Tháng 4 năm này, thị trường chứng khoán Nasdaq của Mỹ vốn đang kiêu hãnh lao vút lên cao bỗng chốc quay đầu giảm điểm mà không có bất kỳ báo hiệu nào. Trong vòng nửa năm, chỉ số tổng hợp đã bốc hơi 40% giá trị từ mức đỉnh 5.132 điểm, 8,5 nghìn tỷ USD giá trị vốn hóa của các công ty bị thổi bay – con số này còn lớn hơn cả tổng thu nhập hàng năm của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngoại trừ Mỹ. Chỉ riêng một công ty là AOL Time Warner đã chịu tổn thất 100 tỷ USD tài sản trên sổ sách. Mười năm trước đó, thế giới còn chưa có bất kỳ công ty nào sở hữu giá trị vốn hóa vượt quá con số này. Hầu như tất cả các công ty Internet danh tiếng đều chịu đòn giáng nặng nề: giá trị vốn hóa của Cisco giảm từ 579,2 tỷ USD xuống còn 164,2 tỷ USD, Yahoo từ 93,7 tỷ USD tụt dốc còn 9,7 tỷ USD, còn Amazon giảm từ 22,8 tỷ USD xuống còn 4,2 tỷ USD. Nhà kinh tế học Joseph Stiglitz viết với giọng điệu không chút lạc quan: "Bong bóng đã vỡ, nền kinh tế rơi vào suy thoái. Kết cục này là điều không thể tránh khỏi – thập niên 90 ồn ào được xây dựng trên những nền tảng giả tạo cuối cùng cũng đến hồi kết."
Cùng với sự đổ vỡ của bong bóng Internet toàn cầu, vài công ty Trung Quốc niêm yết tại Mỹ cũng không thể tránh khỏi tai ương. Giá cổ phiếu của Sina rơi xuống mức thấp kỷ lục 1,06 USD, Sohu rớt xuống còn 60 cent, còn NetEase thậm chí thê thảm hơn khi có thời điểm giá chỉ còn 53 cent. Nền kinh tế Internet non trẻ của Trung Quốc sớm rơi vào "vực thẳm của sự vỡ mộng". Nhìn lại sau này, có lẽ đây là nỗi đau tất yếu phải trải qua, những chồi non mới nhú chỉ có thể trưởng thành sau khi đã kinh qua thử thách của sương giá.
Nhìn bao quát tình thế thiên hạ, sự sụp đổ của Nasdaq không gây ảnh hưởng quá lớn đến thực tế kinh tế Trung Quốc, trái lại còn tạo cơ hội để chúng ta "nước chảy đá lộ", phô diễn vị thế độc tôn.
Năm này là một năm thuận lợi đối với kinh tế Trung Quốc. Dưới sự thúc đẩy từ tin vui sắp gia nhập WTO, ngay từ đầu năm, kinh tế vĩ mô đã khởi sắc rõ rệt. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vượt ngưỡng 8,9 nghìn tỷ Nhân dân tệ, tăng trưởng 8% so với năm trước, hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp được cải thiện đáng kể. Điều đáng ngạc nhiên và phấn khởi nhất chính là các doanh nghiệp nhà nước vốn luôn trì trệ nay lại có màn thể hiện ấn tượng nhất. Số lượng doanh nghiệp giảm mạnh nhưng hiệu quả lại tăng vọt, cả năm đạt hơn 200 tỷ Nhân dân tệ lợi nhuận, tăng 140% so với cùng kỳ, lập kỷ lục về mức lợi nhuận cao nhất kể từ thập niên 90. Tất cả những điều này tất nhiên là thành quả từ chiến lược điều chỉnh "nhà nước rút lui, tư nhân tiến lên".
Cuộc cải cách bắt đầu từ hơn hai năm trước vẫn đang được tiến hành một cách kiên định nhưng không tránh khỏi sự rối ren. Như chúng ta đã mô tả trước đó, do Chính phủ Trung ương vẫn chưa đưa ra phương án cụ thể về cải cách làm rõ quyền sở hữu, nên các cuộc thử nghiệm tư nhân hóa ở các địa phương diễn ra theo kiểu "mỗi người một phép". Trong những lĩnh vực vốn do quốc doanh độc quyền, thay đổi cũng đang diễn ra nhưng theo cách thức khác biệt. Tạp chí "Doanh nhân Trung Quốc" tháng 9 đã mô tả ba sự thay đổi: Một là niêm yết quy mô lớn ra nước ngoài, China Telecom, China Unicom, PetroChina... lần lượt niêm yết thành công tại New York hoặc Hong Kong. Việc các công ty quốc doanh vốn bảo thủ tập thể "xông ra biển lớn" không chỉ đơn thuần là vấn đề huy động vốn nước ngoài, mà trong đó chứa đựng quyết tâm thay đổi chủ động cùng những lựa chọn đầy đau đớn. Hai là chia tách và tái cơ cấu quy mô lớn dựa trên việc phá vỡ độc quyền, tăng cường cạnh tranh. Trong tiếng chỉ trích của dư luận đối với các ngành như viễn thông, chính các "gã khổng lồ" đã lặng lẽ cầm dao phẫu thuật tự thực hiện cải tổ. China Telecom chia làm năm, PetroChina và Sinopec tách rời, Hàng không Trung Quốc ấp ủ tái cơ cấu, Tập đoàn Kim loại màu Trung Quốc giải thể tại chỗ, năm tập đoàn công nghiệp quân sự lớn của Trung Quốc chia làm mười. Hầu như tất cả các công ty quốc doanh lâu đời đều đang "chia nhà". Ba là tầng lớp doanh nhân tại các công ty quốc doanh bắt đầu lộ diện, dần thể hiện bản sắc của mình. Là những người trực tiếp vận hành hai cuộc cải cách lớn là niêm yết và tái cơ cấu, nhóm người vốn luôn khiêm tốn và cầu ổn định này đã bị đẩy lên đầu sóng ngọn gió, tiềm chất doanh nhân trong họ được khơi dậy và thể hiện chưa từng có. Truyền thông quốc tế cũng quan sát thấy sự thay đổi này, tờ "Asian Wall Street Journal" trong một bài bình luận cho rằng, những hành động mới của các doanh nghiệp độc quyền này cho thấy mô hình kinh tế của Trung Quốc đang trải qua sự thay đổi trọng yếu.
Biến cục trong ngành dầu khí chính là minh chứng rõ nét nhất cho nhận định trên. Năm 2000, mặt hàng đắt khách nhất cả nước là trạm xăng, ở một số nơi, giá của nó tăng vọt gấp ba, bốn lần chỉ trong một năm. Trạm xăng được săn đón không phải vì nó đặc biệt kiếm lời, mà vì có người đang điên cuồng tranh giành.
Ngành dầu khí là ngành trụ cột của nền kinh tế quốc dân. Theo quy tắc của WTO, sau khi gia nhập tổ chức này, Trung Quốc sẽ hạ thuế nhập khẩu dầu thành phẩm xuống 6% trong vòng một hai năm, mở cửa bán lẻ trong 3 năm và bán buôn trong 5 năm. Để ứng phó với tình thế cạnh tranh tất yếu đó, năm 1998, ngành dầu khí vốn đang độc quyền đã thực hiện một cuộc tái cơ cấu lớn, thành lập hai tập đoàn là China National Petroleum Corporation (CNPC - Trung Quốc Dầu khí) và Sinopec (Trung Quốc Hóa dầu). Theo quy hoạch lúc bấy giờ, hai doanh nghiệp này chia cắt tài nguyên mỏ dầu và tài sản nhà máy lọc dầu trên toàn quốc, về nghiệp vụ thì thực hiện "chia sông mà trị" với sông Trường Giang làm ranh giới. Phương án này nhìn qua vừa tạo thành cục diện doanh nghiệp tích hợp thượng nguồn và hạ nguồn, vừa tránh được sự cạnh tranh trực diện.
Sau khi hai tập đoàn dầu khí được thành lập, họ lập tức triển khai cuộc tranh giành các trạm xăng. Trong mắt những người ra quyết định, chỉ cần thu gom được tất cả các trạm xăng trước khi các tập đoàn dầu khí đa quốc gia tràn vào Trung Quốc, thì tự nhiên có thể tạo thành một "phòng tuyến Maginot", ít nhất cũng có không gian để đàm phán. Năm 2000, Sinopec tiên phong tuyên bố sẽ chi 25,1 tỷ Nhân dân tệ trong 5 năm để mua lại các trạm xăng (thực tế đến cuối năm 2003, con số này đã vượt quá 40 tỷ), CNPC ngay lập tức đưa ra kế hoạch mua lại tương tự. Theo nguyên tắc "chia sông mà trị", hai doanh nghiệp nên mua lại trên địa bàn của mình, nhưng thỏa thuận này nhanh chóng bị phá vỡ, các trạm xăng trên toàn quốc lập tức trở thành mục tiêu tranh cướp. Vào thời điểm đó, chi phí xây mới một trạm xăng tại các thành phố ven biển phát triển dao động từ 600.000 đến 1 triệu Nhân dân tệ. Trong cuộc chiến mua lại, do hai gã khổng lồ đua nhau trả giá khiến giá bán tăng cao, một số trạm "hot" đã tăng giá gấp 3-4 lần chỉ trong một năm. Theo báo cáo của tờ "Nam Phương Chuẩn Mạt", sự tranh giành bất chấp chi phí của hai bên đã đẩy giá thành lên cao. Tại Tứ Xuyên, chi phí mua lại một trạm xăng dao động từ 2 triệu đến 8 triệu Nhân dân tệ, còn tại Thâm Quyến, Quảng Châu, con số thường rơi vào khoảng 10 đến 15 triệu Nhân dân tệ. Tại thành phố Thạch Sư, tỉnh Phúc Kiến, vì một trạm xăng trung bình nằm ở vị trí đắc địa, Sinopec và CNPC đã tranh giành mười mấy hiệp. Đến cuối năm 2000, Sinopec tuyên bố đã tăng thêm hơn 9.000 trạm xăng trên toàn quốc, tức là mỗi ngày thu mua gần 30 trạm, nâng tổng số trạm xăng của tập đoàn lên hơn 25.000. CNPC cũng tăng thêm hơn 4.530 trạm, tổng số trạm đạt hơn 11.350. Ba năm sau đó, hầu hết trong số 80.000 trạm xăng trên cả nước đã rơi vào tay hai tập đoàn lớn, vốn tư nhân gần như rút lui hoàn toàn.