Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 396 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2002 Trung Quốc chế tạo (3)

❊ ❊ ❊

Cải cách chế độ "thấy ánh sáng liền chết yểu", Đào Kiến Hạnh đi một nước cờ tan vỡ.

Những bê bối về quyền sở hữu tài sản này bùng nổ khắp nơi, khiến người ta thời bấy giờ phải hoa mắt chóng mặt. Một sự thật đáng ghi nhớ là, trong quá trình cải cách quyền sở hữu diện rộng, đã xuất hiện cục diện "doanh nghiệp nhỏ dễ cải cách, doanh nghiệp lớn khó cải cách; doanh nghiệp vô danh dễ cải cách, doanh nghiệp nổi tiếng khó cải cách; doanh nghiệp thua lỗ dễ cải cách, doanh nghiệp có lãi khó cải cách". Vì vậy, sự thay đổi quyền sở hữu của một số doanh nghiệp lớn, nổi tiếng và có khả năng sinh lời mạnh mẽ đã trở thành cái khó trong những cái khó. Đầu năm, kế hoạch "cải cách Xuân Lan" từng được vận hành đầy phô trương đã chính thức tuyên bố đình trệ.

Cải cách Xuân Lan mang ý nghĩa tiêu bản rất lớn. Tiền thân của Xuân Lan là Nhà máy Thiết bị Làm lạnh Thái Châu, một doanh nghiệp tập thể cấp huyện bên bờ vực phá sản tại Thái Châu, Giang Tô. Năm 1985, tài sản của nó là 2,8 triệu tệ, nợ 5,5 triệu tệ, giá trị tài sản ròng âm. Dưới sự điều hành của Đào Kiến Hạnh, Xuân Lan nổi lên như một thế lực đột phá trên thị trường máy điều hòa. Đến năm 1994, Xuân Lan trở thành cơ sở sản xuất điều hòa lớn nhất Trung Quốc và là một trong bảy cường quốc điều hòa thế giới. Năm 2000, quy mô tài sản của Xuân Lan đạt 12 tỷ tệ, tài sản ròng 8 tỷ tệ, trở thành đầu tàu trong ngành điện gia dụng Trung Quốc. Nhờ đó, Đào Kiến Hạnh cùng với Nghê Nhuận Phong của Tứ Xuyên Trường Hồng được bầu làm Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XV. Ông đồng thời gia nhập cơ quan Đảng chính, giữ chức Ủy viên thường vụ Thành ủy Thái Châu.

Tháng 10 năm 2000, trong bối cảnh làn sóng cải cách quyền sở hữu dâng cao và "mô hình Tô Nam" bắt đầu chuyển đổi quy mô lớn, Hội đồng quản trị Xuân Lan phát đi thông báo, tuyên bố trên tiền đề không liên quan đến tài sản nhà nước, Tập đoàn Xuân Lan sẽ cắt ra 25% từ gần 5 tỷ tệ tài sản tập thể, dùng tiền mặt theo tỷ lệ 1:1 để phân bổ cổ phần định lượng cho ban điều hành và hơn một vạn nhân viên. Đào Kiến Hạnh cho rằng, cải cách Xuân Lan phù hợp với chính sách trung ương nên đã cao giọng thúc đẩy, thu hút sự quan tâm rộng rãi và nồng nhiệt của dư luận. Ông dường như đã cân nhắc đến mọi nguy cơ tiềm ẩn, chẳng hạn như phương án cải cách quy định rõ: công ty không được dùng bất kỳ hình thức nào bao gồm bảo lãnh, tài trợ, vay mượn để giúp bất kỳ ai mua cổ phần công ty. Để giải quyết vấn đề kỹ thuật, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Xây dựng chi nhánh tỉnh Giang Tô đã đạt được thỏa thuận với Xuân Lan, hai ngân hàng cung cấp khoản vay 90% cho toàn thể nhân viên Xuân Lan theo hình thức thế chấp cổ phiếu. Để "tránh hiềm nghi", Đào Kiến Hạnh còn từ chối đề nghị quản lý cấp cao nắm cổ phần chi phối của người khác, thay vào đó thực hiện "chế độ phổ huệ" (phân phối rộng rãi), điều này cũng có nghĩa ông chủ động từ bỏ số cổ phần trị giá hàng trăm triệu tệ. Ông nói với phóng viên tạp chí "Tam Liên Sinh Hoạt": "Các cơ quan liên quan từng cân nhắc cho tôi 10% cổ phần Tập đoàn Xuân Lan, nhưng tôi đã từ chối. Làm việc bán sống bán chết ở Xuân Lan, thực sự không phải vì muốn kiếm thêm tiền. Cho tôi 700 triệu, tôi tiêu vào đâu chứ? Trong lòng tôi, Xuân Lan dường như là của chính mình. Tiền bạc đối với tôi có lực thúc đẩy bằng không."

Sự tự tin và cao giọng của Đào Kiến Hạnh bất ngờ khiến ông trở thành tiêu điểm bàn tán của dư luận. Có người tính toán rằng, cải cách Xuân Lan sẽ tạo ra hàng nghìn triệu phú, hàng trăm đại gia chục triệu và vài tỷ phú chỉ sau một đêm, tài sản của bản thân Đào Kiến Hạnh đương nhiên trở thành tâm điểm chú ý lớn nhất. Trước cải cách, lương tháng của ông là 3500 tệ, còn theo phương án cải cách, ông ước tính có thể nhận được khoảng 50 triệu cổ phiếu. Thế là, đủ loại nghi vấn kéo đến. Nghi vấn thứ nhất là: "Xuân Lan rốt cuộc mang họ gì?" Có người đặt câu hỏi: "Cổ phần nhà nước của Xuân Lan chiếm 75%, theo phương án của Xuân Lan, khi nhân viên mua cổ phần còn được phân bổ quyền hưởng lợi nhuận (cổ phiếu khống) theo tỷ lệ 1:1, vậy phần quyền lợi này từ đâu ra? Phải chăng có nghĩa cổ đông nhà nước từ bỏ quyền lợi nhuận của mình để nhường lại một phần? Điều này có tồn tại vấn đề thất thoát tài sản nhà nước không?" Nghi vấn thứ hai: "Đào Kiến Hạnh dựa vào đâu?" Một người điều hành doanh nghiệp nhà nước lớn, một nhân vật cải cách hưởng địa vị chính trị hiển hách, chỉ sau một đêm "lột xác" thành tỷ phú, quả thực có sự chênh lệch nhận thức rất lớn so với các giá trị phán đoán truyền thống. Nghi vấn cuối cùng và lớn hơn cả: "Hiệu ứng Xuân Lan sẽ mang lại điều gì?" Có bình luận nói: "Khoảng cách giàu nghèo tại Trung Quốc hiện đang nới rộng, biểu hiện chính nhất là một số người điều hành trong quá trình cải cách quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước đã đạt được sự bành trướng tài sản thần tốc. Nếu chuyển đổi thành công, Đào Kiến Hạnh có thể trở thành tiên phong cải cách doanh nghiệp nhà nước và là tấm gương về tài sản của Trung Quốc. Hành động của Tập đoàn Xuân Lan cho thế nhân thấy: làm doanh nghiệp nhà nước cũng có thể trở thành người giàu. Sau khi cải cách Xuân Lan hoàn tất, Trung Quốc có thể xuất hiện một làn sóng cải cách chế độ quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn. Những người như Trương Thụy Mẫn của Thanh Đảo Hải Nhĩ, Chu Hậu Kiện của Thanh Đảo Hải Tín, Nghê Nhuận Phong của Tứ Xuyên Trường Hồng đều có thể trở thành nhóm nhà tư bản đầu tiên trong lịch sử thế kỷ 21 của Trung Quốc."

Đây đều là những nghi vấn rất khó trả lời trực diện, ở một khía cạnh nào đó, nó gần như chạm đến giới hạn đạo đức và thể chế vốn luôn bị né tránh trong cải cách doanh nghiệp. Sự cao giọng của Đào Kiến Hạnh khiến cải cách Xuân Lan bất ngờ rơi vào một cuộc tranh luận vô cùng nhạy cảm. Có người coi cải cách Xuân Lan là "cuộc thay đổi mang tính đột phá có quy mô lớn nhất trong các doanh nghiệp nhà nước lớn trong nước". Phóng viên báo "Kinh tế Thế kỷ 21" viết: "Cải cách Xuân Lan, cả Trung Quốc đều nín thở dõi theo sự việc này." Trong khi đó, các ý kiến khác chỉ trích "Đào Kiến Hạnh chỉ dùng vài chục ngày đã 'chia' xong Xuân Lan". Có truyền thông phỏng vấn Phó tỉnh trưởng tỉnh Giang Tô phụ trách công nghiệp, Trần Tất Đình, ông trả lời đầy khéo léo: "Cá nhân tôi bày tỏ sự ủng hộ." Nhưng các quan chức cơ quan trung ương lại cho rằng, nhà nước chưa hề ban hành chính sách tương ứng cho phép làm như vậy. Một nhà quan sát kinh tế tên là Trương Dũng bình luận: "Cải cách Xuân Lan tuy xét về lý thuyết kinh tế dường như không có chỗ nào không ổn, nhưng số người chịu ảnh hưởng quá lớn, số tiền quá lớn, chưa từng thấy bao giờ. Sự định lượng như vậy thực sự khiến người ta giật mình."

Kết quả của sự "giật mình" đó là cải cách Xuân Lan "thấy ánh sáng liền chết yểu". Thực tế, khi tin tức về cải cách Xuân Lan công bố ra thế giới, kế hoạch cổ phần hóa nhân viên đã cơ bản hoàn thành. Tuy nhiên, dưới áp lực dư luận khổng lồ, cải cách đột ngột dừng lại. Phương án của Xuân Lan được đệ trình lên Chính phủ Trung ương thảo luận, muốn phủ quyết nó gần như không cần thêm lý do gì nữa. Đầu năm 2001, Đào Kiến Hạnh được thông báo: "Phương án này vẫn tồn tại rào cản pháp lý, cần tiến hành luận chứng và tính toán khoa học, chặt chẽ, hợp lý hơn, cần sự hội chẩn tập thể của các nhà kinh tế và luật gia." Đến năm 2002, phương án này đi vào ngõ cụt. Đào Kiến Hạnh, người từng tự cho rằng ván cờ đã định, đã dùng sức quá đà, đi một nước cờ tan vỡ, chỉ còn lại một mảnh thở dài.

Việc đình chỉ cải cách Xuân Lan là một sự kiện mang tính biểu tượng trong phong trào minh bạch hóa quyền sở hữu tài sản. Sau đó, những doanh nghiệp lớn có tình huống tương tự như Hải Nhĩ, Trường Hồng và Hải Tín đều lần lượt bị gác lại các phương án cải cách. (Nguồn bài viết: Kênh Thương mại NetEase)

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba