Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 396 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2005 Vùng nước sâu (2)

❊ ❊ ❊

Vào khoảng dịp Giáng sinh năm 2003, Lâm Đạt Phu, người thợ đóng giày 62 tuổi đến từ Ôn Châu, theo chân ông chủ đến thị trấn Elche ở miền Đông Tây Ban Nha để khảo sát thị trường. Trong khối Liên minh châu Âu (EU), Tây Ban Nha là quốc gia sản xuất giày dép lớn thứ hai chỉ sau Ý, còn Elche chính là cái nôi của ngành công nghiệp đóng giày nước này. Lâm Đạt Phu nhận thấy giày Ôn Châu đang chiếm ưu thế rất lớn tại đây, đã chiếm lĩnh hơn 80% thị phần. Với cùng một phân khúc giày da, giá giày Trung Quốc thấp hơn giày nội địa từ 30% đến 50%. Ví dụ, một đôi bốt nữ do doanh nghiệp Trung Quốc sản xuất có giá 9,8 Euro, trong khi doanh nghiệp Tây Ban Nha phải bán ít nhất 20 Euro. Ông chủ của Lâm Đạt Phu rất phấn khởi, gọi điện cho phóng viên báo chí tại Ôn Châu tuyên bố: "Giày Ôn Châu nhờ lợi thế về chất lượng và giá cả đã đánh bại hoàn toàn giày châu Âu, làm rạng danh đất nước, thật hả hê." Thế nhưng Lâm Đạt Phu lại không nghĩ vậy, ông thấy 60% nhà máy giày ở Elche đã phá sản, tỷ lệ thất nghiệp của công nhân tăng 30%. Đi đến đâu, người dân địa phương cũng nhìn những thương nhân Trung Quốc bận rộn và đắc ý bằng ánh mắt đầy oán hận. Trên chuyến bay về nước, người thợ già nói với ông chủ: "Tôi linh cảm sớm muộn gì cũng xảy ra chuyện." Vài tháng sau, chuyện đã xảy ra thật. Ngày 16 tháng 9 năm 2004, tại Elche bùng phát vụ bạo lực đốt giày Ôn Châu. Hàng trăm thợ đóng giày Tây Ban Nha xông vào cảng vận chuyển, thiêu rụi 16 container chứa đầy giày da Ôn Châu trị giá 1 triệu USD, ngoài ra còn đập phá một kho giày da. Một tuần sau, Elche lại bùng phát các cuộc biểu tình bài trừ thương nhân Trung Quốc, tại một thị trấn chỉ có 200 ngàn dân mà có tới hàng ngàn người xuống đường. Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc đã đưa tin về vụ việc này trong chương trình "Thời sự", gây chấn động cả nước.

Những người phản đối giày Ôn Châu còn có cả thợ đóng giày Ý. Theo thống kê của Liên đoàn Giày dép Ý, trong hai năm qua, có hơn 250 triệu đôi giày Trung Quốc tràn vào Ý, thị phần tăng vọt 700%, lượng nhập khẩu giày của nước này lần đầu tiên vượt qua lượng xuất khẩu. Đối với một quốc gia luôn lấy ngành đóng giày làm niềm tự hào, đây chẳng khác nào đòn giáng chí mạng. Dư luận Ý đổ lỗi mọi sự trì trệ cho giày Trung Quốc, cho rằng giày Trung Quốc dẫn đến sự sụp đổ của ngành đóng giày bản địa, khiến gần 8.000 công nhân ngành giày mất việc làm. Đến năm 2005, tâm lý bài trừ hàng hóa Trung Quốc này bắt đầu lan rộng khắp các nước châu Âu, EU thậm chí còn thiết kế một nhãn mác "Không sản xuất tại Trung Quốc" để xoa dịu các nhà sản xuất địa phương.

Các chuyên gia và quan chức Trung Quốc lại cố gắng hóa giải tình thế khó xử này từ lập trường của chính mình. Ngày 3 tháng 5 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Bạc Hy Lai vừa mới nhậm chức đã đến Paris, Pháp tham dự "Hội nghị hợp tác doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung - Pháp". Ngay trong những ngày đó, hơn 70 triệu mặt hàng dệt may bị tồn đọng tại các cảng lớn ở châu Âu, không thể thâm nhập thị trường EU. Ủy ban châu Âu quyết định điều tra và áp đặt lệnh trừng phạt đối với 9 loại hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc, truyền thông chính thống tại địa phương đều đưa tin theo hướng một chiều. Khi được hỏi về thái độ của chính phủ Trung Quốc, vị Bộ trưởng Bạc Hy Lai khéo ăn nói đã đưa ra ví dụ về biên lợi nhuận mỏng manh của hàng dệt may Trung Quốc: "Có lẽ quý vị chưa tính toán, Trung Quốc phải bán ra 800 triệu chiếc áo sơ mi mới có thể nhập khẩu một chiếc Airbus 380." Một số liệu liên quan cho thấy, trong hai năm qua, Trung Quốc đã mua 30 chiếc máy bay Airbus, trong đó có 5 chiếc "Airbus 380" đắt đỏ.

Các cuộc xung đột thương mại nổ ra liên tiếp. Ngay khi Bạc Hy Lai đang thương lượng với người châu Âu vì những chiếc áo sơ mi, Hàn Quốc lại gây khó dễ cho doanh nghiệp Trung Quốc vì kim chi. Tháng 9, các nghị sĩ Quốc hội Hàn Quốc khẳng định kim chi sản xuất tại Trung Quốc có dấu hiệu bán phá giá và chất lượng kém, yêu cầu thực hiện các biện pháp chống bán phá giá. Bộ Thương mại Trung Quốc ra mặt đàm phán với quan chức thương mại Hàn Quốc, tuy nhiên, ngay trên bàn đàm phán, Bạc Hy Lai lại nhận được một sự thật khiến ông không biết phải đối phó thế nào — 90% doanh nghiệp kim chi của Trung Quốc đều liên quan đến Hàn Quốc, hoặc là do thương nhân Hàn Quốc đầu tư, hoặc là họ tham gia góp vốn hay nắm quyền kiểm soát. "Rốt cuộc họ muốn gây khó dễ với ai?" Bạc Hy Lai hỏi.

Cuộc điều tra của phóng viên tờ "Tin tức Kinh tế Thế kỷ 21" cho thấy: Hóa ra trong vài năm qua, một lượng lớn doanh nghiệp Hàn Quốc đã chuyển cơ sở sản xuất đến Trung Quốc nơi có chi phí nguyên liệu và nhân công thấp hơn, hình thành các cơ sở sản xuất và xuất khẩu kim chi quy mô lớn tại Thanh Đảo, Thẩm Dương và Thành Đô. Dữ liệu cho thấy, năm 2001 Trung Quốc xuất khẩu sang Hàn Quốc chỉ có 393 tấn kim chi, nhưng đến năm 2004 đã đạt tới 72,6 ngàn tấn, tăng gấp 185 lần trong 4 năm, và đà này vẫn đang tiếp tục tăng. Việc kim chi giá rẻ tràn vào ồ ạt không chỉ khiến các công ty kim chi Hàn Quốc chưa chuyển sang Trung Quốc kêu trời, mà ngay cả giá các nông sản liên quan cũng giảm mạnh theo, chịu ảnh hưởng đầu tiên đương nhiên là cải thảo và củ cải - nguyên liệu chính của kim chi. Thế là, một số nghị sĩ đại diện cho lợi ích của nông dân đã phát động cuộc chiến thương mại nhắm vào kim chi Trung Quốc, trong khi đối thủ của họ thực chất lại là một nhóm người Hàn Quốc khác đang kinh doanh tại Trung Quốc. Điều đáng ngạc nhiên hơn là, sóng gió kim chi này đột ngột lắng xuống sau hai tháng, bởi vì những công ty Hàn Quốc khởi xướng sự việc phát hiện ra rằng, việc nghi ngờ chất lượng "kim chi Hàn Quốc sản xuất tại Trung Quốc" đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tiêu thụ kim chi trên thị trường quốc tế, tại các siêu thị ở Âu Mỹ, kim chi của cả Hàn Quốc và Trung Quốc đồng loạt bị gỡ khỏi kệ. Cuộc chiến thương mại xuyên biên giới đi đến mức này, quả thực khiến người ta dở khóc dở cười.

