Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 421 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhân vật lịch sử doanh nghiệp: Vụ huy động vốn của Đại Ngọ

❊ ❊ ❊

Khi Tôn Đại Ngọ đã trở thành triệu phú, có lần ông dẫn một nhóm khách đi tham quan khuôn viên doanh nghiệp. Cách đó không xa, một ông lão ăn mặc giản dị đang chật vật cõng một chiếc sọt tre lớn để nhặt rác thải. Trong một căn nhà cấp bốn đơn sơ, một bà cụ tóc bạc trắng đang nhóm lửa bằng củi nhặt được, nấu cơm nông gia trong chiếc nồi sắt lớn. Tôn Đại Ngọ bình thản giới thiệu: "Họ là cha mẹ tôi". Những người nghe thấy đều kinh ngạc. Đây là một doanh nhân rất khác biệt. Năm 2003, ông bị bắt vì tội huy động vốn trái phép, gây ra cuộc thảo luận lớn trong dư luận, đó chính là "Sự kiện Tôn Đại Ngọ" chấn động một thời.

Tôn Đại Ngọ sinh ra tại huyện Từ Thủy, tỉnh Hà Bắc, một huyện nghèo hẻo lánh ít người biết đến. Vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, huyện nhỏ này từng nổi danh vì là nơi đầu tiên dấy lên "phong trào thổi phồng" trên cả nước. Gia đình Tôn vô cùng nghèo khó, cha mẹ sống bằng nghề nhặt rác. Khi còn nhỏ, đi học không mua nổi đồ dùng học tập, cha ông nhặt giấy vệ sinh người khác đã dùng trong nhà xí, cắt lấy những góc sạch để làm vở cho ông luyện chữ. Năm 16 tuổi, Tôn Đại Ngọ nhập ngũ, sau khi xuất ngũ từng làm trưởng phòng nhân sự tại Ngân hàng Nông nghiệp huyện. Từ năm 1985, vợ của Tôn Đại Ngọ thầu một mảnh đất nghĩa địa ở phía tây bắc ngôi làng quê nhà, bắt đầu thử nghiệm chăn nuôi. Ba năm sau, ông từ chức "xuống biển" kinh doanh, dần dần phát triển từ chăn nuôi sang mở nhà máy thức ăn chăn nuôi. Đến khoảng năm 2000, Tập đoàn Nông mục Đại Ngọ đã sở hữu 16 nhà máy và một trường học, thời kỳ huy hoàng nhất, giá trị sản xuất hàng năm vượt quá 100 triệu tệ.

Vốn lớn lên trong cảnh nghèo khó, Tôn Đại Ngọ có tình cảm tự nhiên với những người nghèo. Ông là một tín đồ kiên định của "Công xã nhân dân". Tập đoàn Đại Ngọ do ông sáng lập không hẳn là một doanh nghiệp, mà giống một khu thử nghiệm "Utopia" hơn. Nơi đây có nhà máy, công viên, trường học, bệnh viện, gánh vác toàn bộ cuộc sống của 1600 nhân viên. Ông gọi mô hình này là "lao động tương hỗ": thức ăn chăn nuôi có thể nuôi gà, phân gà và phân lợn có thể tạo ra khí biogas để ấp trứng; công nhân có thể thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp thứ ba như cửa hàng, nhà hàng; bệnh viện và trường học không những đáp ứng nhu cầu của công nhân và dân làng gần đó, mà còn tạo ra không gian lao động mới. Tại bệnh viện Đại Ngọ, nhân viên và dân làng mỗi tháng chỉ cần 1 tệ là có thể hưởng chế độ y tế hợp tác, thực hiện một lần kiểm tra toàn diện bao gồm siêu âm, xét nghiệm máu v.v... chỉ tốn 10 tệ. Trước cổng Tập đoàn Đại Ngọ, Tôn Đại Ngọ dán một câu đối tự viết: "An đắc thuần phong hóa lâm vũ, biến mộc nhân gian cộng hòa niên" (Mong sao gió thuần hóa mưa móc, tắm mát nhân gian năm cộng hòa). Từ những thực tiễn này, có thể thấy rõ bóng dáng của Công xã nhân dân năm nào. Dù là triệu phú, bản thân Tôn Đại Ngọ lại sống cuộc đời của một người theo chủ nghĩa hoài nghi, ông không có xe riêng, thậm chí không có lấy vài bộ quần áo tử tế, sống trong căn nhà cấp bốn thấp bé, cha mẹ ông vẫn sống bằng nghề nhặt rác. Trong cuộc sống hàng ngày, ông rất "keo kiệt", người đời gọi là "Tôn Đại Keo".

Việc đau đầu nhất khi điều hành doanh nghiệp đối với Tôn Đại Ngọ là không nơi nào cho vay vốn. Mặc dù từng làm việc trong ngân hàng, nhưng việc vay vốn vẫn vô cùng khó khăn. Sau này ông tiết lộ: "Doanh nghiệp tốt căn bản không vay được tiền, làm sao vay được chứ? Chắc là phải trích lại 10% - 15% tiền hoa hồng". Tôn Đại Ngọ với đầu óc đầy lý tưởng cũng từng có lần cúi đầu vì chuyện vay vốn. Một năm nọ, Tập đoàn Đại Ngọ muốn đầu tư một vườn nho rộng nghìn mẫu, cần vay 6 triệu tệ. Lúc đó, có người khuyên Tôn Đại Ngọ nên đi cửa sau. Tôn Đại Ngọ bị thuyết phục, mang 10.000 tệ đến biếu lãnh đạo tín dụng địa phương. Tuy nhiên, 10.000 tệ không giải quyết được việc, Tôn rất tức giận, nhất quyết đòi lại 10.000 tệ đó, cuối cùng chỉ đòi lại được 6.000 tệ. Kể từ đó, Tôn hoàn toàn tuyệt giao với tổ chức tín dụng địa phương. Để tự cứu mình, từ năm 1995, Tôn Đại Ngọ nghĩ đến việc huy động tiền từ người thân, Tập đoàn Đại Ngọ viết giấy vay nợ, cam kết trả một mức lãi suất nhất định. Mô hình này sau đó được áp dụng cho nhân viên của Đại Ngọ. Trong 1.300 nhân viên của Đại Ngọ, có hơn 900 người cho Tập đoàn Đại Ngọ vay tiền - hay nói cách khác là gửi tiền vào đó. Người thân của những nhân viên này lại mang đến thêm 1.000 chủ hộ tiết kiệm, rồi cứ thế truyền tai nhau, người gửi tiền dần mở rộng sang các ngôi làng lân cận, cuối cùng dần hình thành quy mô 4.600 hộ.

Tôn Đại Ngọ đặt cho mô hình huy động vốn này một cái tên mới: "Hợp tác xã tương trợ tài chính". Truyền thông mô tả tình hình vận hành của hợp tác xã như sau: Tập đoàn Đại Ngọ có đội ngũ nhân viên nghiệp vụ chuyên biệt, họ bán sản phẩm của công ty ở các làng lân cận, đồng thời kiêm nhiệm nhiệm vụ "huy động vốn", nhà nào có tiền muốn gửi có thể tìm trực tiếp đến họ. Chính quyền địa phương vì thế nghi ngờ họ thiết lập hơn 10 "điểm huy động vốn" cho Tập đoàn Đại Ngọ. Chứng từ mà Tập đoàn Đại Ngọ để lại cho người gửi tiền là giấy vay nợ thống nhất. Tiền gửi chia làm hai loại: không kỳ hạn không có lãi suất, có kỳ hạn được hưởng 3,3% lãi suất hàng năm, không khấu trừ thuế lãi suất, gần bằng gấp đôi lãi suất cơ bản thời bấy giờ. Hơn nữa, bất kể số tiền bao nhiêu đều nhận, khoản tiền gửi đơn lẻ lớn nhất lên tới hơn 400.000 tệ, thấp nhất chưa đến 1.000 tệ. Tại thôn Lang Ngũ Trang nơi Tập đoàn Đại Ngọ tọa lạc, hầu như nhà nào cũng gửi tiền vào Tập đoàn Đại Ngọ. Số tiền này có thể rút ra bất cứ lúc nào, có gia đình nửa đêm người nhà bị bệnh cần tiền gấp cũng có thể rút được. Trong 8 năm từ 1996 đến 2003, giữa người gửi tiền và Tập đoàn Đại Ngọ không xảy ra tranh chấp tín dụng nào. Ngày 27 tháng 5 năm 2003, Tôn Đại Ngọ bị bắt với tội danh "huy động vốn trái phép từ công chúng".

Một bối cảnh quốc gia cần được nhắc tới là sau năm 2000, các ngân hàng quốc doanh tiến hành cải cách thương mại. Thị trường nông thôn vốn bị coi là có chi phí vận hành cao và khả năng sinh lời kém đã bị bỏ rơi trên diện rộng. Trong nhiều năm qua, Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Công thương đảm nhận các dịch vụ như cho vay xóa đói giảm nghèo và cho vay bảo lãnh nhỏ, có tính xã hội và "tính công cộng" nhất định. Tuy nhiên, cùng với việc thu hẹp các điểm giao dịch ngân hàng, các vùng nông thôn rộng lớn đã trở thành điểm mù tài chính. Tháng 3 năm 2002, Tân Hoa Xã trong một bài báo có tiêu đề "Ngân hàng thương mại vứt bỏ gánh nặng nghèo khó" đã tiết lộ rằng, từ năm 1999, bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn bắt đầu công tác sáp nhập và giải thể cơ quan quy mô lớn, tổng cộng đã giải thể hơn 30.000 mạng lưới và chi nhánh. Rút khỏi các khu vực kém phát triển, tập trung nguồn lực ưu thế để tiến vào các thành phố lớn và khu vực kinh tế phát triển đã trở thành hành động thống nhất của bốn ngân hàng lớn nhằm tích hợp nguồn lực. Tiến sĩ Tiền Tiểu An, nghiên cứu viên tại Phòng nghiên cứu thuộc Ủy ban Công tác Tài chính Trung ương, cho rằng biện pháp sáp nhập cơ quan của bốn ngân hàng lớn phù hợp với hướng cải cách ngân hàng, phù hợp với nguyên tắc hiệu quả, có lợi cho việc tập trung hóa các dịch vụ tài chính.

Năm 2003, khi Tôn Đại Ngọ bị bắt, các khoản vay ngắn hạn của hệ thống doanh nghiệp phi quốc doanh trên cả nước - bao gồm doanh nghiệp hương trấn, doanh nghiệp tư nhân cá thể và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - chỉ chiếm 14,4% tổng dư nợ của các ngân hàng; việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ chiếm 1,3% tổng vốn huy động trực tiếp; trong hơn 3 triệu doanh nghiệp tư nhân trên cả nước, chỉ có 10% nhận được hỗ trợ tín dụng ngân hàng. Kênh huy động vốn hẹp và khó khăn trong việc vay vốn đã hạn chế nghiêm trọng sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân.

Chính trong bối cảnh đó, các "ngân hàng ngầm" mang tính dân sự đã hồi sinh. Sự kiện Tôn Đại Ngọ đã làm nổi bật lên sự khắc nghiệt và khó xử của thực tại.

Về tranh cãi tính hợp pháp của việc huy động vốn dân sự, từ các "ngân hàng ngầm" ở Ôn Châu vào những năm 80 của thế kỷ trước đã luôn tranh cãi không dứt, đến vụ án Tôn Đại Ngọ vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều. Có luật sư cho rằng: "Việc huy động vốn của Tập đoàn Đại Ngọ không có chiếm hữu bất hợp pháp, không có lãng phí xa hoa, mà chủ yếu dùng tiền để xây dựng trường trung học Đại Ngọ, tạo phúc cho làng xã; hơn nữa hành vi vay mượn này giới hạn trong phạm vi công nhân và dân làng có mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau với công ty, có phạm vi xác định chứ không phải là đại chúng xã hội không xác định. Do đó, đây nên là hành vi cho vay dân sự hợp pháp". Trong khi đó, Giáo sư Thi Thiên Đào của Đại học Thanh Hoa, chuyên nghiên cứu về luật thương mại, lại khẳng định hành vi của Tôn Đại Ngọ "nên thuộc về phạm vi vi phạm pháp luật", bởi vì "dù có gây ra tác hại gì hay không, đây đều là việc không được phép làm". Nhà kinh tế học lão làng Mao Vu Thức đã chạy đôn chạy đáo vì vụ án Tôn Đại Ngọ, ông gọi đây là "vụ huy động vốn trái phép không có nạn nhân". Ông viết rằng, Tôn Đại Ngọ bề ngoài vi phạm quy định kiểm soát tài chính của Trung Quốc, nhưng thực tế, không những không làm hại bất kỳ ai mà ngược lại có rất nhiều người được hưởng lợi. Nếu hành vi xã hội như vậy bị coi là tội phạm, thì cần phải đặt câu hỏi liệu bản thân chế độ đó có đáng để sửa đổi hay không.

Dưới sự đưa tin rộng rãi của truyền thông, vụ án Tôn Đại Ngọ trở thành một trong những sự kiện thương mại chấn động nhất năm 2003. Tháng 11, sau khi bị giam giữ gần nửa năm, Tòa án địa phương Từ Thủy tuyên bố tội danh "huy động vốn trái phép từ công chúng" là thành lập, kết án Tôn Đại Ngọ 3 năm tù giam, án treo 4 năm. Ngày được thả, Đài truyền hình Trung ương cử phóng viên đến theo dõi phỏng vấn. Tại cửa nhà, người mẹ 85 tuổi ôm lấy đứa con trai 49 tuổi, nước mắt giàn giụa, Tôn Đại Ngọ mỉm cười an ủi. Quay người lại, có thuộc hạ báo tin rằng trong thời gian ông ở tù, hai đứa trẻ mồ côi mà ông nhận nuôi suýt bị đuổi khỏi trường vì không đóng nổi học phí. Nghe tin này, Tôn lập tức đỏ hoe mắt, hướng về ống kính truyền hình, lấy giấy lau nước mắt.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba