Nhiều dấu hiệu cho thấy, ngay từ đầu, các cấp ra quyết định đã cố gắng áp dụng phương thức đòn bẩy tài chính ôn hòa hơn, nhưng các doanh nghiệp và chính quyền địa phương lại làm ngơ trước điều đó. Ngay tại thời điểm chính phủ trung ương nhiều lần ra lệnh trì hoãn "kích cầu đầu tư", tăng trưởng đầu tư tài sản cố định toàn xã hội trong quý một năm đó vẫn lập nên kỷ lục mới. Nhận định của Cục Thống kê Quốc gia là: một phần đáng kể nguyên nhân nằm ở chỗ, sau khi tín hiệu thắt chặt đầu tư từ trung ương được phát đi, chính quyền địa phương vì lợi ích của khu vực mình đã tranh thủ thời gian triển khai dự án, đẩy nhanh tiến độ, muốn chen chân vào cửa trước khi trung ương đóng cửa.
Một quan chức thuộc đoàn điều tra của Quốc vụ viện từng tiết lộ một chi tiết với truyền thông: họ vừa mới lên đường trở về Bắc Kinh vào buổi sáng, thì ngay buổi chiều hôm đó, lãnh đạo chủ chốt của địa phương đã công khai chỉ đạo cấp dưới tại cuộc họp rằng cứ làm những gì cần làm, "chẳng lẽ chỉ vì xây mấy cái nhà máy điện, nhà máy thép mà tước bỏ mũ quan của tôi sao?". Ngày 25 tháng 4, Ngô Hiểu Linh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, khi tham gia Diễn đàn Bác Ngao châu Á tại Hải Nam đã công khai lên tiếng: "Các giới đừng đối đầu với Ngân hàng Trung ương. Đừng vì Ngân hàng Trung ương hiện tại ra tay còn khá ôn hòa mà muốn tranh thủ cơ hội này để 'làm một vố'... Hy vọng các cơ quan hữu quan tự giác kiểm soát, tránh để mâu thuẫn gay gắt dẫn đến việc Ngân hàng Trung ương phải áp dụng những biện pháp cứng rắn hơn mà mọi người không hề muốn thấy, điều đó không tốt cho bất kỳ ai."
Nhà kinh tế học Triệu Hiểu bày tỏ sự nghi ngờ về hiệu quả từ cách làm này của Ngô Hiểu Linh: "Điều tiết vĩ mô từ trước đến nay luôn là một dạng phân bổ lợi ích. Mâu thuẫn sâu xa mà việc điều tiết vĩ mô hiện nay phản ánh chính là sự giằng co giữa lợi ích trung ương và địa phương: một mặt, trung ương sợ địa phương, doanh nghiệp và ngân hàng liên kết lại để lừa dối mình, sợ vật giá tăng toàn diện, sợ phải gánh chịu hậu quả của việc kinh tế quá nóng; mặt khác, địa phương và tư nhân lại muốn bắt kịp chuyến tàu tăng trưởng kinh tế lần này, đặc biệt là phải tranh thủ chen chân vào cửa trước khi trung ương đóng cửa. Điều này đã làm trầm trọng thêm xu thế mở rộng đầu tư hiện nay, còn về sự dư thừa và nguy cơ suy thoái kinh tế dẫn đến sau đầu tư, đó không nằm trong phạm vi cân nhắc của địa phương và doanh nghiệp."
Rõ ràng, trong một cục diện giằng co như vậy, nếu trung ương không tiến hành điều tiết vĩ mô, thì các khoản nợ xấu cuối cùng sẽ do Ngân hàng Trung ương gánh chịu; nếu trung ương tiến hành điều tiết vĩ mô, thì những tổn thất và chi phí mang lại gần như hoàn toàn do địa phương gánh vác. Trong quá trình giằng co với các mối quan hệ lợi ích đan xen phức tạp, mâu thuẫn sâu xa của sự phát triển kinh tế Trung Quốc đã lộ rõ hoàn toàn, các tập đoàn vốn nhà nước khổng lồ cùng lợi ích chính quyền địa phương liên đới đã hình thành nên một "lực lượng khống chế" đáng kinh ngạc. Chính phủ trung ương cuối cùng sau một thời gian do dự đã tung ra những đòn mạnh tay.
Cơn bão điều tiết vĩ mô dữ dội xảy ra vào thời điểm giao mùa xuân hè này đã khiến các nhà quan sát quốc tế cũng đôi chút lúng túng. Ngay đầu tháng 5, khi các chính sách thắt chặt liên tiếp được ban hành, tờ "New York Times" đã đăng bài viết của cây bút chuyên mục Thomas Friedman, cho rằng: "Những ngày này, lãnh đạo các nước Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và các quốc gia châu Á chủ chốt trước khi ngủ đều phải cầu nguyện cho kinh tế Trung Quốc. Thế giới dần bị trói buộc bởi sức mạnh vốn khổng lồ mà Trung Quốc có được nhờ vào lao động giá rẻ, nhu cầu nguyên liệu thô và vốn nước ngoài. Một khi bong bóng Trung Quốc vỡ, tất cả bong bóng trên thế giới sẽ cùng nhau nổ tung".
Ngày 27 và 28 tháng 5, chính phủ Hàn Quốc liên tiếp triệu tập các cuộc họp khẩn cấp để phân tích những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với Hàn Quốc khi Trung Quốc có kế hoạch đạp "phanh" đối với nền kinh tế quá nóng. Các học giả Hàn Quốc nhận định, Trung Quốc chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu và 88% thặng dư cán cân thương mại của Hàn Quốc, nếu chính phủ Trung Quốc áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để tránh tình trạng quá nóng, dự kiến xuất khẩu của Hàn Quốc sẽ giảm mạnh. Ngay cả Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan vốn luôn thận trọng trong phát ngôn cũng công khai bày tỏ lo ngại, ông nói trong bài diễn thuyết tại Thượng viện liên bang: "Nếu Trung Quốc xuất hiện vấn đề, đối với các nền kinh tế Đông Nam Á và Nhật Bản, và gián tiếp đối với chúng ta, đều sẽ gây ra ảnh hưởng rất lớn."
Tuy nhiên, xu thế kinh tế Trung Quốc một lần nữa khiến các học giả toàn cầu phải ngỡ ngàng. Quý ba năm đó, Ngân hàng Phát triển châu Á từng dự đoán tăng trưởng GDP cả năm của Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 8,3%, còn số liệu của Bộ Thương mại Trung Quốc thậm chí còn bảo thủ hơn ở mức 7,5%. Thế nhưng, số liệu cuối cùng của Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, tăng trưởng GDP năm 2004 vẫn cao tới 10,1%, là năm tăng trưởng nhanh nhất kể từ sau năm 1996, đầu tư tài sản cố định toàn xã hội đạt 7 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 25,8% so với năm trước, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc vượt quá 1 nghìn tỷ USD. "Tỷ lệ tăng trưởng GDP năm 2004 ban đầu được công bố là 9,5%, ngang bằng với năm 2003. Tháng 1 năm 2006, Cục Thống kê Quốc gia dựa trên số liệu điều tra kinh tế mới đã tiến hành sửa đổi số liệu lịch sử GDP, số liệu năm 2003 và 2004 lần lượt được sửa thành 10% và 10,1%." Điều này cho thấy kinh tế Trung Quốc vẫn đang nằm trong kênh phát triển tốc độ cao. Trong chương trình "Báo cáo kinh tế thường niên Trung Quốc" của Đài Truyền hình Trung ương, Giáo sư Hồ An Cương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tình hình Quốc gia Trung Quốc thuộc Đại học Thanh Hoa, đã lý giải về điều này: "Trung Quốc giống như một chuyến tàu tốc hành, việc vận hành của nó không phải là đạp phanh gấp, mà là nhấp phanh." Ai bị nhấp phanh, ai không bị nhấp phanh, đều rõ ràng như ban ngày.
Câu chuyện xảy ra trong lĩnh vực thép rất có ý nghĩa. Ngay khi vốn tư nhân bị lệnh cấm nghiêm ngặt, thì vốn nhà nước và vốn có nguồn gốc nhà nước lại ồ ạt tiến quân. Cùng thời điểm xảy ra sự kiện Thiết Bản, Baosteel đã hợp tác với công ty thép lớn nhất thế giới lúc bấy giờ là Arcelor và công ty lớn thứ hai là Nippon Steel để xây dựng dự án cán nguội 1800mm. Ngoài ra, Baosteel còn ký thỏa thuận đặt mua dài hạn 7 triệu tấn quặng sắt mỗi năm với công ty Hamersley của Úc. Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tạ Xí Hoa tuyên bố, Baosteel dự định chi 50-60 tỷ nhân dân tệ trước năm 2010 để nâng sản lượng từ 20 triệu tấn lên 30 triệu tấn, tăng 50% năng lực sản xuất. Tin tức này gây chấn động giới thép toàn cầu. Ngay sau đó, doanh nghiệp thép lớn thứ tư Trung Quốc là Tập đoàn Gang thép Vũ Hán (Wugang) cho biết, một vài dự án quy mô lớn của Wugang đã được Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia phê duyệt, tổng đầu tư sẽ vượt quá 20 tỷ nhân dân tệ. Các doanh nghiệp thép nhà nước quy mô lớn khác cũng lần lượt khởi động dự án mới: Tập đoàn Gang thép Bản Khê hợp tác với POSCO khởi động dự án tấm cán nguội; Tập đoàn Gang thép An Sơn cùng công ty thép lớn thứ hai châu Âu là ThyssenKrupp của Đức đầu tư 180 triệu USD xây dựng dự án tấm mạ kẽm nhúng nóng với sản lượng hàng năm 400 nghìn tấn; Tập đoàn Gang thép Đường Sơn và Tập đoàn Gang thép Mã An Sơn lần lượt ký thỏa thuận đặt mua 3 triệu tấn quặng sắt với doanh nghiệp tài nguyên quặng sắt lớn nhất thế giới BHP Billiton.