Làm thế nào để hàng hóa Trung Quốc đối phó với những sóng gió chống bán phá giá đầy vấn đề, đã trở thành bài toán khó mà các nhà kinh tế học Trung Quốc cần giải đáp. Tháng 9 năm đó, Giáo sư Hạng Binh, Viện trưởng Trường Kinh doanh Trường Giang, đã đưa ra một đề xuất táo bạo gây kinh ngạc — "Tại sao chúng ta không mua lại Walmart?" Theo tính toán của ông, cổ đông lớn nhất của nhà bán lẻ lớn nhất toàn cầu Walmart chỉ nắm giữ 3,51% cổ phần, năm cổ đông lớn nhất cộng lại cũng chỉ có giá trị thị trường khoảng 24 tỷ USD. Hạng Binh nói: "Bỏ ra 24 tỷ USD để trở thành cổ đông lớn nhất của một công ty đẳng cấp thế giới, để người khác làm việc cho mình, ý tưởng hay biết bao." Không gian tưởng tượng lớn nhất của ý tưởng kỳ lạ này nằm ở chỗ, nếu Walmart trở thành công ty Trung Quốc thì đương nhiên sẽ trở thành kênh phân phối tốt nhất cho hàng hóa Trung Quốc, cái gọi là chống bán phá giá tự nhiên sẽ được giải quyết êm đẹp. Theo lời Giáo sư Hạng Binh: "Mặc dù chúng ta không thể tuyệt đối yêu cầu Walmart phải thu mua hàng hóa Trung Quốc, nhưng với tư cách là cổ đông trong hội đồng quản trị, chúng ta ít nhất có thể tác động đến chiến lược thu mua của Walmart, khiến nhiều sản phẩm chủ lưu của Trung Quốc thâm nhập vào thị trường chính thống Âu Mỹ hơn." Một sự thật có thể củng cố quan điểm của Hạng Binh là, kể từ năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thu mua của Walmart Trung Quốc liên tục tăng mạnh, đến năm 2005 đã đạt gần 18 tỷ USD. Trong 6.000 nhà cung cấp toàn cầu của Walmart, doanh nghiệp Trung Quốc chiếm tới 80%! Đề xuất này của Hạng Binh có lẽ là ý tưởng kinh doanh táo bạo nhất, sáng tạo nhất và cũng gây tranh cãi nhất trong năm, nó thậm chí đã thu hút sự chú ý của tờ "New York Times". Phóng viên tờ báo này bình luận: "Đây có lẽ là một ý tưởng hay để một quốc gia gần như không có thương hiệu toàn cầu nhưng lại có số lượng sản phẩm khổng lồ, leo lên phía trên chuỗi giá trị." Đáng tiếc là, khi Hạng Binh cổ xúy đề xuất này tại nhiều diễn đàn và sự kiện, tất cả các quan chức đều mỉm cười gật đầu nhưng không đưa ra ý kiến, "ý tưởng hay" này dường như thiếu một "phương pháp hay" có thể thực hiện được.

Ngay khi hàng hóa Trung Quốc gặp rắc rối với việc chống bán phá giá ở nước ngoài, những thương hiệu đa quốc gia lừng lẫy tại Trung Quốc cũng có những ngày tháng không mấy dễ dàng, đây thực sự là một hình ảnh phản chiếu vô cùng thú vị. Kể từ năm 2005, P&G, Sony, Nestlé, Dell và những công ty quốc tế vốn được coi là hình mẫu học tập đều liên tiếp gặp khủng hoảng truyền thông tại Trung Quốc, có người vì thế mà gọi năm 2005 là "năm vấn đề" của các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc.

Ngày 7 tháng 3, người tiêu dùng Lữ Bình ở Nam Xương, Giang Tây đã kiện công ty hóa mỹ phẩm lớn nhất thế giới P&G vì quảng cáo sai sự thật về dòng mỹ phẩm cao cấp SK-II. Trong một cuốn cẩm nang sử dụng sản phẩm, P&G tuyên bố: "SK-II là công nghệ hiệu quả nhất hiện nay để đẩy lùi nếp nhăn và da thô ráp chảy xệ... xuất hiện kỳ tích sau 10 phút sử dụng, đẩy lùi rõ rệt nếp nhăn sau hai tuần, sử dụng liên tục 28 ngày, nếp nhăn giảm rõ rệt 47%, làn da trẻ ra 12 tuổi." Những từ ngữ này bị cho là vi phạm "Luật Quảng cáo". Vụ kiện nhanh chóng được truyền thông trong nước đưa tin rộng rãi. Khi đối mặt với sự việc, P&G thể hiện thái độ kiêu ngạo khó tin. Một mặt, họ đưa ra hàng loạt bằng chứng cho thấy SK-II thực sự có công dụng "trẻ ra 12 tuổi", mặt khác lại làm ngơ trước yêu cầu khởi kiện của người tiêu dùng, đồng thời ám chỉ họ "cố tình gây rối", "động cơ không thuần túy", đối với truyền thông thì giữ thái độ xa lánh, chỉ chịu thừa nhận là "định nghĩa chưa đủ rõ ràng", "mô tả chưa đủ toàn diện".

