Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 421 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2001 Gia nhập WTO và Cuộc chơi bị loại (2)

❊ ❊ ❊

Nhiều năm sau, thực tế sẽ chứng minh rằng tất cả những dự đoán nêu trên đều không hề "tự hiện thực hóa". Sự tăng trưởng của kinh tế và doanh nghiệp Trung Quốc vẫn tiếp tục tiến lên theo logic khúc khuỷu của riêng mình, chẳng hề liên quan đến những suy đoán quá lạc quan hay bi quan kia. Kể từ sau khi John King Fairbank qua đời vào năm 1991, thế giới phương Tây không còn xuất hiện thêm một nhà quan sát nào đủ khách quan và tỉnh táo để thấu hiểu Trung Quốc. Trương Lực Phấn, chủ biên trang mạng tiếng Trung của tờ "Financial Times" (Thời báo Tài chính) nước Anh, từng viết: "Sau thập niên 90 của thế kỷ 20, một dấu hiệu cho thấy sức sống kinh tế Trung Quốc là cứ cách vài năm, các nhà kinh tế học trong và ngoài nước lại buộc phải thay đổi tư duy, sử dụng ngôn ngữ hoặc khái niệm mới để phân tích những hiện tượng kinh tế mới tại đây. Vận mệnh của kinh tế Trung Quốc chính là trong quá trình chuyển đổi các khung lý thuyết và khái niệm này mà dần dần thay da đổi thịt, ngày càng trở nên đồng điệu với ngôn ngữ chung của luật chơi quốc tế, rồi dần dần bắt nhịp và đi vào quỹ đạo." Mùa thu năm đó, tờ "The New York Times" (Thời báo New York) phỏng vấn John Kenneth Galbraith, tác giả cuốn "Thời đại bất định" (The Age of Uncertainty) và từng là Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Mỹ, nhờ ông bàn về quan hệ Mỹ - Trung trong tương lai. Vị học giả 94 tuổi này vừa từ Ấn Độ, một quốc gia phương Đông đang trỗi dậy khác trở về, ông nói với giọng đầy kính sợ: "Ở đó, một nửa kiến thức của tôi là sai, nửa còn lại thì vô dụng." Đối với Trung Quốc, ông nói: "Rất nhiều dự đoán của chúng ta về Trung Quốc chỉ là những suy đoán cá nhân mà thôi."

Tác động của WTO đối với Trung Quốc là một quá trình kéo dài và dai dẳng. Trong một Trung Quốc đang chuyển mình theo lối tiệm tiến, chưa bao giờ có sự thay đổi nào được hình thành trong một sớm một chiều. Thực tế, chính sách "quốc thoái dân tiến" (nhà nước rút lui, tư nhân tiến lên) bắt đầu từ năm 1998 chính là quyết định chiến lược trọng đại nhằm đối phó với biến cục này. Việc tiến hay lùi và tái cơ cấu của các tập đoàn vốn nhà nước đều được hoạch định dựa trên lộ trình mở cửa thị trường của WTO. Đối với một nhóm lợi ích khác là các công ty đa quốc gia, việc Trung Quốc gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với những điều chỉnh chiến lược quan trọng. Những thay đổi này thể hiện rõ rệt trên ba phương diện.

Thứ nhất, sự lựa chọn ngành nghề của các công ty đa quốc gia đã xuất hiện chuyển biến tinh vi, họ bắt đầu tiến vào các lĩnh vực độc quyền hoặc bán độc quyền thay vì các lĩnh vực cạnh tranh. Giáo sư Hoàng Á Sinh từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Mỹ từng phát hiện ra một "trường hợp đặc biệt của Trung Quốc". Thông thường, khi các công ty đa quốc gia tiến vào các nước đang phát triển, họ hay chọn những lĩnh vực về tài nguyên, có liên hệ mật thiết với chính phủ và đòi hỏi vốn đầu tư lớn như năng lượng, tài chính, viễn thông. Thế nhưng chiến lược của họ tại Trung Quốc lại hoàn toàn khác biệt. Trong giai đoạn đầu và giữa của thời kỳ cải cách mở cửa, đại đa số các doanh nghiệp đa quốc gia vào Trung Quốc đều nằm trong các lĩnh vực cạnh tranh hoàn hảo. Những đơn vị thành công nhất là Coca-Cola trong ngành đồ uống, Procter & Gamble trong ngành dầu gội, và các công ty Nhật Bản trong ngành điện gia dụng. Nhiều nhà kinh tế học Âu Mỹ rất khó hiểu về điều này. Cách giải thích của Hoàng Á Sinh là: ban đầu các công ty đa quốc gia đều tưởng tượng thị trường Trung Quốc dựa trên quy mô dân số, trong khi các doanh nghiệp nội địa lúc bấy giờ đều yếu ớt; mặt khác, những người nước ngoài này chưa biết cách thiết lập quan hệ với các quan chức chính phủ trong hệ thống kế hoạch hóa, cũng không biết làm thế nào để gây ảnh hưởng đến chính sách trung ương nhằm mưu cầu lợi ích. Hơn mười năm sau, tình hình đã thay đổi căn bản, đặc biệt là sau năm 2002, "quy luật" mà Hoàng Á Sinh phát hiện đã không còn hiệu lực. Các doanh nghiệp đa quốc gia vốn đang tranh đấu quyết liệt với các công ty mới nổi của Trung Quốc trong lĩnh vực tiêu dùng – ví dụ như trong ngành điện gia dụng, nếu các doanh nghiệp bản địa không phạm phải những sai lầm chết người thì các thương hiệu quốc tế rất có khả năng đã bị đánh bại hoàn toàn – bắt đầu chuyển hướng sang các ngành tài nguyên, nơi họ giành được quyền ưu tiên đầu tư và hợp tác. Trường hợp thuyết phục nhất chính là sự chuyển dịch chiến lược của General Electric (GE). Tập đoàn lớn gia nhập Trung Quốc từ năm 1992 này luôn phát triển không mấy thuận lợi, bóng đèn họ sản xuất không thể cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp hương trấn, ngay cả "CEO vĩ đại nhất thế giới" Jack Welch cũng chỉ biết than thở. Năm 2001, trước khi nghỉ hưu, khi được phóng viên hỏi về cái nhìn đối với thị trường Trung Quốc, Jack Welch nói: "Tôi đã chạy tới đó suốt 10 năm, và mỗi lần đến, tôi lại tự cười nhạo bản thân vì nhận ra mình biết quá ít. Nơi đó quá lớn, quá phức tạp. Tôi không hiểu, thực sự không hiểu nổi. Có lẽ đó là lý do tôi phải nghỉ hưu – nên để người khác hiểu lấy nó." Bước ngoặt của GE tại Trung Quốc diễn ra dưới thời người kế nhiệm Jeffrey Immelt. Ông đã chuyển trọng tâm đầu tư từ các sản phẩm dân dụng sang các dự án kỹ thuật nền tảng có hàm lượng công nghệ cao hơn. Các dự án của GE như chiếu sáng công nghiệp, thiết bị y tế, tua-bin khí, tua-bin gió, thiết bị phát điện thủy điện, động cơ máy bay, truyền tải điện cho các tập đoàn công nghiệp... đều đạt được lợi nhuận rất tốt tại Trung Quốc. Đa số các lĩnh vực này vốn là vùng cấm đối với vốn tư nhân.

Thứ hai, các khoản đầu tư tài chính của các công ty đa quốc gia tăng lên đáng kể. Trước năm 2001, những doanh nghiệp thành công và nổi tiếng tại Trung Quốc đều là các công ty đầu tư thực nghiệp. Cùng với sự tăng trưởng liên tục của kinh tế Trung Quốc, các nguồn vốn tài chính quốc tế vốn được mệnh danh là những "kẻ man di ngoài cổng" bắt đầu rục rịch muốn thử sức. Tuy nhiên, do tính độc lập của hệ thống tỷ giá hối đoái Trung Quốc, họ rất khó tìm được cơ hội thâm nhập. Năm 1998, vụ tấn công của quỹ Quantum của George Soros vào Hồng Kông đã chứng minh là một thử nghiệm thất bại. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, việc mở cửa thị trường tài chính đã được đưa vào lộ trình, các định chế tài chính đa quốc gia lớn đều tăng tốc bố trí nghiệp vụ tại Trung Quốc. Ngay trong khoảng năm 2001, các ngân hàng như HSBC, Citibank, AIA, Standard Chartered lần lượt chuyển trụ sở khu vực từ Singapore hoặc Hồng Kông về Thượng Hải. Các công ty đầu tư tài chính vốn đã bố trí ngầm từ trước cũng bắt đầu lộ diện. Tháng 10 năm đó, tờ "Kinh tế Quan sát báo" mới ra mắt không lâu đã tiết lộ một tin tức: Từ 6 năm trước, Morgan Stanley đã cùng Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và các đơn vị khác thành lập "Công ty liên doanh đầu tư duy nhất và ưu tú nhất bản địa tính đến nay – Công ty Tài chính Quốc tế Trung Quốc (CICC)", và nắm giữ 35% cổ phần. Trong vài năm qua, hầu như mọi vụ tái cơ cấu vốn của các doanh nghiệp độc quyền nhà nước lớn đều liên quan đến CICC. Công ty này đã hỗ trợ China Telecom, PetroChina, China Unicom và China Mobile huy động tổng cộng 19,08 tỷ USD trên thị trường vốn quốc tế, hỗ trợ China Telecom mua lại tài sản viễn thông di động tại bốn tỉnh Giang Tô, Phúc Kiến, Hà Nam và Hải Nam với giá 9,3 tỷ USD, đóng vai trò đồng bảo lãnh phát hành để giúp China Telecom phát hành thêm cổ phiếu huy động 2 tỷ USD, đồng thời phát hành 5 tỷ nhân dân tệ trái phiếu doanh nghiệp cho Tổng công ty Lưới điện Quốc gia và Tổng công ty Phát triển Dự án Tam Hiệp Trường Giang. Những nghiệp vụ này đã giúp CICC giành danh hiệu xếp hạng nhất về nghiệp vụ phát hành cổ phiếu mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2000. Tháng 10 năm 2001, lần đầu tiên Trung Quốc cho phép vốn ngoại can thiệp vào việc xử lý nợ xấu. Tại phiên đấu thầu đầu tiên, Morgan Stanley độc chiếm gói tài sản trị giá 10,8 tỷ nhân dân tệ, số nợ xấu này phân bố tại 18 tỉnh thành trên cả nước, liên quan đến 254 công ty và nhà máy trong các ngành bất động sản, dệt may, luyện kim, dược phẩm... trong đó đa số là doanh nghiệp nhà nước. Rõ ràng, những khoản nợ xấu này chính là giá trị thặng dư do chiến lược "quốc thoái dân tiến" tạo ra. Phóng viên tờ "Kinh tế Quan sát báo" viết: "Trong khi Morgan Stanley chia sẻ lợi nhuận khổng lồ từ việc huy động vốn trong và ngoài nước của các doanh nghiệp Trung Quốc, họ cũng phải chịu sự ghen tị và đố kỵ từ vô số đồng nghiệp... Tại sao lại là Morgan Stanley? Tại sao lại là 35%? Theo những người từng chứng kiến toàn bộ quá trình liên doanh năm đó hồi tưởng, việc tiếp cận thị trường vốn Trung Quốc không có quy định hạn chế cứng nhắc nào về mặt pháp lý, ngưỡng cửa thực chất nằm ở "lằn ranh đỏ" phê duyệt chính sách. Giống như hầu hết các doanh nghiệp liên doanh thời bấy giờ, chỉ là việc mở cửa thị trường vốn nhạy cảm và thận trọng hơn một chút mà thôi. Có lẽ là do bên liên doanh đã nỗ lực và tích cực hơn chăng. Người trong cuộc cũng chẳng thể nói rõ ngọn ngành ra sao."

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba