Câu chuyện ở ngoài thành, sương mù dày đặc chẳng tan,
Chẳng nhìn rõ đối thoại, người cũng chẳng nghe ra,
Tiếng gió chẳng tồn tại, là ta đang cảm hoài.
Mộng tỉnh rồi, là ai đang mở ra kết cục nơi bậu cửa?
—— Châu Kiệt Luân "Thiên lý chi ngoại"
Đầu xuân năm ấy, Hứa Tri Viễn, một cây bút chuyên mục kinh doanh sinh thập niên 70, mang theo cuốn sách "Tiền Mục và thế giới Thất Phòng Kiều" do người Mỹ Jerry Dennerline viết, ngồi xe đến Vô Tích, Giang Tô – quê hương của đại sư quốc học Tiền Mục. Đó là một trong những thành phố phát triển kinh tế bậc nhất vùng đồng bằng sông Trường Giang. Trong sách của Dennerline in hàng chục bức ảnh đen trắng về Thất Tiểu Kiều ở Vô Tích, quê hương Tiền Mục. Đó là vùng Giang Nam khoảng năm 1980, hơi thở chốn thủy hương cùng những mái hiên cong vút của kiến trúc cổ Trung Hoa khiến người ta cảm thấy thật gần gũi. Khi Hứa Tri Viễn đến Vô Tích đã là đêm muộn, "Mưa nhỏ vẫn chưa dứt. Ánh đèn neon cùng tiếng còi xe inh ỏi phá tan dòng suy tưởng của tôi. Những tòa nhà xấu xí, rập khuôn lại xuất hiện: những tòa lầu vài tầng, tường gạch men trắng, kính xanh thẫm. Tất cả thị trấn ở Trung Quốc, dù là phương Nam hay phương Bắc, miền Tây hay miền Đông, đều giống nhau đến kinh ngạc. Tại thành phố vốn nổi tiếng với vẻ nho nhã văn nhân này, đâu đâu cũng là quảng cáo bất động sản. Phong cách vườn tược đã sớm bị vứt bỏ, người ta chỉ sùng bái "phong cách Cambridge", "biệt thự Bắc Mỹ". Không ngoại lệ, trung tâm thành phố bị các trung tâm thương mại như Bách hóa Thái Bình Dương chiếm lĩnh. Khi tản bộ trên đường, cứ ngỡ như đang đi trên đường Hoài Nam, Thượng Hải phiên bản thu nhỏ."
Tại Liên hoan phim Venice lần thứ 63 vào tháng 9, bộ phim "Người tốt Tam Hiệp" của đạo diễn 36 tuổi Giả Chương Kha đã giành giải cao nhất "Sư tử vàng". Đây là một bộ phim hiện thực có phần trầm mặc, kể về hai cặp vợ chồng bình thường bên dòng Trường Giang đang tìm kiếm, tranh cãi rồi chia ly. Địa điểm quay phim là huyện Phụng Tiết, Trùng Khánh, nơi có lịch sử 2.000 năm. Giả Chương Kha phát hiện ra rằng, 5 tháng quay phim không tài nào đuổi kịp tốc độ thay đổi của bối cảnh. Ban đầu, anh còn nhìn thấy một tòa nhà cũ ở phía xa, chờ khi anh quay lại Bắc Kinh một thời gian ngắn rồi trở lại hiện trường, tòa nhà đã biến mất. Ngay sau đó, một mảng kiến trúc khác lại đổ sập. Dù ống kính máy quay giữ nguyên, không gian bên trong đã sớm thay hình đổi dạng. "Thành cổ đâu đâu cũng giải tỏa", Giả Chương Kha cảm thán, "Ống kính của tôi không theo kịp nhịp độ này."
Có lẽ, không một quốc gia nào khiến người ta cảm thấy "như cách một đời" như Trung Quốc ngày nay. Với nhiều người, nơi họ lớn lên đã không còn tồn tại. Giang Nam trong ngòi bút thi nhân đời Đường, Tống đã sớm biến dạng. Những "thành nhỏ cô liêu" (thơ của thi nhân Đài Loan Trịnh Sầu Dư trong "Giang Nam") giờ đây đã trở thành những cơ sở công nghiệp sản xuất quan trọng nhất thế giới. Những con phố uốn lượn ngày xưa bị nắn thẳng, mở rộng; đá xanh trên phố bị cạy bỏ, vứt đi; bên trên mọc lên những tòa nhà và cửa hiệu cao tầng thô kệch. Hành lang mưa, mái hiên bay, bến nước đều đã trở thành hình ảnh trong ký ức. Trong 20 năm qua, khoảng 400 triệu người Trung Quốc đã thoát khỏi cảnh nghèo đói cùng cực, thành tựu này chủ yếu nhờ vào quá trình đô thị hóa nhanh chóng và sâu rộng. Theo dự đoán của các chuyên gia, phong trào đô thị hóa sẽ còn tiếp diễn, 20 năm tới dự kiến sẽ có thêm 400 triệu người chuyển vào thành phố. Điều này khiến cả nước trông như một công trường xây dựng khổng lồ. "Tham khảo tiêu tức" dẫn nguồn tin nước ngoài cho biết, diện tích nhà ở xây mới mỗi ngày tại Trung Quốc chiếm khoảng 50% tổng lượng toàn cầu, tổng lượng nhà ở trong một năm tương đương với toàn bộ diện tích nhà ở hiện có của nước Nga. Kết quả xây dựng 10 ngày ở Trùng Khánh tương đương với 15 tòa nhà Chrysler ở Manhattan, New York.
Sức phát triển không thể kiềm chế của kinh tế Trung Quốc khiến mọi nhà quan sát đều kinh ngạc. Cũng từ năm này, chúng ta ít thấy những dự báo về việc "kinh tế Trung Quốc sắp sụp đổ", bởi nó đã sai quá nhiều lần. Ngược lại, một số cuốn sách ca ngợi cuộc cải cách Trung Quốc bắt đầu bán chạy. Cuốn sách mới "Trung Quốc làm rung chuyển thế giới" của James Kynge lọt vào bảng xếp hạng sách bán chạy toàn nước Mỹ, và giành giải Sách của năm do tờ "Financial Times" của Anh trao tặng. Nhà báo kỳ cựu người Pháp Éric Izraelewicz cũng xuất bản cuốn "Khi Trung Quốc thay đổi thế giới" vào tháng 2, nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy ở châu Âu. Tháng 9, trong danh sách "Xếp hạng nhà đầu tư mạo hiểm toàn nước Mỹ" của tạp chí "Forbes", Michael Moritz – đối tác của Sequoia Capital (Mỹ), người nổi danh nhờ đầu tư vào Yahoo, Google và Paypal – đã ghé thăm Trung Quốc. Bán kính đầu tư trước đó của Sequoia Capital được cho là "không vượt quá 40 dặm quanh thung lũng Silicon", nhưng giờ đây họ cũng không thể ngồi yên mà tiến quân vào Trung Quốc. Moritz nói với phóng viên: nếu nhìn lại sau 50 hay 100 năm nữa, có lẽ những công ty vĩ đại của Trung Quốc vẫn chưa ra đời.
Lời của Moritz có phần xã giao, nhưng có lẽ ông đã nói đúng sự thật: một thời đại vĩ đại không đảm bảo chắc chắn sẽ sinh ra dù chỉ một công ty vĩ đại. Ngày 5 tháng 1, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc (PetroChina) Tưởng Khiết Mẫn phát biểu tại Hội nghị người đứng đầu doanh nghiệp trung ương: "PetroChina là công ty có lợi nhuận cao nhất châu Á, không phải một trong số đó, mà là số một." Người ta có thể tưởng tượng sự phấn khích và tự hào của ông khi nói ra những lời này, nhưng ít ai cảm thấy PetroChina – kẻ kiếm tiền giỏi nhất – đã là một doanh nghiệp vĩ đại hay đáng kính trọng.
Trên con đường tăng trưởng tốc độ cao, hào quang của các công ty quốc doanh lớn là chói lọi nhất. Kể từ sau đợt điều tiết vĩ mô mùa xuân hè năm 2004, địa vị độc quyền của họ trong lĩnh vực tài nguyên đã được củng cố chưa từng có. Nếu kinh tế Trung Quốc là một cây táo sai trĩu quả, thì họ chính là những kẻ thu hoạch lớn nhất, và trên một vài cành cây sum suê, họ là kẻ duy nhất. Đồng thời, cùng với việc phổ biến chế độ doanh nghiệp hiện đại, tính thị trường hóa vốn và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này cũng được tăng cường. Kể từ khi Ủy ban Quản lý và Giám sát Tài sản Nhà nước (SASAC) thành lập ba năm nay, doanh thu chủ yếu của các doanh nghiệp trực thuộc trung ương tăng 78,8%, tăng trưởng bình quân hàng năm 21,4%; lợi nhuận tăng 140%, tăng trưởng bình quân hàng năm 33,8%; thuế nộp ngân sách tăng 96,5%, tăng 5 điểm phần trăm; tỷ lệ bảo toàn và gia tăng giá trị tài sản nhà nước đạt 144,4%. Giờ đây, họ trông như một "hạm đội bất bại" không thể bị đánh bại.
Trong hai năm qua, năng lượng toàn cầu khan hiếm chưa từng thấy, giá dầu thô quốc tế tăng từ 25 USD lên hơn 70 USD. Trong bối cảnh đó, ba tập đoàn dầu khí lớn của Trung Quốc đang nắm giữ vị thế độc quyền – PetroChina, Sinopec và CNOOC – có lợi nhuận tăng vọt. Năm 2004, lợi nhuận ròng của Sinopec tăng điên cuồng 70% so với năm trước, năm 2005 trên cơ sở đó tăng thêm 42%, đến năm 2006 lại tăng tiếp 28,08%. PetroChina càng liên tiếp báo tin vui, năm 2005 đạt doanh thu 552,23 tỷ nhân dân tệ, tăng 39% so với năm trước. Với lợi nhuận ròng 133,36 tỷ nhân dân tệ, công ty trở thành cỗ máy kiếm tiền nhất châu Á, vượt qua "lão đại" cổ phiếu blue-chip trên sàn chứng khoán Hong Kong nhiều năm qua là HSBC Holdings và doanh nghiệp kiếm tiền nhất châu Á trước đó là Toyota Nhật Bản. Phóng viên Trần Đào của "Nam Phương Chu Mạt" trong bài viết "PetroChina: Lão đại đã lên ngôi như thế nào" đã làm một phép tính: "Nguyên nhân chủ yếu nằm ở giá cả, giá dầu Trung Quốc đi theo giá quốc tế. Mà giá dầu quốc tế không ngừng tăng cao, còn chi phí khai thác thì sao? Lấy mỏ dầu Đại Khánh – trọng trấn của PetroChina làm ví dụ, chi phí khai thác mỗi thùng chỉ là 6,86 USD. Có thể thấy, PetroChina chủ yếu kiếm tiền từ tài nguyên dầu mỏ. Mà tài nguyên dầu mỏ, về lý thuyết, thuộc sở hữu chung của toàn thể người dân Trung Quốc. PetroChina sở hữu trữ lượng dầu mỏ đã thăm dò là 11,62 tỷ thùng, tính với giá 90 USD/thùng, thì tổng giá trị vào khoảng 7,8 nghìn tỷ nhân dân tệ." [Ngày 14 tháng 7 năm 2006, giá dầu thô tương lai trên sàn giao dịch hàng hóa New York đạt mức cao kỷ lục 78,4 USD/thùng, sau đó tiếp tục giằng co đi lên. Bài viết của Trần Đào đăng ngày 1 tháng 11 năm 2007, lúc đó giá dầu đã leo lên 96,2 USD, đang lao về mốc 100 USD.]
Điều kinh ngạc là, trong điều kiện siêu lợi nhuận như vậy, các công ty dầu khí còn vượt qua mức giá trần của nhà nước để bán dầu cho các trạm xăng tư nhân. Phóng viên đài truyền hình trung ương CCTV khi phỏng vấn chủ một trạm xăng tư nhân ở Hải Nam đã được biết: ngày 23 tháng 4 năm 2006, giá nhập hàng từ hai đại gia dầu khí là 5.300 nhân dân tệ/tấn, trong khi giá trần cao nhất của nhà nước là 4.744 nhân dân tệ/tấn, tức là cao hơn giá nhà nước 556 nhân dân tệ. Nội san của Sinopec ngày 18 tháng 10 cũng đưa tin, khi giá dầu thô quốc tế là 57,65 USD/thùng, giá xăng ở Mỹ tương đương 4.118 nhân dân tệ/tấn, trong khi giá bán buôn trong nước lúc đó là 6.585 nhân dân tệ/tấn, cao hơn Mỹ 2.467 nhân dân tệ, mức chênh lệch lên tới 59,9%. Điều đáng suy ngẫm là vào tháng 1, Bộ Tài chính vẫn quyết định xuất 10 tỷ nhân dân tệ để trợ cấp cho hai tập đoàn dầu khí lớn. Giải thích của SASAC là: "Các doanh nghiệp lớn như Sinopec và PetroChina không tiếc hy sinh lợi ích của bản thân để đổi lấy sự phát triển ổn định của kinh tế quốc dân, rất nhiều lúc các doanh nghiệp trung ương lớn đã vì đại cục mà hy sinh, người biết chuyện không nhiều." Theo tin ngày 14 tháng 11 của Thông tấn xã Trung Quốc, trong bảng xếp hạng "Đánh giá trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2006" do tạp chí "Fortune" của Mỹ công bố, PetroChina xếp thứ 63, đứng áp chót bảng, vị trí cuối cùng cũng là một doanh nghiệp độc quyền của Trung Quốc: Tập đoàn Lưới điện Quốc gia.
Ngày 10 tháng 8, China Mobile niêm yết trên sàn chứng khoán New York đóng cửa ở mức 33,42 USD, vốn hóa thị trường đạt 132,58 tỷ USD, lần đầu tiên vượt qua công ty viễn thông Vodafone của Mỹ, trở thành công ty vận hành viễn thông có vốn hóa thị trường cao nhất thế giới. Năm đó, doanh thu của công ty là 285,3 tỷ nhân dân tệ, lợi nhuận trước thuế 96,8 tỷ nhân dân tệ. Năng lực lợi nhuận cao của doanh nghiệp này tất nhiên cũng liên quan đến cục diện độc quyền. Điều thú vị là trong vài năm qua, ba gã khổng lồ trong lĩnh vực viễn thông – China Mobile, China Unicom và China Telecom – từng xảy ra những cuộc chiến giá cả khốc liệt, đặc biệt là giữa hai đơn vị đầu, họ đối đầu gay gắt trong việc tranh giành người dùng và giá cước, một số nơi thậm chí xảy ra ẩu đả tập thể ác tính. Theo số liệu của Bộ Công nghiệp Thông tin, trong 5 năm kể từ năm 1998, số vụ án ác tính về kết nối mạng báo cáo lên bộ này lên tới 540 vụ, tức là cứ 4 ngày xảy ra một vụ, ảnh hưởng ít nhất đến 100 triệu lượt người dùng.
