Chính sách hỗ trợ của nhà nước dành cho 6 "hạt giống" bao gồm việc mỗi năm rót không dưới 20 triệu nhân dân tệ vào mỗi công ty dưới dạng quỹ đổi mới công nghệ, cho phép doanh nghiệp thành lập các công ty tài chính có chức năng huy động vốn công chúng. Mục tiêu học tập của chính sách này là mô hình tài phiệt của Nhật Bản và Hàn Quốc, mà hình mẫu cụ thể chính là tập đoàn Đại Vũ (Daewoo) của Hàn Quốc – đơn vị có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Á thời bấy giờ. Đại Vũ do Kim Vũ Trung sáng lập vào năm 1967, khởi đầu chỉ là một công ty thương mại nhỏ với số vốn đăng ký vỏn vẹn 10.000 USD. Năm 1976, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee, người từng theo học dưới trướng cha của Kim Vũ Trung, quyết định hỗ trợ Đại Vũ bằng cách chuyển giao một nhà máy sản xuất máy móc hạng nặng quốc doanh đã thua lỗ suốt 37 năm cho tập đoàn này. Kim Vũ Trung chỉ mất một năm để vực dậy, biến nó từ lỗ thành lãi. Chính phủ Hàn Quốc sau đó đã giao thêm nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả như nhà máy đóng tàu, nhà máy sản xuất ô tô cho Kim Vũ Trung quản lý, đồng thời cấp phép đặc biệt cho Đại Vũ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. Chẳng bao lâu, dựa vào mô hình "kinh doanh hỗn hợp" giữa chế tạo và tài chính, Đại Vũ đã vượt lên dẫn đầu, nhanh chóng trở thành một tập đoàn đa ngành có quy mô đáng kinh ngạc. Năm 1993, Kim Vũ Trung đưa ra khẩu hiệu "Kinh doanh thế giới", toàn diện đặt chân vào các lĩnh vực trọng yếu như ô tô, đóng tàu, tivi, linh kiện hàng không, cáp quang viễn thông, đồng thời thiết lập nhiều nhà máy tại Ba Lan, Ukraine, Iran, Việt Nam, Ấn Độ và các quốc gia khác. Năm 1995, Đại Vũ được tạp chí "BusinessWeek" của Mỹ bình chọn là doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Vào thời kỳ hoàng kim, Đại Vũ đã thuê 320.000 nhân công tại 110 quốc gia. Cuốn tự truyện "Khuông thế vĩ nghiệp" do Kim Vũ Trung chắp bút được dịch ra 21 thứ tiếng, bán chạy trên toàn cầu, riêng tại Hàn Quốc đã phát hành 2 triệu bản. Huyền thoại Đại Vũ khiến giới kinh doanh Trung Quốc vô cùng ngưỡng mộ; nó cho người ta thấy một lộ trình lớn mạnh nhanh chóng dưới sự hỗ trợ toàn lực của chính phủ, thông qua mô hình "kinh doanh hỗn hợp" giữa thực nghiệp và tài chính. Trong mắt nhiều người, đây là mô hình mang đậm màu sắc phương Đông, hoàn toàn có thể "cấy ghép" vào Trung Quốc. Tại giới kinh tế học và cấp hoạch định chính sách trong nước thời bấy giờ, việc bồi dưỡng ra một số tập đoàn siêu lớn có thể lọt vào "Top 500 thế giới" gần như đã trở thành một nhận thức chung. Người ta tin rằng, kiểu doanh nghiệp tài phiệt dạng hàng không mẫu hạm, quy mô khổng lồ và bao trùm mọi lĩnh vực này là mô hình tốt nhất để chống chọi với rủi ro cạnh tranh quốc tế, đồng thời cũng là biểu tượng cho sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc.
Viễn cảnh tươi đẹp về việc lọt vào "Top 500 thế giới" cùng sự bắt chước "Mô hình Đại Vũ" đã đẩy làn sóng đa dạng hóa đang lên cao trào lên một đỉnh điểm mới. Năm 1996 là một trong những năm đầy nhiệt huyết nhất trong lịch sử 30 năm của doanh nghiệp. Mỗi ngành nghề đều tràn ngập vô số cơ hội kinh doanh, tất cả mọi người đều trở nên không thể chờ đợi thêm nữa: mở rộng, lại mở rộng; các doanh nhân lúc bấy giờ vẫn còn lâu mới học được cách kiểm soát dục vọng của chính mình. Thực tế sau này sẽ chứng minh, trong làn sóng đa dạng hóa, những doanh nhân đánh mất lý trí và khả năng kiểm soát đều sẽ phải tự gánh chịu hậu quả.
Triệu Tân Tiên của tập đoàn Tam Cửu là một trong những doanh nhân sớm đánh hơi thấy cơ hội kinh doanh ẩn chứa trong chiến lược "nắm giữ cái lớn, buông bỏ cái nhỏ". Vào mùa hè, ông nói với thuộc cấp: "Xã hội có quá nhiều tài sản nhàn rỗi, đây là cơ hội tuyệt vời để Tam Cửu 'xuống núi hái đào', tuyệt đối không được bỏ lỡ, qua thôn này sẽ không còn cái tiệm này nữa." Tam Cửu khi đó là doanh nghiệp dược phẩm Đông y có hiệu quả kinh tế tốt nhất Trung Quốc. Năm 1985, Triệu Tân Tiên, khi đó là chủ nhiệm dược cục của Bệnh viện Nam Phương thuộc Đại học Quân y số 1 Quảng Châu, được lệnh đến núi Bút Giá ở ngoại ô Thâm Quyến để sáng lập doanh nghiệp này. Ông đã xây dựng dây chuyền sản xuất thuốc Đông y tự động hóa đầu tiên của Trung Quốc, nghiên cứu ra "Tam Cửu Vị Thái" có hiệu quả trị liệu rất tốt đối với bệnh viêm dạ dày mãn tính. Hiệu quả doanh nghiệp tăng gấp bội qua từng năm, đến cuối năm 1988 đã đạt giá trị sản lượng 1,8 tỷ nhân dân tệ, nộp ngân sách 400 triệu nhân dân tệ, đứng thứ 82 trong 500 doanh nghiệp công nghiệp lớn nhất cả nước. Tổng cục Hậu cần Quân Giải phóng Nhân dân đã trao tặng Triệu Tân Tiên danh hiệu "Doanh nhân quân đội ưu tú", cấp một huân chương anh hùng kiểu mẫu hạng hai, đồng thời ban hành "Quyết định về việc học tập đồng chí Triệu Tân Tiên" trong toàn quân. Năm 1996, khi biết được qua nhiều kênh tin tức rằng Trung ương sắp triển khai chiến lược "nắm giữ cái lớn, buông bỏ cái nhỏ", Triệu Tân Tiên đã vô cùng nhạy bén nhận ra đây là cơ hội ngàn năm có một để doanh nghiệp mở rộng quy mô thần tốc.
Lần "xuống núi hái đào" đầu tiên của Tam Cửu đã thành công mỹ mãn. Nhà máy Dược phẩm Nhã An ở Tứ Xuyên là một trong những đơn vị sản xuất thuốc tiêm Đông y sớm nhất cả nước. Đến cuối năm 1995, doanh nghiệp quốc doanh lão làng này đã rơi vào tình cảnh đường cùng, giá trị sản lượng cả năm chỉ hơn 10 triệu nhân dân tệ, lợi nhuận vỏn vẹn 20.000 nhân dân tệ. Triệu Tân Tiên phát hiện ra doanh nghiệp này trong một chuyến công tác, lập tức quyết định đầu tư 17 triệu nhân dân tệ để thu mua, đồng thời cử những cán bộ đắc lực nhất vào Tứ Xuyên điều hành. Sau khi người của Tam Cửu tiếp quản, việc đầu tiên là phát cho mỗi nhân viên một cuốn "Luận về cơ chế Tam Cửu" do Triệu Tân Tiên biên soạn, các tổ nhóm học tập thảo luận trong hai tuần, sau đó áp dụng quản lý thị trường hóa "cán bộ có thể lên có thể xuống, nhân viên có thể vào có thể ra, lương có thể cao có thể thấp". Thuốc tiêm của nhà máy Nhã An được dán nhãn hiệu Tam Cửu, thông qua mạng lưới marketing của Tam Cửu để vươn ra thị trường toàn quốc. Chỉ một năm sau, giá trị sản lượng đã đạt 100 triệu nhân dân tệ, lợi nhuận nộp ngân sách đạt hơn 20 triệu nhân dân tệ. Hiệu quả của việc sáp nhập vượt xa sự mong đợi của tất cả mọi người. ① Về việc dựa vào ưu thế thể chế để sáp nhập doanh nghiệp, ví dụ nổi tiếng nhất chính là "Lý thuyết cá sốc điện" của Trương Thụy Mẫn thuộc Hải Nhĩ. "Cá sốc điện" chỉ những con cá mà cơ thể chưa bị phân hủy, phần cứng của doanh nghiệp rất tốt, nhưng thể chế, quản lý và tư duy của doanh nghiệp lại có vấn đề, dẫn đến kinh doanh đình trệ, rơi vào trạng thái sốc. Vì vậy, một khi doanh nghiệp loại này được tiêm vào tư duy quản lý mới cùng một bộ phương pháp quản lý hiệu quả, chúng có thể nhanh chóng được kích hoạt. Dựa vào "Lý thuyết cá sốc điện", từ năm 1988 đến 1996, Hải Nhĩ đã sáp nhập 19 doanh nghiệp thua lỗ.
Sự thành công của kinh nghiệm Nhã An lập tức khiến Triệu Tân Tiên đầy ắp tham vọng. Ông cho rằng, mọi căn bệnh kinh niên của các doanh nghiệp quốc doanh cũ đều do thể chế gây ra, chỉ cần tiêm vào cơ chế và thương hiệu của Tam Cửu, cộng thêm một lượng vốn khởi động vừa đủ, hoàn toàn có thể khiến chúng "cây sắt nở hoa" chỉ sau một đêm. Cuối năm 1996, Tam Cửu tổ chức hội nghị học tập kinh nghiệm Nhã An. Sau hội nghị, Triệu Tân Tiên tuyên bố thành lập Công ty Quản lý Đầu tư Tam Cửu, cử hơn 60 cán bộ tỏa đi khắp cả nước để chuyên tâm vào công tác thu mua và sáp nhập.