Thứ ba là xu hướng "tư nhân hóa" của các doanh nghiệp đa quốc gia ngày càng trở nên rõ rệt. Trong nhiều năm trước đây, các doanh nghiệp nước ngoài khi mở nhà máy tại Trung Quốc đều phải có một đối tác liên doanh. Chẳng hạn như Coca-Cola và PepsiCo, các nhà máy đóng chai của họ ở khắp nơi bắt buộc phải liên doanh với các công ty lương thực thực phẩm quốc doanh; còn đối tác hợp tác của P&G thì được quy định là các nhà máy hóa mỹ phẩm quốc doanh tại địa phương. Ngày nay, hạn chế này dần bị bãi bỏ, một số doanh nghiệp đa quốc gia sau khi liên doanh đã tự cho rằng mình đã đứng vững, nên bắt đầu dùng đủ mọi thủ đoạn để ép các nhà đầu tư phía Trung Quốc phải rút lui. Mùa đông năm đó, Panasonic của Nhật Bản xác nhận với truyền thông rằng: "50 doanh nghiệp liên doanh Panasonic thành lập tại Trung Quốc đều sẽ tìm cách chuyển sang hình thức sở hữu độc quyền". Tập đoàn Motorola của Mỹ, đơn vị sản xuất điện thoại di động, cũng đưa ra quyết định tương tự. Tháng 9, lần đầu tiên Motorola chọn Bắc Kinh làm nơi tổ chức hội nghị hội đồng quản trị toàn cầu. Khoản đầu tư của họ tại Trung Quốc chiếm 9% tổng vốn đầu tư, trong khi lợi nhuận thu về đạt tới 17% tổng lợi nhuận. Hội đồng quản trị quyết định trong 5 năm tới sẽ tăng vốn đầu tư vào Trung Quốc lên 10 tỷ USD, đồng thời khẳng định "độc quyền sở hữu là lựa chọn tự nhiên của các công ty liên doanh sau khi Trung Quốc gia nhập WTO". Lúc bấy giờ, doanh nghiệp liên doanh lớn nhất của hãng này tại Trung Quốc là Đông Phương Thông Tín ở Chiết Giang. Phía Mỹ đề nghị chủ tịch hội đồng quản trị phía Trung Quốc là Thi Kế Hưng rằng: hoặc phía Trung Quốc nhượng lại cổ phần, hoặc phía Mỹ sẽ rút khỏi liên doanh. Thi Kế Hưng chọn phương án thứ hai, Motorola ngay lập tức rút lui và dừng mọi hỗ trợ kỹ thuật.
Cái tên quyết liệt hơn trong hành động độc quyền và không ngại "trở mặt thành thù" với phía Trung Quốc chính là PepsiCo. Lúc đó, PepsiCo đã thành lập 15 nhà máy đóng chai liên doanh tại Trung Quốc. Tháng 9 năm đó, Công ty TNHH Đầu tư Pepsi (Trung Quốc) thành lập công ty độc quyền tại Sơn Đông, tuyên bố đưa Thanh Đảo vào phạm vi thế lực của mình. Trong khi trước đó, Pepsi đã có nhà máy liên doanh tại Sơn Đông, hai công ty Pepsi cùng nhắm vào thị trường Thanh Đảo và phát động cuộc chiến giá cả, khiến người ngoài cuộc không khỏi hoang mang. Pepsi còn tìm cách ép các đối tác phía Trung Quốc ở Thành Đô, Tứ Xuyên phải rút lui. Khi đàm phán không thành, phía Mỹ tuyên bố tăng mạnh giá dung dịch cô đặc, đồng thời không phê duyệt cho Pepsi Tứ Xuyên sản xuất thêm các loại đồ uống khác. Sự ngang ngược của phía Mỹ đã vấp phải sự kháng cự và tẩy chay tập thể từ các nhà máy đóng chai liên doanh phía Trung Quốc. Tháng 3 năm 2002, phía Mỹ tuyên bố sa thải Trần Thu Phương, tổng giám đốc phía Trung Quốc của liên minh tẩy chay, cũng là quản lý của Pepsi Thượng Hải. Tháng 7, 14 trong số 15 nhà máy đóng chai đã tổ chức họp báo tại Thành Đô để đồng loạt lên án PepsiCo. Một tháng sau, Công ty PepsiCo của Mỹ lấy lý do kiểm toán không thành công để đệ đơn lên Tòa trọng tài Phòng Thương mại Stockholm (Thụy Điển), yêu cầu chấm dứt hợp tác với các đối tác phía Trung Quốc tại Thành Đô. Vụ án này được gọi là "Vụ trọng tài đầu tiên kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO". Tòa án Thụy Điển cuối cùng đã phán quyết chấm dứt hợp đồng cấp phép nhãn hiệu và thỏa thuận cung cấp dung dịch cô đặc với lý do "không phối hợp kiểm tra" và "bán hàng vượt tuyến" dù không cấu thành vi phạm hợp đồng cơ bản, Pepsi giành chiến thắng hoàn toàn. Giáo sư Lương Tuệ Tinh, người soạn thảo chính Luật Hợp đồng của Trung Quốc, cho rằng "vụ bê bối trọng tài Pepsi" thực chất là việc vốn đa quốc gia nhân cơ hội Trung Quốc gia nhập WTO, lợi dụng khoảng trống trong luật pháp và quản lý của Trung Quốc để đẩy nhanh tốc độ bành trướng cướp bóc. Một chi tiết hậu kỳ đáng ghi lại của vụ việc này là vào tháng 4 năm 2006, 5 năm sau đó, Vương Sinh Trường - Ủy viên Ủy ban Trọng tài Thương mại Quốc tế Trung Quốc, người từng tham gia vụ án này và chủ trương đưa ra tòa trọng tài Thụy Điển - đã bị bắt vì liên quan đến các vấn đề kinh tế. Tân Hoa Xã trong bài đưa tin khẳng định: "Vương Sinh Trường tư lợi tài sản quốc gia và nghi ngờ nhận hối lộ, vai trò của ông ta trong vụ bê bối trọng tài Pepsi bị đặt dấu hỏi lớn". Pepsi Trung Quốc đối với việc này "không bình luận".①
Trong khi vốn đa quốc gia không ngừng thẩm thấu và vốn quốc doanh tái cơ cấu mạnh mẽ, thì "lực lượng thứ ba" là vốn tư nhân lại trông như một kẻ đứng ngoài cuộc chơi. Trong lịch sử 30 năm của doanh nghiệp Trung Quốc, sự đấu trí giữa các nguồn vốn có tính chất khác nhau luôn là yếu tố chính gây ra những thăng trầm của nền kinh tế Trung Quốc. Theo sau việc Trung Quốc gia nhập WTO, cục diện đấu trí của ba tập đoàn vốn đã có những biến đổi căn bản. Hai nguồn vốn mạnh đã đạt được sự đồng thuận mới trong việc phân chia lợi ích và tái cơ cấu, còn vốn tư nhân - vốn đã đạt được thành công vang dội trên nhiều thị trường cạnh tranh - lại ngày càng bị đẩy ra rìa. Chỉ một số ít người đạt được thành công mang tính biểu tượng. Năm đó, có ít nhất ba người đã đạt được bước đột phá trong những lĩnh vực vốn không mở cửa cho vốn tư nhân.
Tháng 5, Lưu Vĩnh Hảo tuyên bố nắm giữ 7,98% cổ phần của Ngân hàng Dân Sinh, trở thành cổ đông lớn nhất. Nhờ những thành quả to lớn trong lĩnh vực tài chính, anh em nhà họ Lưu đã trở lại ngôi vị "người giàu nhất" trong danh sách tỷ phú Trung Quốc của Forbes vào cuối năm. Ngân hàng Dân Sinh được thành lập vào năm 1996, thời điểm không khí cải cách đang vô cùng sục sôi. Theo sáng kiến của Kinh Thúc Bình - Chủ tịch Liên đoàn Công thương toàn quốc lúc bấy giờ và cũng là một chuyên gia tài chính kỳ cựu, Quốc vụ viện đã phê chuẩn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần toàn quốc đầu tiên - Ngân hàng Dân Sinh. Kinh Thúc Bình giữ chức chủ tịch, trong số các cổ đông sáng lập có vài doanh nhân tư nhân nổi tiếng tham gia Liên đoàn Công thương toàn quốc, trong đó Lưu Vĩnh Hảo, người giữ chức phó chủ tịch, đã góp 8,65 triệu nhân dân tệ để trở thành đơn vị cổ đông đợt đầu. Cứ như thế, trong lĩnh vực tài chính vốn bị các ngân hàng quốc doanh độc quyền hoàn toàn, Ngân hàng Dân Sinh dựa vào Liên đoàn Công thương toàn quốc mang màu sắc bán chính thức để ra đời. Tuy nhỏ bé, nhưng đây lại là ngân hàng thương mại duy nhất có tính thử nghiệm và quyền sở hữu rõ ràng. Trong những năm sau đó, tình hình vĩ mô biến động, hiệu quả của Ngân hàng Dân Sinh trồi sụt khá lớn, cổ đông ra vào liên tục. Lưu Vĩnh Hảo với tầm nhìn xa trông rộng vẫn kiên trì thu mua cổ phần của Ngân hàng Dân Sinh, tỷ lệ nắm giữ của ông lặng lẽ tăng lên. Tháng 11 năm 2000, Ngân hàng Dân Sinh được phép niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải, thân phận đặc biệt của nó thu hút sự săn đón của thị trường vốn, số tiền bị đóng băng khi đăng ký mua cổ phiếu mới lên tới hơn 400 tỷ nhân dân tệ, lập kỷ lục quốc gia thời bấy giờ. Anh em nhà họ Lưu năm xưa khởi nghiệp bằng nghề nuôi chim cút, làm giàu nhờ sản xuất thức ăn chăn nuôi, nay lại nhờ cơ duyên đặc biệt mà bước chân vào lĩnh vực tài chính, tất nhiên thu hút sự ngưỡng mộ và suy đoán vô tận của mọi người. Giống như Lưu Vĩnh Hảo, những doanh nhân tư nhân đồng giữ chức phó chủ tịch (hoặc ủy viên thường vụ) Liên đoàn Công thương toàn quốc, bước chân vào lĩnh vực tài chính nhờ hiệu ứng cải cách của Ngân hàng Dân Sinh còn có Trương Hoành Vĩ của Tập đoàn Đông Phương và Lư Chí Cường của Tập đoàn Phiếm Hải. Trong danh sách tỷ phú Trung Quốc năm 2001 của Forbes, Lưu Vĩnh Hảo và gia tộc của ông chễm chệ ở vị trí đứng đầu, Trương và Lư lần lượt xếp thứ 24 và 36.
Nếu nói Lưu Vĩnh Hảo và những người khác là nhờ "mô hình cải cách" mà khéo léo chen chân vào cuộc chơi độc quyền, thì Ngô Ưng và "Tiểu Linh Thông" của ông lại được hưởng lợi từ cuộc chiến nội bộ giữa các doanh nghiệp độc quyền quốc doanh. Cũng trong danh sách tỷ phú của Forbes năm đó, Ngô Ưng đứng thứ 19.
Sau giữa những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với sự phổ biến của điện thoại di động, ngành công nghiệp truyền thông di động hưng thịnh chưa từng có. Kiểm soát thị trường này là hai nhà cung cấp dịch vụ di động lớn - China Mobile và China Unicom, họ kiếm được bộn tiền. Ngược lại, "lão đại" của ngành trước đây là China Telecom lại không thể chia được miếng bánh nào vì chỉ được phép kinh doanh dịch vụ điện thoại cố định. Ngay lúc đó, Ngô Ưng - một du học sinh Trung Quốc từng làm việc tại Phòng thí nghiệm Bell nổi tiếng của Mỹ - đã nhìn thấy cơ hội kinh doanh. Ông đưa một công nghệ không dây PHS (điện thoại thị chính di động) do người Nhật phát minh vào Trung Quốc. Công nghệ này có thể tận dụng mạng lưới điện thoại cố định hiện có, cung cấp dịch vụ liên lạc không dây thông qua truy cập không dây. Điểm yếu lớn nhất của nó là tín hiệu rất kém, đôi khi trong nhà còn không nghe rõ, vì vậy tại Nhật Bản - nơi phát minh ra nó, đây là một công nghệ bên lề đã bị từ bỏ. Nhưng ở Trung Quốc, nó lại trở thành "cọng rơm cứu mạng" của China Telecom, vì có công nghệ này, họ có thể đi đường vòng để thâm nhập thị trường viễn thông di động. Trong khi đó, phí dịch vụ cuộc gọi đắt đỏ của hai nhà cung cấp dịch vụ di động lớn rõ ràng đã tạo ra không gian lợi ích khổng lồ cho sự thâm nhập của China Telecom.
Công ty UTStarcom do Ngô Ưng thành lập đã trở thành nhà cung cấp thiết bị cho dự án PHS, ông đặt tên cho chiếc điện thoại này là "Tiểu Linh Thông". Tháng 12 năm 1997, điểm thí điểm điện thoại thị chính không dây "Tiểu Linh Thông" đầu tiên được khai trương tại thành phố Dư Hàng, tỉnh Chiết Giang. Người tiêu dùng địa phương được thông báo rằng cước phí cuộc gọi của Tiểu Linh Thông là 0,2 nhân dân tệ cho 3 phút, trong khi điện thoại di động GSM của China Mobile hoặc China Unicom là 0,5 nhân dân tệ cho 1 phút, chênh lệch giá gấp 7,5 lần. Chưa kể Tiểu Linh Thông không thu phí người nhận cuộc gọi, cùng một cuộc điện thoại, chênh lệch giá giữa Tiểu Linh Thông và GSM lên tới khoảng 10 lần. Chỉ trong vòng 3 tháng, số lượng người dùng Tiểu Linh Thông ở Dư Hàng đã bắt kịp tổng số người dùng của Mobile và Unicom. Tiểu Linh Thông nhanh chóng phổ biến trên toàn tỉnh Chiết Giang và nhanh chóng được China Telecom coi là "bảo bối duy nhất" để giành giật thị trường di động.
Cứ như thế, một công nghệ bên lề bất ngờ gây ra một cuộc chiến viễn thông giữa các doanh nghiệp độc quyền tại Trung Quốc. China Telecom đồng loạt quảng bá Tiểu Linh Thông tại hàng trăm thành phố trên cả nước, trong khi các nhà cung cấp dịch vụ di động tại địa phương vừa tìm cách ngăn chặn sự thâm nhập của Tiểu Linh Thông, vừa liên tục báo cáo khẩn cấp lên Bộ Công nghiệp Thông tin. Bộ này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, lúc thì tuyên bố "Tiểu Linh Thông là công nghệ lạc hậu, cần hạn chế phát triển trên phạm vi toàn quốc", lúc lại tuyên bố "sau khi điều tra, Tiểu Linh Thông là phần bổ sung và mở rộng của điện thoại cố định, có điều kiện cho phép China Telecom kinh doanh dịch vụ này". Tin tức gây xôn xao nhất xảy ra tại thành phố Lan Châu, tỉnh Cam Túc vào năm 2000, Lan Châu Telecom cấp cho Tiểu Linh Thông đầu số "6", trong khi China Mobile tại Lan Châu không thừa nhận số điện thoại "chưa được Bộ Công nghiệp Thông tin phê duyệt" này và từ chối cho nó truy cập vào mạng di động. Lan Châu Telecom vốn kiêu ngạo trong một cơn tức giận đã cắt đứt hoàn toàn liên lạc giữa mạng di động với mạng điện thoại cố định của Telecom, khiến hàng trăm nghìn người dùng không thể liên lạc giữa di động và điện thoại cố định trong hàng chục giờ đồng hồ, từ đó gây ra một sự cố nghiêm trọng dở khóc dở cười. Đến năm 2001, ngoại trừ một số ít thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, dịch vụ Tiểu Linh Thông đã được khai thông trên toàn tuyến, số lượng người dùng vượt quá 60 triệu.