Cách xử lý này đã gây ra sự bất mãn và làn sóng tấn công từ đông đảo truyền thông, sau đó có phóng viên tiết lộ SK-II bị phát hiện chứa thành phần gây ăn mòn tại thị trường Nhật Bản, yêu cầu các cơ quan chức năng nhà nước phải kiểm tra xử lý. Ngày 14 tháng 9, Tổng cục Giám sát Chất lượng, Kiểm tra và Kiểm dịch Nhà nước thông báo, nhiều loại mỹ phẩm thuộc thương hiệu SK-II có nguồn gốc từ Nhật Bản bị phát hiện chứa các chất cấm là Chromium và Neodymium. P&G rơi vào cuộc khủng hoảng tín nhiệm chưa từng có. Ngày hôm sau, P&G ra tuyên bố khẳng định mình không sai, tuy nhiên "những người tiêu dùng có nhu cầu có thể làm thủ tục trả hàng tại các quầy hàng ủy quyền của SK-II". Đồng thời, họ yêu cầu người tiêu dùng phải đáp ứng bốn điều kiện: "Sản phẩm trả lại phải nằm trong phạm vi 9 loại sản phẩm bị kiểm tra lần này; người tiêu dùng phải có tiền sử dị ứng và xuất trình chứng nhận liên quan của bệnh viện; giữ hóa đơn mua hàng hoặc cuống vé điện tử, đồng thời không được trả hàng chéo quầy; lượng sản phẩm còn lại không được ít hơn một phần ba tổng lượng sản phẩm đó." Khi trả hàng, người tiêu dùng còn phải điền vào một bản "Thỏa thuận xử lý trả hàng nhanh cho các vấn đề không liên quan đến sức khỏe và chất lượng sản phẩm". Trong thỏa thuận viết: "Mặc dù bản thân sản phẩm là sản phẩm đạt chuẩn, không tồn tại vấn đề chất lượng, nhưng trên tinh thần chịu trách nhiệm với người tiêu dùng, chúng tôi quyết định xử lý trả hàng cho quý khách, hai bên thỏa thuận đồng ý hoàn tiền. Phương án xử lý này là phương án xử lý kết thúc một lần cho trường hợp này."

Thái độ và điều kiện này giống như đổ thêm dầu vào lửa, đẩy P&G ngày càng xa rời người tiêu dùng và dư luận, tiếng chỉ trích và tẩy chay vang lên không ngớt. Ngày 22 tháng 9, Cục Giám sát Chất lượng Thượng Hải thông báo tiếp tục phát hiện thêm 3 loại sản phẩm SK-II chứa chất cấm. Đến lúc này, P&G buộc phải tuyên bố "SK-II rút khỏi kệ hàng, tạm thời rời khỏi thị trường Trung Quốc, tất cả người tiêu dùng đều có thể trả hàng vô điều kiện". Một nhà quan sát tin tức tên là Trương Hiểu Huy viết bài bình luận trên tờ "Trung Hoa Công thương Thời báo" rằng: "Nhìn bề ngoài, cuộc khủng hoảng truyền thông lần này là sự non nớt trong hệ thống quan hệ công chúng của P&G, nhưng thực chất, nó phản ánh sự kiêu ngạo và định kiến của một tập đoàn đa quốc gia lớn trong việc xử lý vấn đề quyền được biết của người tiêu dùng và công chúng."

Ngay khi P&G đang sứt đầu mẻ trán trong sóng gió SK-II, các công ty thực phẩm nổi tiếng thế giới là Heinz và KFC cũng rơi vào một cuộc khủng hoảng lớn nguy hiểm hơn nhiều. Tháng 2 năm đó, Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm Anh khẩn cấp ra lệnh cho các siêu thị và cửa hàng lớn gỡ bỏ, thu hồi 359 thương hiệu thực phẩm bao gồm cả Heinz và Unilever, do nghi ngờ chứa phẩm màu gây ung thư Sudan đỏ I. Tổng cục Giám sát Chất lượng, Kiểm tra và Kiểm dịch Nhà nước Trung Quốc lập tức đưa ra thông báo khẩn, yêu cầu các cơ quan kiểm dịch địa phương tăng cường giám sát kiểm tra các thực phẩm chứa Sudan đỏ I, ngăn chặn nghiêm ngặt không cho thâm nhập thị trường Trung Quốc. Các sản phẩm của công ty TNHH Thực phẩm Heinz Mỹ Vị Nguyên (Quảng Châu) bị phát hiện chứa Sudan đỏ, 300 ngàn chai sản phẩm bị tiêu hủy công khai.

Ngày 16 tháng 3, truyền thông phanh phui rằng gia vị của KFC cũng bị phát hiện chứa thành phần Sudan đỏ, tất cả các nhà hàng KFC trong nước đều dừng bán. KFC là doanh nghiệp đồ ăn nhanh đa quốc gia thành công nhất trên thị trường Trung Quốc, kể từ khi vào Trung Quốc năm 1987, họ đã mở 1.100 chuỗi cửa hàng tại các thành phố, người tiêu dùng trung thành nhất của họ là trẻ nhỏ và thanh thiếu niên. Do đó, việc phát hiện thành phần gây ung thư trong gia vị KFC lập tức gây ra sự hoảng sợ và chấn động. "Sự kiện Sudan đỏ" nhất thời trở thành chủ đề được cả nước quan tâm, khiến công chúng chú trọng đến an toàn thực phẩm, đồng thời khiến mọi người nảy sinh nghi ngờ đối với các thương hiệu đa quốc gia vốn luôn được sùng bái. Ngày 31 tháng 3, tờ "Nhân dân Nhật báo" vốn luôn thận trọng trong lời lẽ đã đặt câu hỏi trong một bài bình luận: "Điều đáng suy ngẫm là, tại sao KFC chỉ có Sudan đỏ ở Trung Quốc, chẳng lẽ chú Sam nhân hậu cho rằng chúng ta ở đây là 'đảo an toàn' của Sudan đỏ hay sao?"

Ngoài P&G, KFC và Heinz, một vài doanh nghiệp hàng tiêu dùng nổi tiếng khác cũng lần lượt rơi vào khủng hoảng. Ngày 17 tháng 4, nhiều phương tiện truyền thông trong nước đều đưa tin ở vị trí nổi bật rằng, theo nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ, kem đánh răng Colgate chứa hóa chất gây ung thư. Tin tức này vừa xuất hiện, phản ứng của thị trường rất dữ dội, kem đánh răng Colgate ở khắp nơi lần lượt bị gỡ khỏi kệ. Trong một cuộc khảo sát trên Sina, 88,4% cư dân mạng cho biết trước đây họ tin tưởng thương hiệu Colgate, nhưng hiện tại chỉ có 9,84% người dùng sẵn sàng sử dụng thương hiệu này. Sau đó cho thấy, tin tức này có nghi vấn dịch sai, tuy nhiên thương hiệu Colgate vẫn chịu cú sốc rất lớn.

Ngày 25 tháng 5, Cục Công thương tỉnh Chiết Giang thông báo sữa bột "Nestlé" Kim bài Trưởng thành 3+ do tập đoàn thực phẩm nổi tiếng thế giới Nestlé sản xuất có hàm lượng i-ốt vượt mức cho phép. Hai ngày sau, Nestlé gỡ bỏ các sản phẩm có vấn đề khỏi kệ hàng nhưng từ chối tiết lộ số lượng sản xuất và thị trường tiêu thụ. Sau đó, Bắc Kinh, Côn Minh và những nơi khác cũng phát hiện vấn đề tương tự. Phía Nestlé không đưa ra bất kỳ phản hồi nào thêm về việc thu hồi hay trả hàng, khiến đa số người tiêu dùng không có nơi để trả lại hàng. Ngày 5 tháng 6, lãnh đạo cấp cao của Nestlé Trung Quốc mới xin lỗi người tiêu dùng về việc sữa bột vượt mức i-ốt. Ngày 8 tháng 6, Ủy ban Tiêu chuẩn Quốc gia công khai tuyên bố: "Sữa bột công thức cho trẻ sơ sinh không đạt tiêu chuẩn về i-ốt cần bị cấm sản xuất và bán ra thị trường".

Ngày 16 tháng 6, Chi nhánh La Hồ thuộc Cục Giám sát Kỹ thuật và Chất lượng Thâm Chân nhận được tin báo, một nhà máy gia công chui đang sản xuất bánh kem Haagen-Dazs nổi tiếng. Nhân viên thực thi pháp luật nhanh chóng đến nơi, vốn tưởng rằng sẽ triệt phá một điểm làm hàng giả, không ngờ phát hiện tại hiện trường khiến mọi người kinh ngạc: xưởng chui không giấy phép, điều kiện vệ sinh tồi tệ này lại chính là "nhà máy gia công" chính gốc của cửa hàng kinh doanh thương hiệu Haagen-Dazs tại Thâm Quyến, hơn nữa một xưởng này cung cấp nguồn hàng cho tất cả 5 cửa hàng kinh doanh thương hiệu Haagen-Dazs tại Thâm Quyến. Ngày hôm sau, Tổng giám đốc khu vực Đại Trung Hoa của Haagen-Dazs đến Thâm Quyến xử lý sự việc, thừa nhận các cuộc kiểm tra của cơ quan chức năng và đưa tin của truyền thông là "về cơ bản đúng sự thật".

Bê bối của các doanh nghiệp đa quốc gia không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hàng tiêu dùng. Tháng 4 năm đó, nhà sản xuất PC lớn nhất toàn cầu Dell vốn có danh tiếng khá tốt đã rơi vào "scandal email", nguồn cơn sự việc là một lá thư giữa một quản lý kinh doanh của Dell Mỹ với khách hàng mục tiêu bị phanh phui. Vị quản lý kinh doanh này viết trong thư: "Tôi chỉ nhìn từ viễn cảnh tương lai của IBM chứ không phải tấn công đối thủ cạnh tranh. Ai cũng biết, Lenovo là một doanh nghiệp do chính phủ Trung Quốc kiểm soát, gần đây vừa mới mua lại mảng kinh doanh máy tính để bàn và máy tính xách tay của IBM. Mặc dù chính phủ Mỹ đã phê chuẩn giao dịch giữa Lenovo và IBM, nhưng mọi người phải hiểu một điều, mỗi một đô la mọi người chi cho sản phẩm IBM đều sẽ trực tiếp hỗ trợ hoặc tài trợ cho chính phủ Trung Quốc. Ông hãy suy nghĩ kỹ đi."

Sau khi email này bị truyền thông phanh phui, nó đã gây ra làn sóng dữ dội. Dư luận trong nước đa phần cho rằng, những lời lẽ phỉ báng của nhân viên Dell trong cuộc cạnh tranh giành khách hàng với Lenovo đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cạnh tranh công bằng. Liễu Truyền Chí cũng bày tỏ sự bất mãn trong một dịp công khai: "Một doanh nghiệp nghiêm túc không nên làm những việc trái đạo đức, phải làm những việc nghiêm túc."

Ngày 27 tháng 7, hơn 500 nhân viên của công ty TNHH Toshiba Đại Liên đình công, nguyên nhân bắt nguồn từ việc cơ quan thanh tra lao động Đại Liên phát hiện Toshiba có hiện tượng nhân viên làm thêm giờ mỗi tháng vượt quá 36 giờ theo quy định của "Luật Lao động", vì vậy đã ban hành "thông báo chấn chỉnh" cho công ty này. Nhưng để không giảm năng suất, Toshiba đã tăng tốc độ dây chuyền sản xuất, nén mỗi quy trình làm việc từ 20 giây xuống còn 14 giây. Thời gian lao động tuy rút ngắn nhưng cường độ lao động lại tăng lên. Hơn nữa sau khi "hủy bỏ" làm thêm giờ, lương nhân viên bị giảm. Ngày 27, một số nhân viên đình công phản đối, nhân viên quản lý phía Nhật Bản lập tức tuyên bố sa thải những người tham gia. Hành động này chọc giận tất cả công nhân Trung Quốc, 3 giờ sau toàn nhà máy ngừng việc. Cuộc đình công làm kinh động chính quyền địa phương, cuối cùng phía Nhật Bản thỏa hiệp, đồng ý tăng lương mỗi tháng 150 nhân dân tệ, thưởng mỗi nhân viên 1.000 nhân dân tệ vào dịp kỷ niệm thành lập nhà máy, công nhân quay trở lại làm việc.

Tháng 10, công ty TNHH Phát triển Công nghiệp Fuji Xerox (Thượng Hải) do tập đoàn Fuji Film Nhật Bản và công ty Xerox Mỹ cùng đầu tư bị tố cáo có nghi vấn buôn lậu nghiêm trọng. Hải quan điều tra phát hiện, một hệ thống in ấn đen trắng tốc độ cao DT6135 có chức năng photocopy, theo quy định cần khai báo là máy photocopy hoặc máy in, nhưng Fuji Xerox lại khai báo là máy in laser có thuế suất bằng 0, một chiếc máy trốn thuế ít nhất gần 45 ngàn nhân dân tệ, trong hơn một năm qua, Fuji Xerox đã nhập khẩu hàng trăm chiếc máy như vậy. Các loại máy in màu khác, Fuji Xerox cũng áp dụng phương pháp này để khai báo hải quan. Ngoài ra, Fuji Xerox còn bị phát hiện có hành vi bán phá giá thiết bị cũ, họ tân trang máy cũ từ thị trường Nhật Bản rồi bán lại cho doanh nghiệp Trung Quốc.

Tháng 12, công ty điện gia dụng Nhật Bản được coi là có biểu hiện tốt nhất tại thị trường Trung Quốc là Sony liên tiếp nổ ra ba bê bối. Đầu tháng, Cục Công thương tỉnh Chiết Giang thông báo, 6 mẫu với 30 lô máy ảnh kỹ thuật số của Sony đều tồn tại các vấn đề như độ đồng nhất hình ảnh, phơi sáng tự động không đạt chuẩn, bị Trung tâm Giám sát và Kiểm tra Chất lượng Máy ảnh Quốc gia đánh giá tổng thể là không đạt chuẩn. Công ty Sony (Trung Quốc) ban đầu tuyên bố phủ nhận, vài ngày sau mới thừa nhận kết quả và xin lỗi công chúng, đồng ý tiếp nhận yêu cầu trả hàng của người tiêu dùng. Giữa tháng, 5 dòng tivi LCD mới ra mắt của Sony bị phát hiện có lỗi phần mềm, công ty buộc phải nâng cấp phần mềm cho 17 ngàn chiếc tivi có vấn đề đã bán ra tại thị trường Trung Quốc. Cuối tháng, Cục Thống kê Bắc Kinh thông báo dữ liệu điều tra kinh tế và phanh phui một số doanh nghiệp vi phạm, Sony nằm trong số đó, công ty này bị phát hiện khai man chỉ số "tổng doanh số bán hàng" 1,8 tỷ nhân dân tệ.

Đây thực sự là một "mùa của những bê bối". Trước năm 2005, mặc dù cũng có những sự kiện như "đập xe Mercedes", [Tháng 12 năm 2002, công ty TNHH Vườn thú hoang dã Rừng Vũ Hán mua một chiếc xe Mercedes SLK230, chưa đầy 3 tháng liên tiếp xảy ra các vấn đề như rò rỉ dầu hệ thống lái, động lực yếu rõ rệt và đèn cảnh báo sáng. Chiếc xe sửa chữa 5 lần trước sau vẫn không cải thiện nhiều, người tiêu dùng yêu cầu trả xe, công ty Mercedes từ chối. Ngày 26 tháng 12 năm 2001, Công viên Rừng Vũ Hán tổ chức "lễ đập xe" tại Quảng trường Vũ Hán nhộn nhịp, 5 công nhân vung gậy gỗ, búa sắt đập chiếc xe Mercedes tan nát. Sự kiện này gây chấn động một thời.] thế nhưng, việc có quá nhiều công ty đa quốc gia rơi vào khủng hoảng bê bối công chúng như vậy là điều chưa từng có. Nó vừa thể hiện sự trưởng thành dần dần của người tiêu dùng, chính quyền các cấp và truyền thông, cũng cho thấy một thực tế khác, đó là các công ty quốc tế đã thâm nhập và tham gia vào mọi tầng nấc của thị trường Trung Quốc, trở thành một phần của nền kinh tế Trung Quốc đang vạn mã phi đằng, bụi mù mịt. Văn Thiếu Ba, cựu giám đốc tiếp thị khu vực Trung Quốc của Mitsubishi Battery Nhật Bản, đã mô tả về chủ cũ của mình như sau: "Doanh nghiệp đa quốc gia từ lâu đã am hiểu tường tận tình hình quốc gia và các quy tắc ngầm trong kinh doanh của Trung Quốc, 'giao dịch xám' đối với họ cũng là một hành vi tham nhũng hợp lý. Hơn nữa, khi vào Trung Quốc họ thường đã xây dựng các biện pháp đối phó khi sự việc bị vỡ lở. Dưới vẻ ngoài thành tích nổi bật, các doanh nghiệp đa quốc gia đều cảm thấy an tâm."

Ngày 6 tháng 6, thị trường chứng khoán Trung Quốc rơi xuống điểm đóng băng. Chỉ số Thượng chứng dừng lại ở mức 998,22 điểm vô cùng lạnh lẽo, lần đầu tiên sau nhiều năm để mất mốc ngàn điểm, "thuyết ngàn điểm" từng bị mọi người chỉ trích hoặc coi là chuyện cười, cuối cùng đã ứng nghiệm trước mắt những nhà đầu tư muốn khóc mà không còn nước mắt. Tuy nhiên, 30 năm cải cách của Trung Quốc đã chứng minh nhiều lần câu nói cổ của Trung Quốc "vật cực tất phản, bĩ cực thái lai", mọi khổ nạn đều là điểm khởi đầu của một cao trào mới. Hai năm sau, mọi người sẽ ngộ ra quy luật này. Chính trong thời kỳ suy thoái không thể thấp hơn được nữa, một cuộc cải cách sấm sét đã đón chào thời điểm khởi động tốt nhất.

Việc này không những gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông lưu thông, đặc biệt là các cổ đông nhỏ lẻ, mà còn rất dễ nảy sinh hiện tượng "nhà cái" xấu xí. Lữ Lương, Đường Vạn Tân, Tống Như Hoa và những người khác chính là những kẻ thông qua việc kiểm soát cổ phần pháp nhân không lưu thông để tùy ý thao túng giá cổ phiếu. Hơn mười năm qua, hiện tượng này luôn bị các chuyên gia lên án gay gắt, thế nhưng do thế lực của nhóm lợi ích nhóm quá mạnh, các phương án cải cách cứ đưa ra rồi lại bị hủy bỏ. Ngày 13 tháng 6 năm 2001, Ủy ban Điều tiết Chứng khoán từng trịnh trọng tuyên bố phương án giảm nắm giữ cổ phần nhà nước sắp được ban hành, thị trường kỳ vọng khả quan, ngay ngày hôm sau chỉ số Thượng Hải đã lập đỉnh lịch sử 2245 điểm. Tuy nhiên, phương án giảm nắm giữ cứ trì hoãn mãi không ra, đến tháng 6 năm 2002, một năm sau đó, Quốc vụ viện phát văn bản đình chỉ thực thi việc giảm nắm giữ cổ phần nhà nước trên thị trường chứng khoán, cuộc cải cách thất bại.

Sau năm 2004, sự điều tiết vĩ mô bất ngờ ập xuống, cả hai thị trường Thượng Hải và Thâm Quyến sụp đổ toàn diện, tất cả các nhà cái lớn nhỏ đều phải tự gánh chịu hậu quả. Cùng với việc thị trường chứng khoán rơi vào hôn mê bất tỉnh, lực cản đột nhiên tan rã, cải cách bỗng trở thành việc thuận nước đẩy thuyền. Ngày 29 tháng 4 năm 2005, Ủy ban Điều tiết Chứng khoán ban hành "Thông báo về các vấn đề liên quan đến thí điểm cải cách phân chia cổ phần của các công ty niêm yết", đánh dấu việc công tác thí điểm cải cách phân chia cổ phần chính thức khởi động, nó được định nghĩa là "cuộc cách mạng lần thứ hai của thị trường chứng khoán Trung Quốc".

