kín.
“Có chuyện gì thế?” Tôi hỏi vu vơ.
“Mic của Madeline vẫn bật. Họ có khách mời ở phòng thu, sau đó trở lại phỏng vấn bà ấy. Mọi điều bà ấy nói đều phát trực tiếp trên sóng truyền hình quốc gia.”
Tôi cố hết sức tỏ ra ngạc nhiên.