"Sụp đổ rồi... sụp đổ rồi... sụp đổ rồi... sụp đổ rồi..."
—— Lời một tài xế người Thái Lan, năm 1997
Ngày đầu năm mới, Bắc Kinh có tuyết rơi nhẹ. Đặng Tiểu Bình đang nằm điều trị tại Bệnh viện 301 Bắc Kinh bảo người nhà bật tivi lên. Ông thấy đài trung ương đang phát một bộ phim tài liệu, liền chăm chú theo dõi, nhưng lại không nhìn rõ người đang đi từ phía xa tới trên màn hình là ai. Ông hỏi bác sĩ Hoàng Lâm: "Người đang đi tới kia là ai vậy?". Hoàng Lâm đáp: "Đó là ông đấy. Ông nhìn kỹ xem". Người trên màn hình tiến lại gần, cuối cùng ông cũng nhìn rõ chính mình, khóe miệng khẽ động, nở một nụ cười. Hoàng Lâm nói cho ông biết bộ phim này có tên là "Đặng Tiểu Bình", vừa mới được quay xong, gồm 12 tập. Ông không nói gì cả, cứ lặng lẽ xem hết tập này đến tập khác. Hoàng Lâm biết ông bị lãng tai, không nghe rõ, nên cúi người sát bên tai ông để thuật lại lời thoại. Mỗi khi trong phim có những lời ca tụng mình, Hoàng Lâm lại thấy trên gương mặt vị lão nhân lộ ra một nét ngượng ngùng khác lạ.
50 ngày sau, vào ngày 19 tháng 2, chính trị gia 93 tuổi này đã đi đến chặng cuối cùng của cuộc đời.
Đối với người Trung Quốc, đây là một nỗi bi thương to lớn. Trong suốt 20 năm qua, vị lão nhân với tấm lòng khoáng đạt và ý chí kiên định này luôn là người bảo vệ và thúc đẩy quan trọng nhất cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc. Ông đã khắc sâu dấu ấn của mình vào giai đoạn lịch sử phục hưng của đất nước. Khi ông qua đời, con tàu khổng lồ phương Đông mang tên Trung Quốc đã vượt qua đoạn đường hiểm trở nhất trong "Tam Hiệp của lịch sử". Trong bài bình luận ngày hôm sau khi ông mất, Reuters viết rằng: Đặng Tiểu Bình dám gạt bỏ thể chế kế hoạch cứng nhắc để ủng hộ sức mạnh thị trường tự do, đồng thời mở cánh cửa Trung Quốc ra với thế giới, ông thực sự đã thay đổi Trung Quốc.
Sự ra đi của Đặng Tiểu Bình khiến Trung Quốc suốt nửa đầu năm đó không sao thoát khỏi nỗi buồn thương. Ngày 1 tháng 7, Hồng Kông trở về với đất mẹ, đây vốn dĩ là ngày cả nước hân hoan, nhưng cũng vì thế mà nhuốm thêm một nỗi tiếc nuối khó gọi tên. Trong những ngày cuối đời, việc để Hồng Kông trở về trong êm đẹp luôn là điều ông quan tâm nhất. Ông cũng từng hứa sẽ đích thân tới Hồng Kông để chứng kiến ngày trở về, đáng tiếc là cuối cùng ông đã không đợi được đến ngày đó. Đêm trở về, trong muôn vàn pháo hoa rực rỡ trên bầu trời, lẽ ra phải có một đóa hoa dành riêng cho ông.
Màn sương bi thương bao phủ lấy năm 1997, từ đầu đến cuối.
Năm này, bộ phim gây sốt nhất toàn cầu là "Titanic" do Hollywood sản xuất. Một con tàu khách sang trọng, được mệnh danh là "không thể chìm" và lớn nhất thế giới đầu thế kỷ 20, đã chìm xuống đáy Bắc Đại Tây Dương trong tiếng nhạc tao nhã xen lẫn những tiếng thét kinh hoàng. Cùng chìm xuống đó còn có mối tình giữa chàng họa sĩ lang thang Jack Dawson và cô tiểu thư quý tộc Rose. Khi khán giả Trung Quốc bước ra khỏi rạp với tâm trạng ngổn ngang, thì trong thế giới thương mại, một bi kịch cũng sắp sửa diễn ra với nỗi đau thương tương tự.
Đây là một năm mang tính phân thủy. Trong ba năm trước đó, các công ty nội địa như Lenovo, Haier, Changhong đã dựa vào cuộc chiến giá cả và ngọn cờ thương hiệu dân tộc để giành thắng lợi liên tiếp trong các lĩnh vực đồ gia dụng, đồ uống và hàng tiêu dùng. Các doanh nhân đắm chìm trong "giấc mơ 500 doanh nghiệp hàng đầu", sự tự tin của chính phủ và các doanh nghiệp gần như bùng nổ. Tuy nhiên, hàng loạt sự kiện bất ngờ xảy ra sau đó trong giới doanh nghiệp châu Á và Trung Quốc đã khiến vô vàn giấc mơ tan vỡ như bong bóng.
Sự kiện ác tính nghiêm trọng nhất chính là cơn bão tài chính càn quét các quốc gia châu Á. Một nhà đầu tư Mỹ tên là George Soros trong nhiều năm sau đó đã bị các chính trị gia châu Á coi là "cá sấu tài chính" mang màu sắc tà ác đầy bí ẩn. Từ tháng 2, Quỹ Quantum do Soros lãnh đạo đã nhắm vào Thái Lan - nơi nền kinh tế đang quá nóng và xuất hiện khủng hoảng thâm hụt - để bắt đầu bán tháo đồng Baht, khiến tỷ giá Baht so với USD biến động dữ dội. Chính phủ Thái Lan đã huy động 5 tỷ USD dự trữ ngoại hối và 20 tỷ USD tiền vay để can thiệp vào thị trường, nhưng vẫn không thể ngăn cản đà lao dốc của đồng Baht. Đến ngày 2 tháng 7, chính phủ Thái Lan buộc phải tuyên bố thả nổi tỷ giá, trong vòng một ngày, đồng Baht mất giá 20%. Sau khi bắn hạ đồng Baht, Soros quay sang tấn công Malaysia, Philippines, Indonesia, Hàn Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc). Các quốc gia và vùng lãnh thổ bị tấn công đều chịu thiệt hại tài chính nặng nề. Cơn bão tài chính châu Á này bắt đầu từ mùa hè năm 1997, kéo dài hơn 4 tháng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quốc gia châu Á và tất cả các ngành công nghiệp. Tài sản của tầng lớp trung lưu tại Philippines, Malaysia và Indonesia lần lượt bốc hơi 50%, 61% và 37%. Tài sản của cư dân tại Hồng Kông, Singapore và Thái Lan cũng giảm lần lượt 44%, 43% và 41%. Khi cơn bão càn quét Thái Lan, cây bút chuyên mục của tờ New York Times là Thomas Friedman đang ở đó. 8 năm sau, trong cuốn sách bán chạy "Thế giới phẳng", ông vẫn còn bàng hoàng khi mô tả lại cảnh tượng lúc bấy giờ: Chính phủ Thái Lan tuyên bố đóng cửa 58 tổ chức tài chính lớn, chỉ sau một đêm, những chủ ngân hàng tư nhân đó đã khuynh gia bại sản. Tôi lái xe đến phố Asok ở Bangkok để dự tiệc, đây là "Phố Wall" của Thái Lan, nơi tập trung phần lớn các tổ chức tài chính phá sản. Khi chiếc xe của tôi chậm rãi đi qua những ngân hàng này, cứ mỗi khi qua một nơi, người tài xế lại lẩm bẩm: "Sụp đổ rồi... sụp đổ rồi... sụp đổ rồi... sụp đổ rồi...". Những ngân hàng Thái Lan này đã trở thành quân cờ domino đầu tiên trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đầu tiên của thời đại toàn cầu hóa.
Ngay cả quốc gia phát triển nhất châu Á cũng không thể thoát nạn. Tại Hàn Quốc, đồng Won bị tấn công đã mất giá điên cuồng 50% trong hơn hai tháng, nền kinh tế quốc gia gần như đứng bên bờ vực sụp đổ. Chính phủ Hàn Quốc buộc phải cầu viện khẩn cấp Mỹ, Nhật Bản và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với số tiền vay kỷ lục thế giới là 55 tỷ USD, đồng thời buộc phải cam kết thực hiện kế hoạch ổn định kinh tế nghiêm ngặt và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, quyền tự chủ kinh tế từng có lúc mất sạch. Chính phủ Hàn Quốc ban hành phương châm "thắt lưng buộc bụng" cho toàn bộ công chức, yêu cầu họ phải gửi ít nhất 10% lương vào ngân hàng. Người dân thì tự nguyện quyên góp vàng bạc trang sức trong nhà. Trong cơn bão, tỷ lệ thất nghiệp tại Hàn Quốc lên tới 11%, các doanh nghiệp Hàn Quốc gánh chịu khoản lỗ chênh lệch tỷ giá ít nhất 3 nghìn tỷ Won, số nợ gốc và lãi nước ngoài phải trả tăng thêm 400 tỷ Won. Nhiều tập đoàn lớn tuyên bố phá sản hoặc rơi vào đường cùng, trong đó có Tập đoàn Daewoo - đơn vị từng vô cùng rực rỡ những năm trước và được các doanh nghiệp Trung Quốc coi là hình mẫu. Khi cơn bão ập đến, Daewoo vốn đang trong đà mở rộng nhanh chóng thực chất đã nợ nần chồng chất, số vốn vay của công ty lên tới quy mô 20 tỷ USD. Đối mặt với khủng hoảng, Kim Woo-choong đã thực hiện một loạt kế hoạch thu hẹp, nhưng đồng thời lại đánh cược gấp đôi vào mảng kinh doanh ô tô. Bằng cách phát hành trái phiếu lãi suất cao và thương phiếu để huy động 13,5 tỷ USD nợ ngắn hạn, tập đoàn này lần lượt tiếp quản SsangYong Motor và Samsung Motors, đồng thời tiếp tục thúc đẩy chiến lược trở thành gã khổng lồ ô tô quốc tế. Đến cuối năm, ngân hàng chủ nợ chính của Daewoo từ chối cho vay thêm. Tháng 10 năm 1999, Daewoo với khoản nợ 80 tỷ USD cuối cùng đã tuyên bố phá sản, Kim Woo-choong bỏ trốn sang Mỹ, dư luận Hàn Quốc gầm thét "Thuyết tài phiệt làm mất nước".