Doanh nghiệp thí điểm cải cách đầu tiên là Tam Nhất Trọng Công tại Hồ Nam, đây là một công ty niêm yết do vốn tư nhân kiểm soát. Theo nghị quyết của Hội đồng quản trị, công ty này lấy tổng số vốn cổ phần 240 triệu cổ phiếu vào ngày 29 tháng 4 làm cơ sở, mỗi cổ đông lưu thông nắm giữ 10 cổ phiếu lưu thông sẽ nhận được 3 cổ phiếu và 8 nhân dân tệ tiền mặt, cổ phần không lưu thông do các cổ đông không lưu thông nắm giữ sẽ nhận được "quyền niêm yết lưu thông". Cuộc cải cách cổ phần của Tam Nhất Trọng Công được coi là một "chuyến đi phá băng".

Do được khởi động trong thời kỳ thoái trào, sự suôn sẻ của cuộc cải cách phân chia cổ phần đã nằm ngoài dự đoán của tất cả mọi người. Chủ tịch Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Thượng Phúc Lâm sau này hồi tưởng lại: "Chúng tôi đã chuẩn bị cho tình huống xấu nhất, thực tế thị trường chứng khoán giảm ít hơn so với dự kiến". Lúc mới bắt đầu, thị trường chứng khoán từng xuất hiện cảnh tượng sụt giảm liên tục, thậm chí rơi xuống dưới mốc nghìn điểm vào tháng 6, nhưng cùng với việc từng đợt từng đợt công ty thí điểm cải cách nối đuôi nhau xuất hiện, thị trường chứng khoán nhanh chóng ổn định trở lại. Dùng lời của Hoa Sinh, giáo sư kinh tế học tại Đại học Phục Đán: "Đây là cuộc cải cách thể chế trọng đại nhất kể từ khi cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc bắt đầu, có thời gian ngắn nhất, tiến triển suôn sẻ nhất, và ít tranh cãi hay bất đồng về hiệu quả cải cách nhất". Đến năm 2006, hơn một năm sau đó, đã có 1151 công ty niêm yết bước vào hoặc hoàn thành quy trình cải cách cổ phần, giá trị thị trường của các công ty cải cách cổ phần chiếm 92% tổng giá trị thị trường chứng khoán. Tân Hoa Xã trong bài bình luận cùng tháng đã tuyên bố, thị trường chứng khoán Trung Quốc hiện nay có thể nói đã bước vào thời đại "sau cải cách phân chia cổ phần", vấn đề thắt nút lớn nhất mà thị trường chứng khoán phải đối mặt đã cơ bản được giải quyết thỏa đáng. Cũng từ lúc đó, thị trường chứng khoán Trung Quốc đột ngột tỉnh giấc từ thị trường gấu.

Quá trình cải cách phân chia cổ phần khá giống với cuộc "xông pha" giá cả cuối thập niên 80 và cải cách quyền sở hữu doanh nghiệp cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, nó thể hiện "đặc trưng không tranh luận" của cuộc cải cách này tại Trung Quốc: Mỗi khi một cuộc cải cách trọng đại nào đó bị tranh cãi kịch liệt và thúc đẩy cưỡng ép, thường thì hiệu quả rất thấp, rơi vào bế tắc, thậm chí có thể gây ra bất ổn xã hội và hỗn loạn dư luận. Thế nhưng khi tất cả những người tranh cãi đã kiệt sức, cải cách lại đạt được đột phá vào thời điểm ít ai ngờ tới nhất, con đường diễn tiến của nó thường nhỏ hơn những gì mọi người suy đoán trước đó.

Cải cách cổ phần không những giải quyết được căn bệnh thâm căn cố đế của thị trường vốn, mà còn mang lại sự bùng nổ tài sản cho đông đảo người điều hành doanh nghiệp. Lấy ví dụ là Lương Ổn Căn, Chủ tịch Tam Nhất Trọng Công. Ông nắm giữ 39% cổ phần Tam Nhất Trọng Công, cùng với việc cổ phiếu không lưu thông được niêm yết và giá cổ phiếu tăng vọt sau đó, tài sản của ông theo đó mà tăng lên. Trong "Danh sách người giàu Trung Quốc" của Hồ Nhuận năm 2005, tài sản cá nhân của Lương Ổn Căn là 2,2 tỷ nhân dân tệ, đến năm 2007 đã tăng vọt lên 20,2 tỷ nhân dân tệ, đứng thứ 24 trong bảng xếp hạng những người giàu toàn quốc.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba