"Làm tốt thì một bước lên mây, làm không tốt thì rơi xuống địa ngục!" —— Liễu Truyền Chí, năm 2004.
Tiếng còi cảnh báo về điều tiết vĩ mô được vang lên vào tháng 12 năm 2003, còn "cửa xả lũ" chính thức được đóng lại vào tháng 4 năm sau.
Kể từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, các đợt điều tiết vĩ mô tại Trung Quốc đều có chung một "quy luật": nền kinh tế quá nóng gây ra tình trạng thiếu hụt năng lượng, dẫn đến sự tranh giành khốc liệt, từ đó Chính phủ trung ương sử dụng các biện pháp hành chính để điều tiết và tái phân phối đối với các doanh nghiệp thuộc những hình thức sở hữu khác nhau. Trong quá trình điều tiết và tái phân phối này, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đa quốc gia và doanh nghiệp tư nhân nhận được những "đẳng cấp" đãi ngộ chính sách khác nhau. Hiện tượng này cứ ba đến năm năm lại xuất hiện một lần, tạo nên chu kỳ kinh tế trong suốt 30 năm qua. Đợt điều tiết vĩ mô năm 2004 rõ ràng cũng không nằm ngoài logic chính sách như vậy.
Căn cứ để Chính phủ trung ương thực hiện điều tiết vĩ mô là vì nền kinh tế vĩ mô xuất hiện viễn cảnh quá nóng đáng lo ngại, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp nặng và hóa chất, tốc độ tăng trưởng đầu tư đã đến mức buộc phải kiểm soát. Dữ liệu cho thấy, năm 2002, tổng vốn đầu tư của ngành thép cả nước là 71 tỷ Nhân dân tệ, tăng 45,9% so với năm trước; năm 2003, con số này đạt 132,9 tỷ Nhân dân tệ, tăng trưởng đầu tư 96%. Tương tự ngành thép, đầu tư vào nhôm điện phân tăng 92,9%, đầu tư xi măng tăng 121,9%. Đầu tư vĩ mô quá nóng dần trở thành nhận thức chung của tầng lớp hoạch định chính sách. Cuối năm 2003, tiếng còi cảnh báo cuối cùng đã vang lên. Ngày 23 tháng 12, Văn phòng Quốc vụ viện ban hành văn bản số 103 [2003], tức "Thông báo của Văn phòng Quốc vụ viện chuyển tiếp ý kiến của Ủy ban Phát triển và Cải cách cùng các cơ quan hữu quan về việc ngăn chặn đầu tư mù quáng trong các ngành thép, nhôm điện phân và xi măng", yêu cầu các địa phương vận dụng nhiều biện pháp để nhanh chóng kiềm chế đà đầu tư mù quáng và xây dựng trùng lặp ở trình độ thấp. Tháng 1 năm sau, Văn phòng Quốc vụ viện tiếp tục ban hành văn bản: "Thông báo của Văn phòng Quốc vụ viện về việc triển khai kiểm tra chuyên đề tình hình quán triệt thực hiện tinh thần Hội nghị Công tác Kinh tế Trung ương". Ngày 4 tháng 2, Quốc vụ viện tổ chức hội nghị truyền hình trực tuyến chuyên đề về việc kiểm soát chặt chẽ đầu tư quá mức trong một số ngành, yêu cầu rõ ràng phải tiến hành thanh lọc và kiểm tra ba ngành lớn là thép, nhôm điện phân và xi măng. Quốc vụ viện lập tức tổ chức nhân sự từ Tổng cục Kiểm toán, Ủy ban Phát triển và Cải cách, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên Đất đai, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhân dân... thành 8 đoàn kiểm tra đi khắp các địa phương để rà soát. Trọng tâm thanh tra chính là những doanh nghiệp tư nhân đã nhảy vào ba ngành lớn này để đầu tư mù quáng.
Đối tượng đầu tiên chịu ảnh hưởng là dự án nhôm điện phân của Lưu Vĩnh Hành. Cuối tháng 11 năm 2003, tin tức truyền ra cho biết dự án tại Bao Đầu và dự án tại Tam Môn Hiệp của Tập đoàn Đông Phương đều đã bị yêu cầu đình chỉ. Một quan chức thuộc Vụ Luyện kim, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nói với phóng viên: "Rất nhiều thủ tục phê duyệt của họ không đầy đủ, vi phạm pháp luật liên quan của quốc gia, các cơ quan chức năng đã yêu cầu dừng dự án nhôm điện phân của Đông Phương Hy Vọng tại Bao Đầu, còn công trình alumin tại Tam Môn Hiệp là dự án cung cấp sản phẩm đầu nguồn cho Bao Đầu, hiện tại cũng đã ngừng thi công để chờ thẩm tra."
Giống như các đợt điều tiết vĩ mô trước đây, luôn có những người trở thành "vật tế thần" xui xẻo. Chúng ta từng ghi chép về Niên Quảng Cửu của "Ngốc Tử Qua Tử", "Ôn Châu Bát Đại Vương", Trịnh Lạc Phân... nay danh sách này lại phải thêm một cái tên nữa, đó chính là Đới Quốc Phương, người đang làm ăn rầm rộ bên bờ sông Trường Giang. Điều kịch tính là, việc Đới Quốc Phương lọt vào "tâm bão" lại là một sự cố ngoài ý muốn.
Đầu tháng 2 năm đó, vài phóng viên Tân Hoa Xã đến Giang Tô khảo sát. Đề tài khảo sát của họ là vấn đề chiếm dụng đất để xây dựng sân golf và đại học thành ở các nơi. Trong lúc phỏng vấn tại Nam Kinh, một chuyên gia vô tình nói một câu: "Thường Châu có một doanh nghiệp đang xây nhà máy thép bên bờ sông Trường Giang". Người nói vô tâm nhưng người nghe hữu ý, các phóng viên trực giác cho rằng xây nhà máy thép chắc chắn cần lượng đất lớn, có lẽ cũng có vấn đề chiếm dụng đất trái phép. Họ gọi điện hỏi Bộ Tài nguyên Đất đai và nhận được câu trả lời rằng Bộ không hề biết về dự án này. Thế là, các phóng viên quay sang Thường Châu, dọc theo con sông tìm đến công trường nhà máy thép. Ngày 9 tháng 2, một tài liệu tham khảo nội bộ với tiêu đề "Ba nghìn mẫu đất chưa đền bù đã sử dụng, đánh giá môi trường chưa phê duyệt đã khởi công" được gửi đến cấp cao nhất của Trung ương. Không lâu sau, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, Bộ Tài nguyên Đất đai và Tổng cục Bảo vệ Môi trường đã phái đoàn điều tra đến Thường Châu.
Trong bối cảnh điều tiết vĩ mô, vấn đề của Thiết Bản nhanh chóng chuyển từ phá ruộng chiếm đất sang xây dựng trái quy định. Đới Quốc Phương, người đang ở trong tâm bão, bắt đầu trở nên bồn chồn lo lắng, chính anh cũng không hiểu tại sao mọi chuyện lại ngày càng tồi tệ hơn. Những ngày đó, anh chạy đôn chạy đáo khắp công trường. Theo dự toán của anh, đến cuối tháng 5, lò cao đầu tiên của nhà máy thép có thể xây xong và đưa vào sản xuất ngay, đến lúc đó "gạo đã nấu thành cơm". Anh nói với cấp dưới: "Dự án lớn thế này, xây xong là xong, nhiều nhất là bị phạt tiền, không thể nào dỡ bỏ được." Tuy nhiên, tình hình nghiêm trọng hơn nhiều so với tưởng tượng của anh. Kể từ sau thông báo của Quốc vụ viện tháng 12 năm trước, đầu tư dự án công nghiệp nặng và hóa chất ở các nơi không hề có dấu hiệu hạ nhiệt. Theo số liệu của Cục Thống kê Quốc gia, đầu tư tài sản cố định toàn quốc trong quý I vẫn tăng 43% so với cùng kỳ, lập mức tăng trưởng cao nhất kể từ giữa thập niên 90, trong đó mức tăng đầu tư ngành thép lên tới con số kinh hoàng 107%. Lúc này, dự án Thiết Bản với nhiều nghi vấn trọng đại như chiếm dụng đất trái phép, xây dựng trái quy định đã lộ diện, trở thành đối tượng trừng phạt thích hợp nhất và điển hình nhất.
Đối mặt với cuộc điều tra rầm rộ, Đới Quốc Phương chưa từng đối phó với cảnh tượng lớn bao giờ nên đã mất phương hướng. Anh cùng các quân sư của mình "ngây thơ" cho rằng vấn đề của Thiết Bản có lẽ dùng tiền là có thể dàn xếp ổn thỏa. Thế là, anh đệ trình lên cấp trên một bản "Báo cáo tự kiểm tra", trong đó viết: "Công ty chúng tôi trong quá trình tiếp nhận điều tra của các cơ quan chức năng về việc đầu tư trái quy định và sử dụng đất trái quy định, đã tự kiểm tra tài chính và phát hiện các vấn đề vi phạm pháp luật trong quá trình kinh doanh - từ khi thành lập công ty năm 2000, chúng tôi đã thu mua sắt thép phế liệu từ Công ty Tái chế Vật tư Thường Châu và Công ty Tái sinh Vật tư Vũ Tiến với giá trị hơn một tỷ Nhân dân tệ, trong đó có hóa đơn khống gần 200 triệu, khấu trừ thuế gần 20 triệu... Người đại diện pháp luật Đới Quốc Phương sơ suất trong quản lý nên phải chịu trách nhiệm liên quan." Bản báo cáo tự kiểm tra với mục đích "dùng tiền tiêu tai" này là nỗ lực cuối cùng của Đới Quốc Phương nhằm cứu vãn Thiết Bản, anh đã nhanh chóng nộp bù số thuế khấu trừ cho Cục Thuế địa phương. Điều nằm ngoài dự đoán của anh chính là, bản báo cáo tự kiểm tra này hai năm sau lại trở thành bằng chứng cáo buộc đanh thép nhất của Viện Kiểm sát.
Ngày 20 tháng 3, dưới áp lực khủng khiếp, thành phố Thường Châu thành lập nhóm lãnh đạo công tác thanh lọc dự án Thiết Bản, khẩn cấp ban hành lệnh ngừng thi công. Cuối tháng, lãnh đạo Quốc vụ viện đến Tô Châu, Bí thư Thành ủy và Thị trưởng Thường Châu bị triệu tập đến để báo cáo về dự án Thiết Bản và các vấn đề phát sinh từ đó. Đầu tháng 4, một đoàn kiểm tra chuyên đề gồm 9 bộ ngành đổ bộ xuống Thường Châu để kiểm tra toàn diện dự án Thiết Bản. Đây là lần thứ hai kể từ sau "Sự kiện Liễu Thị" ở Ôn Châu năm 1991, các bộ ngành Trung ương mới có một hành động liên kết chưa từng có tiền lệ nhắm vào một dự án địa phương. Ngày 19, Đới Quốc Phương cùng vợ, bố vợ và 10 người khác bị cảnh sát bắt đi với lý do "nghi ngờ trốn thuế, và con số có thể rất lớn".
Ngày 28 tháng 4, 9 bộ ngành báo cáo tình hình xử lý tại cuộc họp thường vụ Quốc vụ viện, định tính đây là: "Đây là một vụ án trọng điểm điển hình về việc chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan tắc trách nghiêm trọng, vi phạm quy định, doanh nghiệp nghi ngờ phạm tội vi phạm pháp luật." Ngày hôm sau, Tân Hoa Xã phát đi bài viết cho toàn quốc, liệt kê 5 vấn đề lớn của Thiết Bản mà đoàn điều tra liên ngành đã xác định: Chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan vi phạm nghiêm trọng pháp luật và quy định nhà nước, vượt quyền chia nhỏ dự án có vốn đầu tư lên tới 10,59 tỷ Nhân dân tệ thành 22 lần để phê duyệt; phê duyệt trái quy định việc trưng dụng 6.541 mẫu đất, tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng trái quy định; Công ty Thiết Bản thông qua việc cung cấp báo cáo tài chính giả mạo để lừa đảo tín dụng và vay vốn ngân hàng, chiếm dụng hơn 2 tỷ Nhân dân tệ vốn lưu động ngân hàng để đầu tư tài sản cố định; các tổ chức tài chính liên quan vi phạm nghiêm trọng quy định về thẩm định cho vay tài sản cố định và quản lý tiền mặt của nhà nước; Công ty Thiết Bản trốn thuế nghiêm trọng.
Việc xử lý hành chính đối với sự kiện Thiết Bản cũng chưa từng có tiền lệ, 8 lãnh đạo chính quyền và quan chức ngân hàng bị trừng trị nghiêm khắc. Trong đó, Bí thư Thành ủy Thường Châu Phạm Yến Thanh bị cảnh cáo nghiêm trọng trong Đảng; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhân dân thành phố Thường Châu Cố Hắc Lang bị bãi miễn và chịu kỷ luật lưu đảng xem xét; Bí thư Thành ủy Dương Trung Hoạn Tường Bảo bị cách chức; Phó Giám đốc Sở Tài nguyên Đất đai tỉnh Giang Tô Vương Minh Tường, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Phát triển và Cải cách tỉnh Tần Nhạn Giang, Giám đốc Ngân hàng Trung Quốc chi nhánh Thường Châu Vương Kiến Quốc... đều bị cách chức hoặc bị buộc từ chức. Tài sản 80.000 Nhân dân tệ của gia đình Đới Quốc Phương bị niêm phong.
Công ty Thiết Bản bị xử lý rầm rộ là một sự kiện mang tính biểu tượng của đợt điều tiết vĩ mô năm 2004. Tờ "Nhân dân Nhật báo" trong bài xã luận tiêu đề "Kiên quyết bảo vệ sự thông suốt của mệnh lệnh điều tiết vĩ mô" đã viết bằng giọng điệu cứng rắn: "Quốc vụ viện yêu cầu tỉnh Giang Tô và các cơ quan liên quan xử lý nghiêm túc những người chịu trách nhiệm liên quan đến vụ án này là biện pháp quan trọng để thực thi pháp luật nghiêm minh, bảo vệ sự thông suốt của mệnh lệnh điều tiết vĩ mô." Xã luận đồng thời yêu cầu: "Các địa phương, các bộ ngành phải quán triệt thực hiện không chút khoan nhượng các biện pháp điều tiết vĩ mô mà Trung ương đã xác định, hiện tại đặc biệt phải nắm chặt hai cửa xả là cung ứng tín dụng và cung ứng đất đai, kiểm soát hiệu quả quy mô đầu tư. Nghiêm túc thanh lọc các dự án đang xây dựng, kiểm soát chặt chẽ các dự án mới, kiên quyết khắc phục xu hướng so bì lẫn nhau, mù quáng theo đuổi tốc độ." Bài xã luận này đã phơi bày hoàn toàn vai trò của Thiết Bản trong đợt điều tiết vĩ mô lần này. Sự kiện Thiết Bản được coi là cột mốc phân chia của đợt điều tiết này, sau đó, hàng loạt dự án đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong các ngành thép, nhôm điện phân và xi măng lần lượt bị đình trệ. [Ngày 28 tháng 3 năm 2006, sau hai năm Đới Quốc Phương bị giam giữ, vụ án Thiết Bản được đưa ra xét xử tại Tòa án Nhân dân Trung cấp thành phố Thường Châu. Tội danh bị cáo buộc đối với Đới Quốc Phương là "Tội xuất hóa đơn khấu trừ thuế khống", các bằng chứng cáo buộc của Viện Kiểm sát đều đến từ bản báo cáo tự kiểm tra đó, "năm tội danh" từng được đóng đinh trước đây không hề có tội nào bị cáo buộc.]
Đợt điều tiết vĩ mô sấm sét cũng đồng thời "ra tay" với bất động sản. Cơn sốt địa ốc trực tiếp kéo giá tư liệu sản xuất tăng vọt, trong khi giá nhà không ngừng tăng cao đã khiến một lượng lớn cư dân bình thường không thể mua nổi nhà, sự bất bình của người dân dần trở nên sôi sục. Từ tháng 3 đến tháng 5, Quốc vụ viện tung ra một loạt biện pháp điều tiết nghiêm khắc, bao gồm: kiểm soát lượng phát hành tiền tệ và quy mô cho vay; quản lý chặt chẽ đất đai, kiên quyết ngăn chặn việc chiếm dụng đất canh tác bừa bãi; nghiêm túc thanh lọc và chấn chỉnh các dự án đang xây và dự án mới; triển khai các hoạt động tiết kiệm tài nguyên trên phạm vi toàn quốc. Một loạt văn bản và biện pháp như những "kim bài" nối tiếp nhau xuất hiện: ngày 25 tháng 3, đưa ra chế độ lãi suất thả nổi tái cho vay; ngày 25 tháng 4, Ngân hàng Trung ương tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng thêm 0,5 điểm phần trăm; ngày 27 tháng 4, Ngân hàng Trung ương yêu cầu các ngân hàng thương mại tạm dừng "cho vay đột kích" bằng hình thức thông báo điện thoại vô cùng hiếm gặp; ngày 29 tháng 4, Văn phòng Quốc vụ viện ban hành thông báo "Quản lý chặt chẽ đất đai"; ngày 30 tháng 4, Thủ tướng Ôn Gia Bảo phát biểu "Thúc đẩy cải cách ngân hàng là nhiệm vụ cấp bách của toàn bộ cải cách tài chính"; ngày 1 tháng 5, Ủy ban Điều tiết Ngân hàng công bố 7 biện pháp "tăng cường hơn nữa quản lý rủi ro cho vay". Đồng thời, các báo đài lớn trong nước cũng thi nhau đăng tải ý kiến, phản tư về sự quá nóng của bất động sản, thậm chí là lên án dữ dội đầy cảm tính...
Chuỗi đòn phối hợp của các chính sách thắt chặt và sự tạo dựng dư luận mạnh mẽ này không chỉ thay đổi kỳ vọng thu nhập của nhà đầu tư và kỳ vọng giá mua nhà của người tiêu dùng, mà còn thay đổi tư duy và phương thức hỗ trợ của chính phủ đối với sự phát triển bất động sản, từ đó trực tiếp dẫn đến sức mua sụt giảm nhanh chóng và khối lượng giao dịch thị trường nhà đất co hẹp tức thì.
Mùa đông của bất động sản đột ngột ập đến.
Cùng với sự lạnh đi đột ngột của kinh tế vĩ mô, một sự thật đồng hành hầu như không có gì bất ngờ chính là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán. Ngày 3 tháng 4, ngay trong cơn sóng gió, Tập đoàn Đức Long, nơi được mệnh danh là "doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Trung Quốc", đã tổ chức cuộc họp quản lý cấp cao cuối cùng, Chủ tịch Đường Vạn Tân cảm thấy "ngày tận thế" thực sự sắp ập đến. Ngày này cũng chính là sinh nhật lần thứ 40 của ông.
Trong vài năm qua, Đức Long luôn là doanh nghiệp tư nhân cao điệu nhất và cũng bí ẩn nhất trong giới thương mại Trung Quốc. Để duy trì hình ảnh cổ phiếu giá cao của hệ thống Đức Long, Đường Vạn Tân đã chọn chiến lược mở rộng mạo hiểm và cấp tiến. Ông đưa ra hết dự án đầu tư này đến dự án đầu tư khác với quy mô kinh ngạc, bao gồm dự án đầu tư 10 tỷ Nhân dân tệ vào tập đoàn siêu thị nông thôn, đầu tư 6-10 tỷ Nhân dân tệ vào tập đoàn xe tải nặng lớn nhất Trung Quốc, đầu tư 5,5 tỷ Nhân dân tệ vào dự án chăn nuôi và du lịch. Những dự án hạng nặng này như những quả pháo sáng đầy năng lượng, khiến người ta lóa mắt, không dám nhìn thẳng. Tháng 11 năm 2002, anh cả của nhà họ Đường là Đường Vạn Lý được bầu làm Phó Chủ tịch Liên đoàn Công thương toàn Trung Quốc. Ông tuyên bố với truyền thông: "Đức Long sẽ lọt vào 'Top 500 thế giới' trong vòng ba năm". Lúc này, Đức Long trông như đang ở trên đỉnh cao huy hoàng, họ tuyên bố kiểm soát khối tài sản 120 tỷ Nhân dân tệ, sở hữu hơn 500 doanh nghiệp và 300.000 nhân viên, nhúng tay vào hơn hai mươi lĩnh vực, trông như một "hàng không mẫu hạm" trong các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc. Thế giới bên ngoài vẫn luôn không hiểu rõ tình trạng thực tế của Đức Long, mãi cho đến tháng 1 năm 2004, trong danh sách "50 doanh nghiệp kiểm soát vốn hàng đầu năm 2003" do Hồ Nhuận công bố, anh em họ Đường của Đức Long vẫn đứng đầu danh sách với giá trị thị trường của các công ty niêm yết mà họ kiểm soát là 21,7 tỷ Nhân dân tệ.
Nhưng thực tế, Đức Long đã bệnh nặng vào giai đoạn cuối. Sau này, Đường Vạn Tân thừa nhận: "Sau năm 2001, công việc mỗi ngày của tôi là xử lý khủng hoảng". Để không cho giá cổ phiếu hệ thống Đức Long rơi tự do, ông đã rơi vào cuộc chiến khổ sở. Việc điều phối vốn trở thành việc quan trọng hàng đầu để tồn tại của Đức Long, công ty hình thành một chế độ "Hội nghị cân đối vốn", họp đúng 3 giờ chiều mỗi ngày, bất kể mưa gió. Đường Vạn Tân là người điều phối tổng của "Hội nghị cân đối vốn", ông đích thân chủ trì cuộc họp mỗi ngày, các tổ chức tài chính trực thuộc viết mức độ khủng hoảng, dữ liệu và "số dư" trong ngày lên bảng, sau đó Đường Vạn Tân căn cứ theo mức độ rủi ro để quyết định từng khoản, quyết định khoản tiền nào giải quyết cuộc khủng hoảng nào, chính xác đến từng 1 Nhân dân tệ. Quá trình Đường Vạn Tân chốt quyết định thường kết thúc trong 10 phút, sau đó bảng thống kê của "Hội nghị cân đối vốn" trong ngày sẽ được đưa vào máy hủy giấy để tránh lọt ra ngoài và để lại hồ sơ.
Nỗ lực cuối cùng của Đường Vạn Tân là cố gắng thâm nhập trực tiếp vào các ngân hàng thương mại ở thành phố địa phương. Khả năng vay vốn từ các ngân hàng thương mại lớn của Đức Long ngày càng nhỏ, trong khi các ngân hàng thương mại thành phố trong nước có tới hơn một trăm, tổng tài sản 550 tỷ Nhân dân tệ, tiền gửi 450 tỷ Nhân dân tệ. Nếu có thể thâm nhập, Đức Long sẽ thực sự hình thành mô hình tập đoàn kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư thực nghiệp và tài chính, đồng thời có khả năng tẩy trắng bản thân hoàn toàn. Tháng 6 năm 2002, Đức Long thông qua 6 công ty ma để nắm quyền kiểm soát Ngân hàng Thương mại thành phố Côn Minh, trở thành cổ đông lớn với tổng tỷ lệ nắm giữ gần 30%. Tháng 9, thông qua Tương Hỏa Cự, họ chi tiền mua lại 11,73% tổng vốn cổ phần sau khi tăng vốn của Ngân hàng Thương mại thành phố Chu Châu, đồng thời còn nhúng tay vào Ngân hàng Thương mại thành phố Trường Sa và Ngân hàng Thương mại thành phố Nam Xương. Trong vòng chưa đầy một năm, Đức Long đã đạt được thỏa thuận nắm quyền kiểm soát hoặc tham gia cổ phần với ít nhất 6 ngân hàng thương mại thành phố. Trong năm 2003 khi các doanh nghiệp tư nhân đang ca khúc khải hoàn, sự thâm nhập của Đức Long vào ngành tài chính được coi là nỗ lực của vốn tư nhân nhằm tiến vào các lĩnh vực độc quyền. Đối với Đường Vạn Tân, mục đích của ông thực ra chỉ có ba. Thứ nhất, sau khi vào hội đồng quản trị ngân hàng, có thể lấy danh nghĩa các dự án và công ty liên quan để lấy vốn từ đó. Thực tế sau này cũng đúng như vậy, số vốn vay mà Đức Long nhận được từ một ngân hàng thương mại thành phố ở Sơn Đông đã lên tới con số khổng lồ 4 tỷ Nhân dân tệ. Thứ hai, xào xáo khái niệm tham gia tài chính trên thị trường chứng khoán để hỗ trợ và kích thích cổ phiếu hệ thống Đức Long vốn đã lộ rõ vẻ mệt mỏi. Thứ ba, nếu tham gia cổ phần thành công, thậm chí ngân hàng thương mại thành phố được phép niêm yết, thì chiến lược "kết hợp sản xuất và tài chính" của Đức Long sẽ thành công chỉ trong một lần.
Tuy nhiên đến đầu năm 2004, tình trạng khó khăn về vốn của Đức Long vẫn không được cải thiện, Đường Vạn Tân lần lượt cầm cố những tài sản có chất lượng tốt trong hệ thống Đức Long cho ngân hàng nhưng vẫn không thể giải tỏa được nguy cơ mất máu trầm trọng. Chính vào thời điểm này, cửa xả lũ điều tiết vĩ mô đột ngột đóng lại, đồng thời báo cáo xin thâm nhập vào ngân hàng thương mại thành phố của Đức Long bị Ủy ban Điều tiết Ngân hàng bác bỏ. Tình thế cuối cùng đã xấu đi đến mức không thể kiểm soát. Ngày 2 tháng 4, cuộc họp cuối cùng của toàn bộ lãnh đạo cấp cao trong lịch sử Đức Long được tổ chức trong bầu không khí ảm đạm, cuộc họp quyết định "hành động tự cứu" cuối cùng, phát động tất cả nhân viên các cơ quan Đức Long đi mua "ba cổ phiếu cũ", quản lý bộ phận mua 10.000 cổ phiếu, nhân viên bình thường mua 1.000 cổ phiếu. Đứng trước ngưỡng cửa "tuổi 40", Đường Vạn Tân buồn bã nói: "Cửa ải này vượt qua được, Đức Long sẽ có tương lai tươi sáng hơn, nếu không vượt qua được, mọi người sẽ không còn cơ hội ngồi lại họp cùng nhau nữa."
Thảm họa thực sự bắt đầu chính thức từ 10 ngày sau đó. Đầu tiên là Hợp Kim Đầu Tư tiên phong giảm kịch trần, tiếp đó "ba cổ phiếu cũ" đồng loạt lao dốc, trong vài tuần, thị trường chứng khoán đã xóa sạch mọi kỳ tích và tài sản trên giấy tờ mà Đức Long tạo ra trong 5 năm qua, giá trị thị trường lưu thông giảm từ mức cao nhất 20,68 tỷ Nhân dân tệ xuống còn 5,006 tỷ Nhân dân tệ vào ngày 25 tháng 5 năm 2004, bốc hơi gần 16 tỷ Nhân dân tệ chỉ trong chớp mắt. [Tháng 7 năm đó, Chính phủ trung ương quyết định giao cho Công ty Quản lý Tài sản Hoa Dung toàn quyền quản lý các vấn đề nợ phải thu và nợ phải trả của Đức Long, Đức Long bị chia tách bán lẻ. Tháng 12, Viện Kiểm sát thành phố Vũ Hán bắt giữ Đường Vạn Tân với lý do "nghi ngờ huy động vốn trái phép từ công chúng". Tháng 4 năm 2006, Đường Vạn Tân bị kết án 8 năm tù giam và phạt 400.000 Nhân dân tệ vì hai tội danh "tội huy động vốn trái phép từ công chúng" và "tội thao túng giá giao dịch chứng khoán".]
Hệ thống Đức Long giống như một con quái vật què quặt, sự sụp đổ đáng sợ của nó nhanh chóng làm liên lụy đến thị trường chứng khoán vốn đang nơm nớp lo sợ. Đầu năm, hai thị trường Thượng Hải và Thâm Quyến từng mở ra một mùa xuân nhỏ, chỉ số chứng khoán Thượng Hải tăng từ 1.307 điểm vào tháng 11 năm 2003 lên 1.783 điểm vào ngày 7 tháng 4 năm đó. Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện của điều tiết vĩ mô, thị trường chứng khoán phản ứng bằng cách lao dốc. Dưới hiệu ứng giảm giá điên cuồng của hệ thống Đức Long, thị trường tràn ngập tiếng than khóc, chỉ số chứng khoán liên tục phá vỡ các ngưỡng hỗ trợ, phá vỡ các cột mốc lịch sử và tâm lý như 1.300 điểm. Đến cuối năm, chỉ số tổng hợp Thượng Hải và chỉ số tổng hợp Thâm Quyến lần lượt đóng cửa ở mức 1.266,5 điểm và 315,81 điểm, giảm lần lượt 15,4% và 16,6% so với đầu năm, lập mức thấp mới kể từ năm 2000.
Trong lịch sử doanh nghiệp 30 năm, 2004 là "năm sụp đổ" thứ hai sau năm 1997, các doanh nghiệp tư nhân hiên ngang tiến vào các ngành độc quyền thượng nguồn hầu như bị xóa sổ hoàn toàn, còn những doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro vĩ mô cũng phải trả học phí đắt đỏ. Ngoài Thiết Bản và Đức Long, các doanh nghiệp tư nhân lớn khác liên tiếp bùng nổ khủng hoảng trọng yếu còn có Thác Phổ trong ngành IT, Thuận Trì trong ngành bất động sản, cũng như Khoa Long do Cố Sồ Quân tiếp quản và Kiện Lực Bảo do Trương Hải thu mua...
Trong đợt điều tiết vĩ mô lần này, sự uy nghiêm của các biện pháp hành chính nằm ngoài dự đoán của đại đa số người quan sát. Trong một hội nghị thường niên vào tháng 1, Ngô Kính Liên cho rằng "kinh tế Trung Quốc sẽ ở vào một cột mốc quan trọng", đối mặt với đầu tư quá nóng, bắt buộc phải thực hiện các biện pháp điều tiết vĩ mô, tuy nhiên, "nên chủ yếu áp dụng các biện pháp kinh tế thị trường, chứ không phải dựa vào sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào kinh tế vi mô. Bởi vì chính phủ can thiệp vào kinh tế vi mô, sử dụng các biện pháp hành chính để phân bổ nguồn lực thường là công dã tràng, thậm chí sẽ gây ra thiệt hại lớn cho hiệu quả kinh tế."
Tuy nhiên, đối với Chính phủ trung ương, việc áp dụng các biện pháp can thiệp trực tiếp cứng rắn như vậy dường như cũng là không còn lựa chọn nào khác.