Bước chân đầu tư của các công ty thép đa quốc gia tại Trung Quốc dường như cũng không hề dừng lại. Ngày 22 tháng 4 năm đó, chỉ ba ngày sau khi Đái Quốc Phương bị bắt giữ, tại Khu công nghiệp Tô Châu cách Thường Châu chỉ 105 km, công ty thép BlueScope của Úc đã tổ chức lễ khởi công rầm rộ cho dự án thép với vốn đầu tư 280 triệu đô la Úc (khoảng 1,7 tỷ nhân dân tệ). Tổng giám đốc công ty Mao Tư Minh nói: "Mọi việc thuận lợi đến mức bất ngờ, chưa đầy một tháng chúng tôi đã lấy được giấy phép kinh doanh." Khu công nghiệp Tô Châu tiết lộ, dự án của BlueScope chỉ mất 7 ngày làm việc từ khi nộp hồ sơ xin cấp phép đến khi nhận giấy phép. Truyền thông bình luận rằng, một dự án 1,7 tỷ nhân dân tệ mà chỉ trong 7 ngày đã xong giấy phép kinh doanh, điều này đối với đại đa số nhà đầu tư tại các khu vực trong nước mà nói, quả thực là chuyện viễn tưởng. Bởi theo quy định hiện hành của quốc gia, dự án đầu tư từ 50 triệu đến 200 triệu nhân dân tệ phải do Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia phê duyệt, dự án trên 200 triệu phải báo cáo Quốc vụ viện phê duyệt, toàn bộ quy trình rườm rà, không thể xong trong một năm rưỡi — đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Thiết Bản bị điều tra xử lý. Hơn nữa, đầu tư vào thép lại là trọng tâm của việc chỉnh đốn điều tiết, sự kiện Thiết Bản lại vừa mới xảy ra, tốc độ thần tốc của dự án BlueScope thật sự khiến người ta phải kinh ngạc. Phóng viên Từ Thọ Tùng của Tân Hoa Xã trong cuốn sách "Điều tra Thiết Bản" đã đầy cảm thán viết: "Cùng một ngành công nghiệp, cùng một thời điểm, cùng một tỉnh, số phận của hai công ty thép Thiết Bản và BlueScope, một nội một ngoại, tại sao lại cách biệt hai thế giới sống chết?! Có người trong cửa ca hát nhảy múa, có người ngoài cửa khóc than dài lâu."
Xét từ số liệu ngành cả năm, mọi người cũng có thể thấy được một mặt chân thực. Trong vài tháng sau khi Thiết Bản bị xử lý nghiêm, sản lượng thép toàn quốc dường như đã được kiểm soát trong chốc lát, nhưng từ tháng 6 trở đi lại tăng tốc hồi phục theo từng tháng, từ tháng 7 bắt đầu mức sản lượng hàng ngày liên tục lập kỷ lục lịch sử, đến tháng 10 thậm chí vượt mức sản lượng hàng ngày 800 nghìn tấn, đạt 804,4 nghìn tấn. Trong 10 tháng đầu năm, cả nước sản xuất tích lũy 272 triệu tấn thép, tăng 24,12% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2005, sản lượng tiếp tục tiến bước trên quỹ đạo tăng trưởng cao, cả nước sản xuất 371 triệu tấn thép, tăng trưởng so với cùng kỳ đạt 24,1%. Điều đáng chú ý hơn là, năm 2004, cả nước chỉ có hai nhà máy thép có sản lượng thép vượt 10 triệu tấn, nhưng đến năm 2005 con số này vọt lên 8 nhà máy, trong đó ngoại trừ Sa Cương, tất cả đều là doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn.
Ngay cả những doanh nghiệp tư nhân bị điều tiết, số phận cũng không ai giống ai. Ninh Ba Kiến Long, đơn vị bị lệnh ngừng sản xuất cùng lúc với Thiết Bản, lại có một viễn cảnh sống chết khác. Tháng 2 năm 2004, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, Ủy ban Điều tiết Ngân hàng thành lập đoàn điều tra liên ngành tiến vào Kiến Long. Tháng 5, một tháng sau sự kiện Thiết Bản, Đài Truyền hình Trung ương phanh phui sự kiện Kiến Long, hành vi vi phạm quy định chủ yếu có ba mục: một, phê duyệt trái quy định, biến dự án vốn nên do cơ quan chủ quản của Quốc vụ viện phê duyệt thành phê duyệt của địa phương; hai, chưa được cơ quan bảo vệ môi trường phê duyệt đã tự ý khởi công; ba, vay ngắn hạn đầu tư dài hạn, chuyển 700 triệu nhân dân tệ vốn lưu động của ngân hàng thành đầu tư tài sản cố định. Nhìn từ những tình huống này, tính chất vi phạm của Kiến Long gần như tương tự Thiết Bản, lò cao luyện kim, xưởng cán nóng, bến cảng v.v. đều đã cơ bản xây dựng xong, số vốn thực tế đầu tư đã lên tới 4,8 tỷ nhân dân tệ. Sau khi tin tức dự án bị dừng xây dựng truyền ra, giá cổ phiếu của Fosun lập tức sụt giảm. Lúc bấy giờ, "hệ thống Đức Long" của Đường Vạn Tân vừa mới bắt đầu sụp đổ, Quách Quảng Xương, một bậc thầy vận hành vốn tư nhân khác, thu hút nhiều sự chú ý. Tháng 7, có truyền thông tiết lộ "hệ thống Fosun" bị các ngân hàng liên quan đưa vào danh sách đen "thận trọng cho vay", chuỗi vốn đối mặt với nguy cơ đứt gãy bất cứ lúc nào, Fosun nhất thời mây đen bao phủ.
Khác với Thiết Bản, sau khi sự kiện xảy ra, mặc dù 6 cán bộ thuộc Ủy ban Kế hoạch, Cục Tài nguyên Đất đai Ninh Ba v.v. đã bị kỷ luật, nhưng Kiến Long và phía Ninh Ba không có nhân sự nào bị bắt giữ, người kiểm soát thực tế của dự án là Quách Quảng Xương lại càng không bị hạn chế, ông ta vẫn còn không gian để tự cứu. Quách Quảng Xương trước hết muốn làm rõ thành phần vốn tư nhân của Kiến Long. Ngay thời điểm bị điều tra, Fosun Shares phát đi thông báo cho biết công ty và Ninh Ba Kiến Long không có bất kỳ mối liên hệ nào với cổ phần. Tháng 9, Quách Quảng Xương tại một diễn đàn Đồng bằng sông Trường Giang ở Hàng Châu lại đột ngột ám chỉ rằng Kiến Long còn ẩn giấu một "cổ đông bóng tối", đó chính là doanh nhân tư nhân nổi tiếng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Công thương toàn quốc Lưu Vĩnh Hảo của Tập đoàn Tân Hy Vọng. Việc làm rõ và ám chỉ của Quách Quảng Xương, không ngoài mục đích liên tục thăm dò điểm mớ của cấp trên đối với việc xử lý sự kiện Kiến Long. Nhìn vào sự phát triển của tình hình sau đó, điều thực sự khiến dự án Kiến Long xoay chuyển tình thế chính là sự tham gia của một doanh nghiệp thép nhà nước quy mô lớn tại Chiết Giang.
Ngay khi dự án Kiến Long khởi công, Công ty Gang thép Hàng Châu cũng bắt đầu chuẩn bị xây dựng một dự án thép chiếm diện tích 5400 mẫu tại đảo Đại Xết, Ninh Ba. Do sự dây dưa trong các vấn đề như di dời và hiệu quả thấp, khi quá trình của Kiến Long đã xây dựng được hơn một nửa, thì dự án Đại Xết của Hàng Thép vẫn chưa chính thức khởi công. Sau khi Kiến Long bị mắc cạn, chính quyền tỉnh Chiết Giang lập tức đề xuất ý định hợp nhất Kiến Long và Hàng Thép. Về điều này, Chủ tịch Hàng Thép Đồng Vân Phương đang ở vị thế thuận lợi đã tuyên bố: "Hoặc là nắm quyền kiểm soát, hoặc là không tham gia." Quách Quảng Xương tất nhiên không cam tâm bị nuốt chửng, nhưng việc hợp nhất phải tiến hành theo cách cải cách, chứ không phải lối mòn cũ, phải giải quyết vấn đề lấy ai làm cốt lõi bằng phương thức thị trường tối ưu nhất, có sức cạnh tranh nhất. Ông nói với phóng viên: "Doanh nghiệp nhà nước góp vốn thì được, nhưng nắm quyền kiểm soát thì phải để doanh nghiệp tư nhân. Đừng mượn danh nghĩa điều tiết vĩ mô để doanh nghiệp nhà nước khống chế doanh nghiệp tư nhân." Tạp chí "Tài chính" trong bài bình luận về sự việc này đã đặt câu hỏi: "Trong cuộc đàm phán giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và chính phủ, bên trước vốn đã bị kết luận là vi phạm rõ ràng đang ở thế yếu. Nhưng vấn đề là, liệu nhất định phải để doanh nghiệp nhà nước nắm quyền kiểm soát mới có thể cho thông qua?"
Sự vùng vẫy của Quách Quảng Xương và sự chất vấn của truyền thông đều chứng minh là vô ích. Tháng 8 năm 2004, một tin tức đã lan truyền khắp giới tài chính: Hàng Thép và Kiến Long đạt được thỏa thuận tái cơ cấu sơ bộ, Hàng Thép nắm giữ 51% cổ phần, phía Quách Quảng Xương nắm giữ 49%. Ý kiến xử lý về sự kiện Kiến Long cũng được ban xuống đúng hạn, Quốc vụ viện chuyển quyền xử lý dự án vi phạm của Ninh Ba Kiến Long cho chính quyền tỉnh Chiết Giang, điều này có nghĩa là dự án Kiến Long sau tái cơ cấu sẽ có được "giấy phép hợp pháp". Đầu năm 2006, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia phê duyệt dự án Ninh Ba Kiến Long bằng văn bản "Phát Cải Công nghiệp [2006] số 434". Theo văn bản phê duyệt, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia đồng ý Công ty Tập đoàn Gang thép Hàng Châu kết hợp điều chỉnh cơ cấu của chính mình, tiến hành tái cơ cấu Công ty TNHH Gang thép Ninh Ba Kiến Long, lấy Tập đoàn Hàng Thép làm cổ đông nắm quyền kiểm soát, liên kết các cổ đông khác, tái cơ cấu thành "Công ty TNHH Gang thép Ninh Ba". Quách Quảng Xương đã phải trả giá bằng việc hy sinh cổ phần để thoát chết trong gang tấc.
Các dự án doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn sụp đổ trong đợt điều tiết vĩ mô lần này, về sau đa phần đều bị các doanh nghiệp nhà nước và công ty đa quốc gia săn đón. Dự án Thiết Bản ba năm sau được Tập đoàn Gang thép Nam Kinh và công ty Arcelor của Pháp cùng tái cơ cấu. Hệ thống Đức Long sau khi tan rã bị chia năm xẻ bảy: Tập đoàn COFCO mua lại Tân Cương Đồn Hà, Tập đoàn Cơ khí Liêu Ninh vào làm chủ Hợp kim Đầu tư, Tương Hỏa Cự bị hơn hai mươi công ty ô tô như FAW, Volkswagen Thượng Hải tranh giành, cuối cùng rơi vào tay Weichai Power của Sơn Đông. Trường hợp duy nhất may mắn sống sót là dự án nhôm điện phân của Tập đoàn Đông Phương Hy Vọng, do Lưu Vĩnh Hành vô cùng thận trọng, khoản đầu tư của ông đều là vốn tự có, nên đã tránh được các lệnh trừng phạt về tài chính. Ba năm sau đó, Lưu Vĩnh Hành vốn luôn cởi mở đã trở nên cực kỳ khiêm tốn, hầu như không còn xuất hiện ở các dịp công khai. Ông sau này tiết lộ rằng, Tập đoàn Nhôm Trung Quốc từng nhiều lần cố gắng nắm quyền kiểm soát dự án này, nhưng đều bị từ chối khéo.
Sự thất bại thảm hại của vốn tư nhân khiến người ta vô cùng ấn tượng. Trong hai ba năm sau đó, các cuộc phản tư không ngừng diễn ra, Hoàng Mạnh Phục, Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân toàn quốc, Chủ tịch Liên đoàn Công thương toàn quốc đã dùng "cửa kính" để mô tả cục diện khó xử mà các doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt. Ông mô tả: "Một số ngành nghề và lĩnh vực tuy không có hạn chế công khai trong chính sách tiếp cận, nhưng điều kiện gia nhập thực tế lại có nhiều hạn chế, chủ yếu là đặt ra ngưỡng cửa quá cao đối với tư cách gia nhập. Người ta gọi hiện tượng 'mở cửa danh nghĩa, hạn chế thực tế' này là 'cửa kính', nhìn thì thấy mở, nhưng thực tế là không vào được, cứ vào là đụng tường." Sự phản tỉnh của Vinh Hải, Chủ tịch Tập đoàn Tiên Hải Tinh còn trực diện hơn, ông nói: "Bài học của điều tiết vĩ mô một lần nữa chứng minh, doanh nghiệp thương mại nhất định phải đánh giá thấp năng lực của chính mình."
Ảnh hưởng của điều tiết vĩ mô đối với cục diện các công ty Trung Quốc là vô cùng sâu sắc, trong một thời gian dài thậm chí còn có hiệu quả "định hình".
Sự biến đổi khó lường của chính sách kinh tế cũng phản chiếu trong những biến động và lặp lại của tư tưởng thương mại.
Vào tháng 1, một văn bản của Hà Bắc đã khơi mào cho cuộc tranh luận lớn về "miễn trừ tội lỗi nguyên thủy" của doanh nhân tư nhân. Văn bản này được Tỉnh ủy Hà Bắc phê duyệt bằng "Văn bản số 1", là quyết định của Ủy ban Chính trị Pháp luật tỉnh Hà Bắc về "Việc các cơ quan chính trị pháp luật tạo môi trường tốt cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa", cho rằng đối với hành vi phạm tội trong giai đoạn khởi nghiệp của người điều hành doanh nghiệp tư nhân, nếu đã quá thời hiệu truy tố thì không được khởi động thủ tục truy tố hình sự; trong thời hạn truy tố, phải cân nhắc tổng hợp tính chất phạm tội, tình tiết, hậu quả, biểu hiện hối cải và tình trạng kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp đó,依法 (theo pháp luật) giảm nhẹ, miễn hình phạt hoặc tuyên án treo. "Văn bản miễn trừ" này cũng giống như nhiều sự kiện và tuyên bố trong lịch sử cải cách, mặc dù vẫn còn những khoảng trống và điểm có thể bàn cãi trong vận hành pháp luật, nhưng nó lại là một tín hiệu chính sách rất mạnh. Tuy nhiên, cùng với việc bắt đầu điều tiết vĩ mô, "chủ đề miễn trừ" nhanh chóng bị vứt bỏ, dư luận quay ngoắt 180 độ, chuyển sang bắt đầu "thanh toán tội lỗi nguyên thủy" một cách "không khoan nhượng" đối với các hiện tượng trong cải cách quyền sở hữu.
Trong chiến dịch thanh toán lần này, đóng vai chính là một giáo sư tài chính đến từ Hồng Kông. Sinh năm 1956 tại Đào Viên, Đài Loan, Lang Hàm Bình tốt nghiệp Trường Kinh doanh Wharton của Mỹ, ngôi trường nổi tiếng thế giới về giảng dạy tài chính và kế toán. Lang Hàm Bình có khuôn mặt ngôi sao già dặn, mái tóc xám cứng cáp, ăn nói sắc sảo, tự xưng là "một học giả thích sống dưới ánh đèn flash". Sau năm 2000, được mời làm giáo sư tại Đại học Hồng Kông và Trường Kinh doanh Trường Giang Bắc Kinh, ông thường xuyên du thuyết diễn giảng tại Trung Quốc đại lục. Trong thời gian này, ông vận dụng các công cụ tài chính để nghiên cứu hệ thống quản trị tài chính của các công ty Trung Quốc. Ngay mùa hè năm 2004, ông liên tiếp công bố các bài luận và bài diễn thuyết, đặt ra những nghi vấn mạnh mẽ đối với phương án cải cách quyền sở hữu của một số doanh nghiệp nổi tiếng.
Ngày 17 tháng 6, ông công khai chất vấn TCL, khẳng định phương án cải cách cổ phần của họ thực chất là quá trình pha loãng cổ phần nhà nước, là "quá trình lấy kích thích cổ phần làm chiêu bài, lấy thị trường chứng khoán làm kênh, để tài sản nhà nước dần dần chảy vào túi cá nhân". Theo tính toán của ông, Lý Đông Sinh nắm giữ 5,59% cổ phần TCL, tính theo giá trị thị trường cao nhất đạt 1,2 tỷ nhân dân tệ, vì vậy ông ta "trở thành người hưởng lợi lớn nhất của cải cách TCL".
Ngày 2 tháng 8, ông công bố bài viết "Biến hình Haier - một lần MBO quanh co và khéo léo", mũi nhọn hướng thẳng vào doanh nghiệp gia dụng có độ nhận diện cao nhất Trung Quốc là Haier. Ông phân tích Trương Thụy Mẫn đã tiến hành ba lần "biến hình" quyền sở hữu đối với Haier. "Lần biến hình thứ nhất" là vào năm 1997. Năm này chính là thời điểm bắt đầu cải cách quyền sở hữu quy mô lớn, Haier thành lập hội cổ đông công nhân viên nội bộ, năm 2000, lấy hội cổ đông làm chủ thể thành lập Haier Investment, đơn vị này sở hữu quyền mua sắm linh kiện và quyền sở hữu thương hiệu của Haier, hai giao dịch nội bộ này thu lợi nhuận cao tới 3,4 tỷ. Lang Hàm Bình cho rằng thương hiệu Haier không thuộc về Tập đoàn Haier, mà lại thuộc về Haier Investment, đây là điển hình của việc không phân biệt vai trò "cổ đông, bảo mẫu, công nhân viên". "Lần biến hình thứ hai" là vào năm 2001. Haier Thanh Đảo lợi dụng vốn huy động từ phát hành thêm và một phần vốn tự có tổng cộng 2 tỷ nhân dân tệ, mua lại 74,45% cổ phần của Công ty TNHH Máy điều hòa Haier Thanh Đảo với giá cao, khoản chênh lệch đầu tư cổ phần 2 tỷ nhân dân tệ tạo ra được chuyển nhượng một lần cho Haier Investment. Haier Investment trong tay đã có "thùng vàng đầu tiên" để vận hành. Kể từ đó, việc mở rộng tài sản tài chính của Haier gần như đều tiến hành dưới danh nghĩa Haier Investment, như nắm quyền kiểm soát Chứng khoán Trường Giang, thành lập Bảo hiểm nhân thọ Haier New York. Cộng thêm việc mở rộng tài sản phi tài chính, các công ty dưới trướng Haier Investment có thể kiểm chứng đã lên tới 12 công ty, tổng tài sản (bao gồm cả thương hiệu Haier) đã vượt quá 65 tỷ nhân dân tệ.
Ngay sau một tuần khi "Biến hình Haier" được công bố, Lang Hàm Bình ném ra "quả bom chấn động" thứ ba. Ông có bài diễn thuyết tại Đại học Phục Đán, Thượng Hải với tiêu đề "Greencool: Cuồng hoan trong bữa tiệc 'quốc lùi tư tiến'", chỉ thẳng Cố Trồ Quân đã sử dụng nhiều thủ đoạn, "lợi dụng tư duy muốn đẩy nhanh việc rút lui khỏi doanh nghiệp nhà nước của một số chính quyền địa phương, đóng gói việc mua lại và cải cách lại với nhau, chơi một ván bài đôi bên cùng có lợi". "Sau khi Cố Trồ Quân lấy được Kelon, lại dùng thủ đoạn tương tự thâu tóm một doanh nghiệp tủ lạnh khác là Mỹ Lăng An Huy. Sự thật sau đó cho thấy, Mỹ Lăng Điện khí lúc bấy giờ có mối liên hệ nợ nần rất lớn với công ty mẹ là Tập đoàn Mỹ Lăng, hiện trạng của nó rất giống Kelon Điện khí với Tập đoàn Dung Thanh, Cố Trồ Quân hứa hẹn sau khi vào sẽ 'bỏ qua mọi chuyện cũ'. Để giao dịch này trông thuyết phục hơn, Cố Trồ Quân tuyên bố đầu tư 2,49 tỷ nhân dân tệ xây dựng Khu công nghiệp Greencool-Mỹ Lăng tại Hợp Phì, nó trở thành dự án thu hút đầu tư lớn nhất tỉnh An Huy trong năm đó."
Ba lần thảo phạt của Lang Hàm Bình đã làm dấy lên một cơn sóng gió lớn trong giới doanh nghiệp, giới dư luận và giới lý luận kinh tế. Trong suốt mùa thu, nó thậm chí đã chuyển dịch sự chú ý của mọi người khỏi việc điều tiết vĩ mô. Theo một nghĩa nào đó, vị giáo sư tài chính dám nói dám làm đến từ Hồng Kông này đã tiến hành một cuộc "tổng thanh toán" đối với phong trào làm rõ quyền sở hữu bắt đầu từ năm 1998. Kết luận của ông là: "Tôi không phản đối cải cách doanh nghiệp nhà nước, nhưng tôi phản đối việc một số doanh nghiệp nhà nước hiện nay thông qua 'quốc lùi tư tiến', chuyển tài sản nhà nước thành tài sản cá nhân bằng cách bán rẻ (bao gồm cả MBO) để nâng cao hiệu quả. Hiện tượng lợi dụng lỗ hổng pháp luật chưa hoàn thiện để chiếm đoạt tài sản nhà nước một cách hợp pháp hiện nay, rất giống với phong trào tư nhân hóa ở Nga lúc ban đầu." Giáo sư Lang với lời lẽ sắc bén còn đưa ra một ví dụ "bảo mẫu" rất sinh động — "Nhà tôi bẩn thỉu, lộn xộn, tồi tệ, tôi tìm một bảo mẫu đến, giúp tôi dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, cô ta coi như có công, nhưng ngôi nhà này đột nhiên lại biến thành của bảo mẫu. Đây là một chuyện vô cùng hoang đường." Dựa trên cơ sở đó, Lang Hàm Bình đưa ra ba quan điểm: phải tạm dừng giao dịch quyền sở hữu, phải cấm MBO, vấn đề tranh giành lợi ích giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước không phải là trọng tâm của cải cách kinh tế hiện tại.
Trong đợt công kích của Lang Hàm Bình, ba doanh nghiệp lớn có phản ứng khác nhau. Hải Nhĩ chỉ đưa ra một tuyên bố ngắn gọn rằng: "Bài viết của ông Lang dựa trên tiền đề Hải Nhĩ là doanh nghiệp nhà nước. Như mọi người đều biết, Hải Nhĩ không phải là doanh nghiệp nhà nước, chúng tôi không có bất kỳ hành vi vi phạm quy định hay pháp luật nào, vì vậy xin miễn bình luận." TCL cũng có phản ứng tương tự là "miễn bình luận", thậm chí Lý Đông Sinh còn hỏi ngược lại giới truyền thông khi bị truy vấn: "Lang Hàm Bình là ai?" Sự lúng túng về lỗ hổng pháp lý trong cải cách quyền sở hữu của các doanh nghiệp Trung Quốc cuối cùng đã bị phơi bày hoàn toàn. Trong vài năm qua, hầu như tất cả các phương án cải cách quyền sở hữu đều "chết ngay khi ra ánh sáng", không mấy doanh nghiệp chịu nổi sự kiểm tra công khai về mặt pháp lý và tài chính. Rõ ràng Lang Hàm Bình không phải là người đầu tiên đặt câu hỏi. Nếu tất cả các doanh nghiệp bị nghi ngờ đều né tránh vấn đề, thì ba "quả bom chấn động" này sẽ chẳng đi đến đâu. Điều kịch tính là, một trong những người bị trúng đạn lại đứng lên phản kích.
Người phản kích là Cố Sồ Quân, một kẻ có tính khí tự phụ và hung bạo. Bốn ngày sau bài diễn thuyết của Lang Hàm Bình tại Đại học Phúc Đán, Cố Sồ Quân gửi một lá thư luật sư nghiêm khắc, khẳng định bài diễn thuyết đó gây ra tội phỉ báng, yêu cầu Lang Hàm Bình phải đính chính và xin lỗi, nếu không sẽ "sử dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ danh tiếng của mình". Lang Hàm Bình vốn đang lo không có đối thủ, tất nhiên sẽ không chịu nhún nhường. Ba ngày sau, ông tổ chức một buổi gặp gỡ truyền thông tại văn phòng ở Trường Kinh doanh Trường Giang, Bắc Kinh, công bố thư luật sư của Cố Sồ Quân, tuyên bố "quyết không sửa đổi hay xin lỗi", đồng thời tố cáo "cường quyền không thể chà đạp lên học thuật". Ngày hôm sau, Cố Sồ Quân lập tức nộp đơn kiện lên Tòa án Tối cao Hồng Kông, khởi kiện Lang Hàm Bình vì tội phỉ báng.
Trong cuộc giao tranh từ xa giữa các học giả, Cố Sồ Quân, kẻ liều lĩnh đứng mũi chịu sào, đã trở thành "pháo hôi" duy nhất. Thủ đoạn M&A (mua bán và sáp nhập) của tập đoàn cách nhiệt Greencool vốn dĩ đã đi trên ranh giới pháp luật, "chỉ có thể làm, không thể nói, hễ nói ra là sai", làm sao chịu nổi sự soi xét dưới "kính hiển vi" của dư luận. Để chứng minh "sự trong sạch", Cố Sồ Quân còn phô trương mời Viện Nghiên cứu Kinh tế Doanh nghiệp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc vụ viện đồng tổ chức hội thảo "20 năm phát triển của Khoa Long và con đường cải cách doanh nghiệp Trung Quốc". Tại hội thảo, Viện Nghiên cứu Kinh tế Doanh nghiệp hiếm hoi đã cấp cho Khoa Long một bản báo cáo xác nhận danh tính, khẳng định toàn diện kinh nghiệm cải cách của họ. Ngày hôm sau, tóm tắt của bản báo cáo này được đăng tải dưới dạng quảng cáo trên các phương tiện truyền thông tài chính lớn. Cố Sồ Quân đắc ý nói: "Nhiều bình luận bên ngoài khiến tôi như sống trong một thế giới khác, cứ như thể quay lại thời Cách mạng Văn hóa... Vậy mà chỉ sau một đêm, nhiều nhà kinh tế lại cho rằng tôi không có vấn đề gì." Xét từ hiệu quả sau đó, hội thảo, báo cáo và các bài quảng cáo mềm này đã tạo ra hiệu ứng tiêu cực, Cố Sồ Quân càng giải thích càng lộ rõ sai phạm. Trong ấn tượng của công chúng, ông ta đã trở thành biểu tượng cho việc chiếm đoạt tài sản nhà nước. Trong cuộc khảo sát cư dân mạng trên Sina, hơn 90% người dùng cho rằng "Cố Sồ Quân chắc chắn có vấn đề". Ngay khi hội thảo đang diễn ra, Kiểm toán Nhà nước đã âm thầm tiến vào Khoa Long Điện khí để tiến hành điều tra. Tháng 11, Sở Giao dịch Chứng khoán Thâm Quyến cùng Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông tiến vào trụ sở chính của Khoa Long để kiểm tra tập trung các vấn đề tài chính. Tháng 1 năm 2005, Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông công khai khiển trách Cố Sồ Quân với lý do giao dịch liên quan. Cổ phiếu Khoa Long sụt giảm theo. Cố Sồ Quân đã tự rước lấy ngọn lửa thiêu thân cho mình và Khoa Long. "Ngày 29 tháng 7 năm 2005, Cố Sồ Quân bị công an thành phố Phật Sơn bắt giữ. Tháng 9, trong trại tạm giam, ông ta chuyển nhượng cổ phần Khoa Long cho Tập đoàn Hải Tín Thanh Đảo. Cổ phần của Mỹ Lăng, Á Tinh... lần lượt bị mua lại hoặc chuyển nhượng. Tháng 8 năm 2006, Khoa Long Điện khí công bố báo cáo tài chính năm trước, tuyên bố khoản lỗ khổng lồ 3,693 tỷ nhân dân tệ, phá kỷ lục thua lỗ của các công ty niêm yết trong nước, liên quan đến 93 vụ kiện tụng, tài sản ròng của công ty là âm 1,09 tỷ nhân dân tệ."
Cuộc "thập tự chinh" do Lang Hàm Bình phát động đã giúp ông toại nguyện trở thành một nhà kinh tế ngôi sao. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng của cuộc chiến Lang - Cố thực tế đã vượt quá ý định ban đầu của chuyên gia tài chính doanh nghiệp này. Bản thân ông cũng dần đi đến cực đoan trong cuộc tranh luận, đưa ra khái niệm "Chủ nghĩa chính phủ lớn và chính phủ độc đoán", đồng thời lấy kết quả kinh doanh của các công ty độc quyền như China Telecom để chứng minh rằng "doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc chưa bao giờ kém hơn doanh nghiệp tư nhân". Trong mắt nhiều người, Lang Hàm Bình giống như cậu bé trong truyện cổ tích "Bộ quần áo mới của Hoàng đế" của Andersen, cậu đã dũng cảm thét lên sự thật, nhưng lại nói sai câu trả lời đằng sau sự thật đó. Tờ "Los Angeles Times" của Mỹ trong bài bình luận cho rằng: "Một số chỉ trích của Lang Hàm Bình đối với cải cách kinh tế Trung Quốc không phải là tiếng nói đơn độc, ông đại diện cho một nhóm có ảnh hưởng ngày càng tăng được gọi là 'Tả phái mới', họ tấn công vào việc tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước và các thử nghiệm kinh tế của Trung Quốc." Giáo sư Chu Kỳ Nhân của Đại học Bắc Kinh trong bài viết "Tại sao tôi phải phản hồi Lang Hàm Bình" đã nói: "Tôi có vắt óc suy nghĩ cũng không thể tưởng tượng nổi, rốt cuộc phải thế nào thì Lang Hàm Bình mới thấy vừa ý." Quan điểm của Chu Kỳ Nhân là: "Cải cách quyền sở hữu không phải là điều do những kẻ rảnh rỗi bày ra. Ngay cả khi có bắn chết tất cả các nhà kinh tế chủ trương cải cách quyền sở hữu, thì chừng nào còn đi theo con đường kinh tế thị trường, các doanh nghiệp công hữu vẫn phải cải cách quyền sở hữu. Vấn đề là cải cách doanh nghiệp công hữu thực sự là việc chưa từng có tiền lệ, khó khăn chồng chất. Lúc đầu không có thỏa thuận rõ ràng, nay quay lại làm rõ tỷ lệ sở hữu đâu phải chuyện dễ dàng! Chính vì ý nghĩa này, tôi luôn cho rằng thực tiễn mới là phẩm chất quan trọng hàng đầu."
Từ điều tiết vĩ mô đến "Cơn bão Lang Hàm Bình", giới doanh nghiệp Trung Quốc năm 2004 có thể nói là kịch hay liên tiếp, vô cùng gay cấn. Mãi đến mùa thu, người ta mới chợt nhớ ra, 2004 là "năm kỷ niệm" 20 năm khởi nghiệp của rất nhiều công ty nổi tiếng.