Ngày 1 tháng 11 năm 2004, một tin tức thay đổi nhân sự đầy kịch tính đã gây chấn động giới kinh doanh toàn cầu. Dưới sự chủ trì của SASAC, lãnh đạo của ba doanh nghiệp viễn thông lớn đã luân chuyển vị trí: Vương Kiến Trụ, nguyên Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc China Unicom, chuyển sang làm Tổng giám đốc China Mobile; Vương Hiểu Sơ, nguyên Phó tổng giám đốc China Mobile, chuyển làm Tổng giám đốc China Telecom; Thường Tiểu Binh, nguyên Phó tổng giám đốc Tập đoàn China Telecom, nhậm chức Chủ tịch China Unicom; Trương Lập Quý, nguyên Tổng giám đốc China Mobile và Chu Đức Cường, nguyên Tổng giám đốc China Telecom, nghỉ hưu từ ngày hôm đó. Giải thích của SASAC cho việc này là, sự hoán đổi chớp nhoáng nhằm "kiềm chế sự cạnh tranh ác tính ngày càng gay gắt giữa các nhà vận hành viễn thông trong vài năm qua, từ đó dẫn dắt sự cạnh tranh lý tính, nâng cao tỷ suất hoàn vốn của các nhà vận hành viễn thông quốc doanh".
Tin tức vừa công bố đã gây ra làn sóng dữ dội từ bên ngoài, vấp phải sự nghi ngờ và quan tâm thận trọng của thị trường vốn cũng như các nhà phân tích viễn thông. Các nhà phân tích ngân hàng đầu tư cho rằng, việc sử dụng biện pháp hành chính để vượt qua sự ràng buộc của thị trường vốn, phá hoại cấu trúc quản trị công ty niêm yết là một sự tổn hại thô bạo đối với thị trường vốn, đây là bước lùi của ngành viễn thông kể từ sau cải cách năm 1994.
Hồ Thư Lập, Tổng biên tập tạp chí "Tài Kinh", người được mệnh danh là "người phụ nữ nguy hiểm nhất", đã nói thẳng trong bài bình luận "Hoán đổi nhân sự cấp cao viễn thông chớp nhoáng lợi bất cập hại": "Ba tập đoàn viễn thông lớn niêm yết ở nước ngoài, chúng ta đều nghe một cách nói – cái thiếu không phải là tiền, mà là cơ chế, niêm yết là để đổi lấy cơ chế tốt. Đối nội đối ngoại, gần như rập khuôn một kiểu. Vậy thì, cốt lõi của cơ chế này rốt cuộc là gì? Tất nhiên là cấu trúc quản trị công ty được thị trường vốn công nhận. Thế nhưng, lần này cổ đông lớn quốc doanh Trung Quốc cưỡng ép thực hiện việc hoán đổi nhân sự cấp cao giữa ba tập đoàn viễn thông, toàn bộ quá trình ra quyết định không hề minh bạch, càng không bàn đến việc ủ mưu thảo luận trước trong hội đồng quản trị và đại hội cổ đông công ty niêm yết; thủ pháp này cho thấy người sở hữu vẫn coi quản lý doanh nghiệp như những quan chức có thể điều động tùy ý, hoàn toàn vô tri về các quy định 'cấm cạnh tranh' và khái niệm 'xung đột lợi ích' thông thường của thị trường, càng bộc lộ cơ chế khích lệ quản lý của công ty niêm yết chỉ là hình thức, chưa hề có hiệu lực. Việc 'vượt qua ràng buộc thị trường vốn' một cách vô tư lự như vậy đã tổn hại chính đến gốc rễ cấu trúc quản trị công ty niêm yết. Đây là vết thương chí mạng, không chỉ làm tổn thương bản thân ba công ty niêm yết lớn, mà còn tạo ra hiệu ứng làm gương xấu cho nhiều doanh nghiệp quốc doanh đang trong quá trình chuyển đổi." Mặc dù bị chỉ trích gay gắt như vậy, uy lực của đợt hoán đổi này lại rất rõ ràng. Kể từ sau đó, ba doanh nghiệp viễn thông nhanh chóng hình thành một "sự mặc định của các nhà tài phiệt" mới, cuộc chiến giá cả vốn khói lửa mịt mù lập tức tắt ngấm, "trật tự ngành" nhất thời chỉnh tề, lợi nhuận của các bên tất nhiên cũng tăng lên đáng kể.
Những năm gần đây, những lời chỉ trích về độc quyền viễn thông chưa bao giờ dừng lại. Tháng 4, tờ "Kinh tế Tham khảo báo" đăng bài nghi vấn về "phí thuê bao" điện thoại, chuyên gia viễn thông Củng Thắng Lợi cho rằng, đây là sản phẩm của "phê duyệt hành chính" dưới thời kinh tế kế hoạch, căn bản không hề có bất kỳ quy trình pháp luật quốc gia nào. Thế nhưng, trong môi trường không có "quy tắc pháp luật" và "quy trình giám sát", nó vẫn tồn tại vững chãi suốt gần 30 năm qua. Cuối năm 2004, tổng số điện thoại cố định và di động ở Trung Quốc vượt mốc 500 triệu người dùng, chỉ riêng khoản "phí thuê bao", mỗi năm các doanh nghiệp viễn thông dễ dàng thu về hơn 200 tỷ nhân dân tệ, trong đó, "phí thuê bao" của China Mobile trong gần 10 năm qua có tổng thu nhập vượt 1 nghìn tỷ nhân dân tệ. Còn tổng số "phí thuê bao" điện thoại cố định và di động trong nhiều năm qua phải lên tới 5 nghìn tỷ nhân dân tệ.
Giáo sư Khản Khải Lực của Đại học Bưu điện Bắc Kinh thì oanh tạc "phí chuyển vùng" điện thoại di động. Theo ông tiết lộ, chi phí chuyển vùng thực tế gần như bằng không. Năm 2005, doanh thu phí chuyển vùng của China Mobile vào khoảng 49 tỷ nhân dân tệ, chiếm hơn một nửa lợi nhuận. So sánh mà xem, ngành viễn thông Mỹ thực hiện đồng giá toàn mạng, không những không có phí chuyển vùng, mà ngay cả phí đường dài trong nước cũng không có. Gọi điện thoại từ Mỹ sang Trung Quốc chỉ mất 1,67 USD/phút, khoảng 0,13 nhân dân tệ, trong khi gọi từ Trung Quốc sang Mỹ mất 8 nhân dân tệ/phút, chênh lệch hơn 60 lần. Khản Khải Lực còn chỉ trích, cục diện độc quyền siêu lợi nhuận khiến các doanh nghiệp viễn thông từ chối công nghệ mới. Ví dụ, công nghệ gọi điện qua mạng và phủ sóng băng thông rộng không dây vốn đã được ứng dụng và phổ biến toàn diện ở Âu Mỹ sẽ làm giảm đáng kể chi phí sử dụng viễn thông, thậm chí thực hiện dịch vụ miễn phí, thế nhưng tất cả đều không nằm ngoài dự đoán mà bị cho vào lãnh cung. Độc quyền viễn thông trơ trẽn khiến người ta nhìn thấy rõ ràng nhất một nguyên lý kinh tế học: "Độc quyền không có tốt hay xấu, chỉ có xấu hoặc xấu hơn."
Ngày 27 tháng 10, Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC) đồng thời niêm yết tại Thượng Hải và Hong Kong, quy mô phát hành cổ phiếu đạt 191 tỷ USD, phá vỡ kỷ lục IPO (chào bán lần đầu ra công chúng) cao nhất thế giới. Chủ tịch ICBC Khương Kiến Thanh phấn khích nói với phóng viên tại sảnh sàn chứng khoán Hong Kong: "Tôi vô cùng vô cùng hài lòng, đợt niêm yết hôm nay vô cùng vô cùng thành công." Đến tháng 7 năm 2007, cùng với sự tăng vọt của thị trường chứng khoán Trung Quốc, giá cổ phiếu ICBC liên tục tăng, tổng vốn hóa thị trường đạt con số kinh ngạc 254 tỷ USD, qua đó vượt qua Citibank của Mỹ (251 tỷ USD), trở thành ngân hàng lớn nhất thế giới.
Doanh nghiệp kiếm tiền nhất châu Á, doanh nghiệp viễn thông lớn nhất thế giới, ngân hàng lớn nhất thế giới, khi những chiếc vương miện vàng này lần lượt rơi xuống đầu các doanh nghiệp Trung Quốc, không còn ai dám nghi ngờ sức mạnh của kinh tế Trung Quốc cũng như quyền lực của độc quyền. Tháng 9, kết quả điều tra mới nhất của Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, tổng tài sản gần 20 nghìn tỷ của các tập đoàn doanh nghiệp quốc doanh đang tập trung vào các lĩnh vực độc quyền. Trong các ngành giải trí, dịch vụ máy tính và trang trí kiến trúc, không có tập đoàn doanh nghiệp quốc doanh hoặc doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối. Ở một số ngành có mức độ thị trường hóa cao, cạnh tranh khốc liệt, tỷ trọng của các tập đoàn doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối tương đối thấp, như ngành chế biến gỗ, may mặc và lắp đặt xây dựng thấp hơn 10%, ngành dệt may, chế biến nông sản, sản phẩm nhựa, sản xuất sợi hóa học chiếm chưa đầy 1/3. Thế nhưng trong ngành khai thác dầu khí, dịch vụ truyền tải thông tin viễn thông, khai thác và sàng tuyển than, hầu như toàn bộ đều bị các tập đoàn doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối chiếm lĩnh. Trong các ngành hoặc lĩnh vực then chốt liên quan đến huyết mạch kinh tế quốc gia như sản xuất và cung ứng điện, nhiệt, ngành vận tải, sản xuất thiết bị giao thông vận tải, tỷ trọng của các tập đoàn quốc doanh và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối cũng ở mức trên 90%. Từ năm 1998 đến 2005, lợi nhuận doanh nghiệp quốc doanh tăng vọt, từ 21,37 tỷ nhân dân tệ tăng lên 904,7 tỷ nhân dân tệ, chỉ trong 7 năm đã tăng 42,3 lần, tổng lợi nhuận tích lũy vượt 4 nghìn tỷ nhân dân tệ. Nhìn vào đó, bế tắc về hiệu quả doanh nghiệp quốc doanh không những được giải tỏa hoàn toàn, mà còn thể hiện sự cường thịnh chưa từng có.
Ngày 12 tháng 7, tạp chí "Fortune" của Mỹ công bố danh sách "500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới" năm 2006, có tổng cộng 22 doanh nghiệp Trung Quốc lọt vào. Sinopec từ vị trí 31 lên 23, đứng đầu trong các doanh nghiệp Trung Quốc; Tập đoàn Lưới điện Quốc gia từ vị trí 40 lên 32; PetroChina từ vị trí 46 lên 39. Tờ "China Youth Daily" trong bài bình luận có tiêu đề "Các doanh nghiệp nội địa lọt vào danh sách '500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới' thật đáng xấu hổ" cho rằng: "Một doanh nghiệp phát triển đến mức độ nào thì có thể gọi là mạnh? Theo tôi, 'doanh nghiệp mạnh' ít nhất phải có các yếu tố sau: năng lực lợi nhuận bền vững và thượng hạng, chiếm vị trí dẫn đầu ngành thông qua cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh cốt lõi, đội ngũ nhân tài tinh gọn và chất lượng cao, năng lực sáng tạo mạnh mẽ, quy chế quản lý kiện toàn, năng lực chống rủi ro, trình độ quốc tế hóa, độ nhận diện thương hiệu cao. Theo các tiêu chuẩn này, chúng ta gần như có thể khẳng định không cần suy nghĩ: 22 doanh nghiệp Trung Quốc lọt vào danh sách 500 doanh nghiệp mạnh này, số có thể gọi là 'mạnh' chỉ đếm trên đầu ngón tay."
Tuy nhiên, đối với cảnh tượng này, cũng có những kết luận quan sát khác. Chủ nhiệm SASAC Lý Vinh Dung cho rằng: "Trong các ngành dầu khí, viễn thông, điện lực hầu như không có độc quyền." Ngày 22 tháng 12 năm 2005, tại buổi họp báo do Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện tổ chức, ông nói: "Một trong những nguyên nhân quan trọng của cục diện tốt đẹp như vậy chính là cạnh tranh, cũng có thể nói trong các ngành này của chúng ta hầu như không có nhà nào độc quyền. Thực tế, dầu khí, viễn thông, điện lực đã hình thành một cục diện cạnh tranh cơ bản, hơn nữa tài sản chính của các doanh nghiệp này đều nằm ở các công ty niêm yết. Nói chính xác hơn, cổ phần của chúng đã đa dạng hóa, xã hội hóa."
Khi Khương Kiến Thanh phấn khích nói trên sàn chứng khoán Hong Kong rằng "vô cùng vô cùng hài lòng, vô cùng vô cùng thành công", đứng sau ông là một nhóm các nhà quản lý quỹ người Mỹ với nụ cười rạng rỡ. Tờ "Wall Street Journal" trong một bài bình luận đã viết đầy ghen tị: "Mở bảng báo cáo lợi nhuận kinh doanh của hai năm nay, một nửa số nhà quản lý ở Wall Street kiếm tiền giỏi nhất đều liên quan đến Trung Quốc. Một sự thật không thể chối cãi là, các chủ ngân hàng đầu tư này ở Trung Quốc không phải chỉ kiếm được rất nhiều tiền, mà là đã kiếm đi gần như tất cả tiền."
Nếu nói trước năm 2001, sự đãi ngộ siêu quốc gia của tư bản quốc tế tại Trung Quốc chủ yếu thể hiện ở ưu đãi thuế, quyền ưu tiên thâm nhập ngành, thì sau đó, thành quả lớn nhất của họ là được ưu tiên tham gia vào quá trình thị trường hóa vốn của các doanh nghiệp độc quyền quốc doanh. Chúng ta đã mô tả cảnh tượng liên doanh trong ngành năng lượng vào năm 2002, còn những năm gần đây, sự trục lợi tư bản quy mô lớn hơn đã xảy ra trong lĩnh vực tài chính.
Công cuộc tái tạo thị trường hóa các ngân hàng quốc doanh của Trung Quốc bắt đầu từ cuối thế kỷ 20. Năm 1998, Bộ Tài chính phát hành 270 tỷ nhân dân tệ trái phiếu chính phủ đặc biệt để bơm vốn cho bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn là Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Công thương và Ngân hàng Giao thông; năm 1999, bốn ngân hàng này được phép tách bỏ 1,4 nghìn tỷ nhân dân tệ nợ xấu. Tuy nhiên, lần "truyền máu" và tách bỏ nợ xấu đầu tiên này đã không giúp tình trạng kinh doanh và vốn của các ngân hàng được cải thiện triệt để. Cho đến tận năm 2002, Ngân hàng Công thương - đơn vị sau này trở thành ngân hàng lớn nhất thế giới - vẫn phải thừa nhận trong báo cáo thường niên rằng, tỷ lệ an toàn vốn chỉ đạt 5,54%, tổng nợ xấu là 759,8 tỷ nhân dân tệ, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ vỏn vẹn 178,2 tỷ nhân dân tệ. Theo thỏa thuận của WTO, Trung Quốc sẽ mở cửa toàn diện nghiệp vụ nhân dân tệ vào năm 2006, vì vậy, việc hoàn thành cải cách ngân hàng trước thời điểm đó đã bước vào giai đoạn đếm ngược. Do đó, vào tháng 12 năm 2003, Quốc vụ viện quyết định sử dụng 45 tỷ USD dự trữ ngoại hối để bơm vốn cho Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng, năm 2005 lại tiếp tục dùng 15 tỷ USD dự trữ ngoại hối quốc gia để cấp vốn cho Ngân hàng Công thương. Chính nhờ sự đầu tư nguồn lực quốc gia khổng lồ và mạnh mẽ này, bốn ngân hàng lớn bỗng chốc trở nên "đẹp đẽ" lạ thường: tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 đều đạt hoặc vượt 8%, tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh xuống dưới 5%, gánh nặng lịch sử cơ bản được trút bỏ, chất lượng bảng cân đối kế toán được cải thiện rõ rệt.
Tiếp theo đó, bốn ngân hàng lớn sau khi hóa thân thành "giai nhân" đã liên tục xuất ngoại "roadshow" (quảng bá), tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược quốc tế, sau khi tái cơ cấu tài sản thì mưu cầu niêm yết. Năm 2006 và 2007 là "năm niêm yết ngân hàng", hầu hết các ngân hàng quan trọng đều lần lượt lên sàn trong giai đoạn này. Những định chế tài chính quốc tế nhanh chân đến trước đã thu được lợi nhuận kinh ngạc, tạo nên một "thời hoa lệ" không bao giờ lặp lại trong lịch sử.
Tháng 5, Ngân hàng Giao thông niêm yết tại Hồng Kông, ngân hàng HSBC của Anh bỏ ra 14,461 tỷ nhân dân tệ để mua 9,115 tỷ cổ phiếu, nắm giữ 19,9% cổ phần, mỗi cổ phiếu giá 1,86 nhân dân tệ. Đến giữa năm 2007, giá thị trường của Ngân hàng Giao thông tiệm cận 10 đô la Hồng Kông, HSBC lãi ròng hơn 80 tỷ nhân dân tệ. Năm 2007, Ngân hàng Giao thông phát hành niêm yết cổ phiếu A, HSBC lại kiếm thêm hơn 10 tỷ nhân dân tệ, tổng cộng lãi gần 90 tỷ nhân dân tệ, đạt tỷ suất hoàn vốn hơn 6 lần. Ngoài ra, cần lưu ý rằng giá phát hành trong nước của cổ phiếu này là 7,9 nhân dân tệ, cao gấp 4,25 lần giá mua của nhà đầu tư nước ngoài. Tháng 6, ngân hàng lớn thứ hai Trung Quốc là Ngân hàng Trung Quốc niêm yết tại Hồng Kông, Ngân hàng Hoàng gia Scotland, Temasek Holdings của Singapore, Tập đoàn UBS và Ngân hàng Phát triển Châu Á đã mua gần 20% cổ phần với giá 5,175 tỷ USD, giá mua là 1,22 nhân dân tệ mỗi cổ phiếu. Sau khi niêm yết, tính theo giá thị trường ngày 7 tháng 9 năm 2007, giá trị vốn hóa cao nhất đạt 233,5 tỷ nhân dân tệ, bốn công ty nước ngoài lãi ròng 193,2 tỷ nhân dân tệ, lợi nhuận đầu tư đạt 4,8 lần. Giá phát hành trong nước của Ngân hàng Trung Quốc là 3,08 nhân dân tệ, cao gấp 2,52 lần giá mua của nước ngoài. Ngân hàng Công thương Trung Quốc niêm yết vào tháng 10 cũng cho thấy viễn cảnh tương tự, Tập đoàn Goldman Sachs của Mỹ, Tập đoàn Allianz của Đức và Công ty American Express của Mỹ đã chi 3,78 tỷ USD để mua khoảng 10% cổ phần, giá mỗi cổ phiếu là 1,16 nhân dân tệ. Sau khi niêm yết vào năm đó, tính theo giá thị trường ngày 15 tháng 8 năm 2007, giá trị vốn hóa cao nhất đạt 231,3 tỷ nhân dân tệ, ba công ty nước ngoài lãi ròng 201,8 tỷ nhân dân tệ, lợi nhuận đầu tư trong chưa đầy một năm đạt 6,84 lần. Giá phát hành trong nước của cổ phiếu này là 3,12 nhân dân tệ, cao gấp 2,69 lần giá phát hành cho nước ngoài. Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc niêm yết tại Hồng Kông vào tháng 10 năm 2005 đã phát hành cổ phiếu định hướng cho Bank of America và công ty Temasek của Singapore với giá 3,966 tỷ USD trước khi niêm yết, chiếm 14,1% tổng vốn cổ phần, giá mỗi cổ phiếu khoảng 0,94 đô la Hồng Kông. Giá phát hành khi niêm yết của Ngân hàng Xây dựng là 2,35 đô la Hồng Kông. Tháng 9 năm 2007, Ngân hàng Xây dựng quay trở lại niêm yết cổ phiếu A trong nước, giá trị vốn hóa cổ phần của hai công ty nước ngoài đạt 293,2 tỷ nhân dân tệ, tổng cộng kiếm được hơn 260 tỷ nhân dân tệ.
Ngoài bốn ngân hàng quốc doanh lớn kể trên, việc tái cơ cấu vốn của các ngân hàng quy mô trung bình cũng diễn ra tương tự. Cũng trong năm đó, Ngân hàng Hưng Nghiệp thông báo bán định hướng 2,7 tỷ cổ phiếu cho Ngân hàng Hằng Sinh Hồng Kông, Tân Chính Thái Đạt Singapore và Công ty Tài chính Quốc tế, giá bán mỗi cổ phiếu là 2,7 nhân dân tệ. Tháng 2 năm 2007, Ngân hàng Hưng Nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải, giá cổ phiếu trong ngày đạt 62,8 nhân dân tệ, ba công ty nước ngoài lãi ròng khoảng 60 tỷ nhân dân tệ. Giá phát hành trong nước của ngân hàng này là 15,98 nhân dân tệ/cổ phiếu, cao gấp 5,92 lần giá mua của nhà đầu tư nước ngoài. Tháng 4 năm 2006, Deutsche Bank và Ngân hàng Sal. Oppenheim đã chi 2,6 tỷ nhân dân tệ để mua khoảng 587,2 triệu cổ phiếu của Ngân hàng Hoa Hạ, chiếm 14% tổng số cổ phần, giá mỗi cổ phiếu là 4,5 nhân dân tệ; tính theo giá trị thị trường tháng 9 năm 2007, lãi ròng 11,2 tỷ nhân dân tệ. Hơn nữa, hai định chế đa quốc gia này đã vượt qua Tập đoàn Thủ Cương để trở thành cổ đông lớn nhất của Ngân hàng Hoa Hạ, đây cũng là ngân hàng Trung Quốc đầu tiên bị vốn nước ngoài thực tế nắm quyền kiểm soát.
Cuộc cải cách trọng đại của Chính phủ Trung Quốc đối với hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh đồ sộ được coi là "đã áp dụng phương thức và con đường cải cách hoàn toàn mới chưa từng thử nghiệm". Giống như mọi hành vi cải cách trước đó, nó cũng dẫn đến những tranh luận với quan điểm đối lập gay gắt. Một số chuyên gia bày tỏ sự hoài nghi mạnh mẽ, cho rằng mô hình tái tạo ngân hàng này có nhiều nghi vấn như "dùng tài sản quốc gia để tắm rửa cho ngân hàng thương mại", "ngân hàng quốc doanh bị bán rẻ", "nhập khẩu nhà đầu tư chiến lược nhưng từ chối vốn nội địa". Tuy nhiên, tất cả các ngân hàng đã thu hút vốn quốc tế đều đồng thanh cho rằng, "sau khi đưa vào các nhà đầu tư chiến lược quốc tế thành công, cấu trúc quản trị đã được tăng cường mạnh mẽ, khiến chúng thực sự trở thành các ngân hàng thương mại hiện đại có sức cạnh tranh quốc tế". Đầu năm, Hồ Tổ Lục, Giám đốc điều hành kiêm chuyên gia kinh tế của Tập đoàn Goldman Sachs, đã đích thân tham gia vào cuộc tranh luận. Ông viết bài trên tờ "Kinh tế Quan sát Báo" cho rằng, "nhà đầu tư chiến lược quốc tế đã mang lại lợi ích ngắn hạn rõ rệt và hiệu ứng "gia tăng giá trị" tiềm năng trong trung và dài hạn cho các ngân hàng Trung Quốc, vì vậy việc nhà đầu tư chiến lược chia sẻ một phần "phần chênh lệch giá" trong tương lai thông qua mức giá vào cửa thấp hơn là một cuộc "mua bán công bằng" hợp tình hợp lý, không hề có vấn đề bán rẻ tài sản quốc gia". Đối với nghi vấn "không mở cửa cho vốn dân doanh", phản hồi của Hồ Tổ Lục càng trực diện hơn: "Trung Quốc có nhà đầu tư tư nhân nào có kinh nghiệm và uy tín quốc tế như HSBC, Citibank hay Goldman Sachs không?". Vì vậy, "những định chế này có ưu thế rõ ràng, chúng có thể mang lại trực tiếp sản phẩm kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của ngân hàng thương mại, cũng phù hợp với quan niệm "môn đăng hộ đối" trong văn hóa truyền thống Trung Quốc". Ông còn viết với giọng điệu rất nhẹ nhàng rằng, "thực ra, chỉ cần đôi bên cùng hài lòng, hợp tác vui vẻ, cuối cùng có thể làm tăng giá trị công ty, thì hà tất phải bàn tán, can thiệp vào việc lựa chọn nhà đầu tư?"
Cơ sở lập luận của Hồ Tổ Lục là "dùng cổ phần đổi kinh nghiệm", điều này khá giống với luận điệu "dùng thị trường đổi kỹ thuật" năm xưa; sự thất bại của cái sau đã được kiểm chứng, còn hiệu quả của cái trước vẫn cần thời gian để quan sát. Trong hơn hai mươi năm qua, mỗi khi cải cách đi đến ngã ba đường, "con quái vật sở hữu" ẩn sâu trong logic cải cách kinh tế Trung Quốc luôn không thể tránh khỏi xuất hiện như một bóng ma, con người cứ hết lần này đến lần khác dao động giữa các cuộc tranh luận về hiệu quả và công bằng, đột phá và cái giá phải trả, sáng tạo và phân phối.
So với sự tiến quân thần tốc của vốn quốc doanh và sự tung hoành của vốn đa quốc gia, vốn dân doanh với địa vị yếu thế lại tỏ ra lép vế hơn nhiều.