Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 421 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm 2003: Phong trào "Trọng hình hóa" (2)

❊ ❊ ❊

Tháng 3 năm ấy, Đới Quốc Phương, 41 tuổi, đứng trên con đê dài ở bờ nam sông Trường Giang, dùng giọng phổ thông mang âm hưởng Tô Nam đặc sệt nói với phóng viên đang đến phỏng vấn: "Thiết Bản muốn trong vòng ba năm vượt qua Bảo Cương, năm năm đuổi kịp Phố Hạng." Khi nói những lời này, ông phấn khích như một đứa trẻ lớn xác đã giành được chiếc cúp trong tay. Bảo Cương và Phố Hạng lần lượt là hai nhà máy thép lớn nhất của Trung Quốc và Hàn Quốc, xếp hạng thứ năm và thứ ba toàn cầu. Đới Quốc Phương, người chỉ có trình độ văn hóa tiểu học, lại lên kế hoạch xây dựng một nhà máy thép khổng lồ với sản lượng hàng năm 8,4 triệu tấn ngay bên bờ sông Trường Giang.

Đây là một đứa trẻ khổ cực lớn lên từ bụi cỏ hoang, ông sinh ra tại một ngôi làng nhỏ tên là Độc Nam, thuộc thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 12 tuổi, vì nhà quá nghèo, ông đành phải bỏ học để mưu sinh, công việc đầu tiên là nhặt phế liệu đồng sắt. Ông dường như có thiên phú đặc biệt trong kinh doanh, sau khi tích góp được một chút tiền, ông mua một chiếc máy ép, gom góp sắt vụn rồi ép thành khối để bán được giá cao hơn. Năm 1996, Đới Quốc Phương đăng ký thành lập Công ty TNHH Đúc thép Thiết Bản Giang Tô với vốn đăng ký 2 triệu nhân dân tệ. Ý nghĩa của "Thiết Bản" là lấy sắt làm gốc, không rời bỏ nghề chính. Đến khoảng năm 2000, diện tích nhà máy của Thiết Bản mở rộng lên 270 mẫu, có hơn 1.000 công nhân. Trong "Danh sách 400 người giàu nhất Trung Quốc" của tạp chí "Tài phú mới" năm đó, ông đứng thứ 376 với tài sản ước tính 220 triệu nhân dân tệ.

Những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng và bền vững của kinh tế vĩ mô, giá thép liên tục tăng cao. Trước cổng nhà máy Thiết Bản, những chiếc xe tải lớn từ khắp nơi trên cả nước xếp hàng dài chờ lấy hàng, cảnh tượng này diễn ra mỗi ngày. Theo tính toán của Đới Quốc Phương, cơn sốt thép này của Trung Quốc ít nhất có thể kéo dài 5-6 năm nữa, vì vậy ông quyết định xây dựng một nhà máy thép mới lớn hơn. Kế hoạch xây dựng mới của Thiết Bản nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ chính quyền thành phố Thường Châu. Thường Châu cùng với Tô Châu, Vô Tích được gọi là "Tô Tích Thường", nhưng các doanh nghiệp quy mô lớn lại là một điểm yếu. Ai cũng biết, thép là ngành công nghiệp đầu tư lớn, đầu ra lớn, giấc mơ của Thiết Bản bỗng chốc trở thành giấc mơ của Thường Châu. Trong mắt nhiều quan chức Thường Châu, Đới Quốc Phương là người đáng tin cậy và có thể gửi gắm. Ông có khuôn mặt hốc hác, trầm tính, cả đời không có sở thích gì, chỉ suốt ngày vùi đầu trong nhà máy, cùng các kỹ thuật viên nghiên cứu kỹ thuật. Ông là "ông chủ năm không" nổi tiếng ở địa phương: không đi xe hơi sang trọng, không vào chốn ăn chơi giải trí, không ăn uống xa hoa, không cờ bạc, thậm chí không ở khách sạn cao cấp. Cuộc sống thường ngày vô cùng giản dị, toàn bộ tiền tiết kiệm trong nhà đều đổ vào nhà máy, cha và mẹ kế vẫn luôn ở quê trồng rau làm ruộng. Cả gia đình ông sống trong một căn nhà nhỏ tồi tàn trong nhà máy, một mặt tường nhà bị xe tải lớn đâm thủng mà ông cũng chẳng bận tâm. Chiếc xe ông lái quanh năm là chiếc Santana 2000 nhận được từ việc trừ nợ, dù đã lọt vào danh sách tỷ phú, ông vẫn không thay đổi bản chất tiết kiệm.

Ban đầu, ý tưởng của Đới Quốc Phương không hề to tát như sau này. Quy hoạch ông đưa ra là xây một nhà máy mới có công suất lớn hơn nhà máy hiện tại gấp đôi một chút. Tuy nhiên, dưới sự thúc đẩy nhiệt tình từ phía chính quyền, dự án Thiết Bản thay đổi hết lần này đến lần khác, ngày càng phình to. Chỉ trong vòng 6 tháng, quy mô dự án từ mức hơn 2 triệu tấn ban đầu đã được chốt ở con số 8,4 triệu tấn, diện tích chiếm đất leo thang từ 2.000 mẫu lên 9.379 mẫu, tổng mức đầu tư dự kiến lên tới con số thiên văn là 10,6 tỷ nhân dân tệ. Vào thời điểm đó, tài sản cố định của Thiết Bản là 1,2 tỷ nhân dân tệ, tài sản ròng là 670 triệu nhân dân tệ. Với quy mô vốn như vậy mà muốn khởi động một dự án hơn 10 tỷ nhân dân tệ, không nghi ngờ gì chính là "ngựa nhỏ kéo xe lớn". Đới Quốc Phương nói với cấp dưới: "Địa phương ủng hộ như vậy, còn tìm đâu ra cơ hội tốt thế này?" Chính vì xác nhận được thông tin chính quyền ủng hộ, các ngân hàng địa phương đã mạnh dạn cho Thiết Bản vay vốn, giúp Thiết Bản lập tức nhận được 4,399 tỷ nhân dân tệ hạn mức tín dụng ngân hàng.

Một doanh nghiệp tư nhân muốn khởi động dự án thép đầu tư hơn 10 tỷ, chiếm đất gần vạn mẫu là điều rất khó để nhận được sự phê duyệt từ các cơ quan hữu quan quan trọng. Cải cách kinh tế Trung Quốc từ trước đến nay vốn có truyền thống "vượt rào", tức là cái gọi là "thấy đèn xanh thì chạy nhanh, thấy đèn đỏ thì vòng qua". Rất nhiều cuộc cải cách đã thành công nhờ kiểu vượt rào này, sau này được lưu truyền như những giai thoại đẹp, nhưng cũng không ít người trong quá trình đó đã ngã ngựa, trở thành điển hình vi phạm pháp luật. Sự chênh lệch giữa phát triển cải cách và thiết kế thể chế này đã trở thành một hiện tượng xám xuyên suốt lịch sử doanh nghiệp Trung Quốc.

Người Thường Châu cũng đã thử nghiệm thủ thuật "vượt rào" trong dự án Thiết Bản. Dự án 8,4 triệu tấn của Thiết Bản bị chia tách thành 7 dự án con và 1 dự án bến cảng để báo cáo riêng, Thiết Bản tương ứng thành lập 7 "công ty liên doanh Trung - nước ngoài" chỉ có cái tên. Trong việc phê duyệt quyền sử dụng đất xây dựng, diện tích đất bị "chia nhỏ", cắt thành 14 đơn xin cấp đất. Cục Phát triển Kinh tế khu công nghệ cao Thường Châu, nơi đặt dự án, đã cấp tốc phê duyệt tất cả các dự án cơ sở hạ tầng chỉ trong một ngày. Sau này, khi ở trong trại tạm giam, Đới Quốc Phương nói với phóng viên đến phỏng vấn: "Tất cả thủ tục lúc đó đều do chính quyền lo liệu, chúng tôi cũng không hỏi han những việc này. Khi chính quyền nói được rồi, chúng tôi liền khởi công."

Giống như hầu hết các lĩnh vực khác, doanh nghiệp thép tư nhân luôn có lợi thế về chi phí. Chi phí luyện sắt của doanh nghiệp tư nhân thấp hơn doanh nghiệp nhà nước 60-90 tệ/tấn, chi phí luyện thép thấp hơn 60-150 tệ/tấn, thành phẩm thấp hơn 100-300 tệ/tấn. Vì vậy, Đới Quốc Phương nói: "Giống như xây nhà ở vậy, bạn đi mua một căn nhà có sẵn thì rất đắt, chúng tôi tự đi mua vật liệu về xây thì có thể rẻ hơn 50%. Chúng tôi làm một lò cao chỉ tốn hơn 300 triệu, trong khi người khác phải mất 700 triệu, thậm chí 800 triệu." Để tạo lợi thế chi phí lâu dài, Đới Quốc Phương còn đạt được thỏa thuận cung cấp quặng sắt dài hạn với một công ty Úc, rẻ hơn rất nhiều so với giá thị trường.

Vào năm 2003, Đới Quốc Phương rõ ràng không phải là doanh nhân tư nhân duy nhất bước chân vào ngành thép. Ngay lúc ông đang ôm mộng lớn về thép bên bờ Trường Giang, Quách Quảng Xương của Phục Tinh Thượng Hải cũng đang mưu tính xây dựng một nhà máy thép tại Ninh Ba, Chiết Giang.

Quách Quảng Xương sinh năm 1967, tốt nghiệp khoa Triết học Đại học Phúc Đán, là thế hệ trẻ trong các công ty tư nhân trong nước. Ông thành lập Phục Tinh năm 1992, công việc ban đầu chỉ là làm đại lý tiếp thị và bán hàng cho một công ty bất động sản Thượng Hải. Hai năm sau, Phục Tinh tung ra dự án bất động sản do mình tự phát triển và đạt được sự tăng trưởng bùng nổ trong thời kỳ nóng sốt bất động sản tại Thượng Hải. Sau đó, Phục Tinh lần lượt tiến vào các lĩnh vực dược phẩm, tài chính, bán lẻ, đồng thời làm mưa làm gió trên thị trường chứng khoán, xây dựng nên "hệ Phục Tinh" lừng lẫy trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Trong danh sách người giàu Trung Quốc của "Forbes" năm 2002, Quách Quảng Xương đứng thứ chín. Điều đáng chú ý hơn là trên đầu ông có hàng loạt "vòng hào quang": Ủy viên Chính hiệp toàn quốc khóa IX, Đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa X, Ủy viên thường vụ Liên đoàn Công thương toàn quốc, "Mười thanh niên kiệt xuất Thượng Hải", Hội trưởng Hiệp hội thương nhân Chiết Giang tại Thượng Hải. Phục Tinh bước vào ngành thép từ năm 2001.

Tháng 7 năm đó, Phục Tinh thử sức, chi 350 triệu nhân dân tệ mua lại 30% cổ phần của Đường Sơn Kiến Long. Hai năm sau, họ liên kết với doanh nghiệp thép tư nhân lâu đời là Tập đoàn Thép Nam Kinh để thành lập Công ty TNHH Liên hợp Thép Nam Kinh, hệ Phục Tinh nắm quyền kiểm soát thực tế 60%, đồng thời nắm giữ công ty niêm yết Nam Cương Cổ Phần. Năm này, Nam Cương Cổ Phần đạt lợi nhuận ròng 489 triệu nhân dân tệ. Chính nhờ lợi nhuận hấp dẫn đó, Quách Quảng Xương đã đặt cược vào Ninh Ba, đầu tư 1,2 tỷ USD để xây dựng nhà máy thép công suất 6 triệu tấn/năm.

Tháng 7, Lưu Vĩnh Hành thuộc gia đình họ Lưu ở Tứ Xuyên - người từng được bình chọn là "Người giàu nhất Trung Quốc" - tuyên bố tại Bao Đầu rằng Tập đoàn Đông Phương Hy Vọng sẽ đầu tư 10 tỷ nhân dân tệ tại đây để xây dựng dự án tích hợp điện - nhôm quy mô triệu tấn. Lưu Vĩnh Hành nói, ông đã chuẩn bị 8 năm để tiến vào ngành công nghiệp nặng.

Sau khi anh em nhà họ Lưu xưng vương trong ngành thức ăn chăn nuôi, họ bắt đầu thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ đến các ngành độc quyền. Người em thứ tư là Lưu Vĩnh Hảo thuận lợi tiến vào ngành tài chính vốn có ngưỡng cửa nghiêm ngặt thông qua việc góp vốn vào Ngân hàng Dân sinh, còn người anh thứ hai là Lưu Vĩnh Hành lại có niềm đam mê đặc biệt với công nghiệp nặng. Phán đoán của ông rất đơn giản: "Hiện nay lực lượng chủ chốt của công nghiệp nặng Trung Quốc là doanh nghiệp nhà nước và vốn nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân thông thường không thể vào được do rào cản vốn. Nếu Đông Phương Hy Vọng can thiệp vào công nghiệp nặng, có thể phát huy đặc điểm 'nhanh, tiết kiệm, tốt' vốn có trong quản lý kinh doanh, nhanh chóng thiết lập lợi thế cạnh tranh chi phí thấp, hiệu quả cao." Từ năm 1998, Lưu Vĩnh Hành luôn tìm kiếm một dự án phù hợp. Ông rất ngưỡng mộ "Vua hóa dầu" Đài Loan, người sáng lập Tập đoàn Đài Sóc là Vương Vĩnh Khánh, thậm chí từng nảy ra một ý tưởng có phần "điên rồ" và nực cười: "Tôi muốn đến các công ty đa quốc gia, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp nặng của người Hoa để làm thuê! Tôi không cần lương, làm không công ba năm, toàn tâm toàn ý làm việc cho họ. Nếu tôi làm trợ lý cho Vương Vĩnh Khánh 3 năm, tôi nhất định có thể làm nên sự nghiệp lớn của riêng mình." Người nghe thầm cười, còn Lưu Vĩnh Hành không cảm thấy mình đang nói đùa, ông thậm chí còn thông qua một số trung gian để nhờ họ liên hệ với Vương Vĩnh Khánh.

Đến năm 2002, Lưu Vĩnh Hành dần hình thành ý tưởng tích hợp điện - nhôm. Ông tính toán thế này: Vì nhôm là ngành tiêu thụ năng lượng cao, chỉ có kết hợp nhôm và điện mới có thể tranh thủ không gian công nghiệp lớn hơn, mà hệ thống cung cấp điện của Trung Quốc vốn nổi tiếng là hiệu quả thấp. Nếu tự mình làm điện, không những có thể cung cấp cho sản xuất nhôm mà còn có thể bán ra ngoài. Điều khiến Lưu Vĩnh Hành phấn khích là chuỗi công nghiệp điện - nhôm thậm chí có thể "ghép" với ngành thức ăn chăn nuôi: Điện không thể trực tiếp hỗ trợ thức ăn chăn nuôi, nhưng lượng hơi nước lớn sinh ra từ việc phát điện có thể tái sử dụng. Nếu làm đồng phát nhiệt điện, vừa hay có thể hỗ trợ sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi - Lysine. Cứ như vậy, Lưu Vĩnh Hành hình thành chuỗi công nghiệp khổng lồ: phức hợp điện - nhôm, đồng phát nhiệt điện, Lysine, sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Ngay trước khi dự án Bao Đầu khởi công, ông đã đầu tư 750 triệu nhân dân tệ tại Liêu Thành, Sơn Đông để sản xuất thỏi nhôm và gia công sâu nhôm, đồng thời khởi động dự án Alumina công suất 1,05 triệu tấn/năm với tổng vốn đầu tư 4,5 tỷ nhân dân tệ tại Tam Môn Hiệp, tỉnh Hà Nam. Loạt đầu tư kết hợp này cho thấy tham vọng của "Vua thức ăn chăn nuôi" khi trở thành "Vua nhôm" của Trung Quốc. Sau khi dự án Bao Đầu khởi công không lâu, Lưu Vĩnh Hành lại tận dụng uy tín của mình trong giới doanh nghiệp tư nhân, triệu tập 13 doanh nghiệp tư nhân nổi tiếng trong nước tại Bắc Kinh để họp, đề xuất cùng thành lập một công ty đầu tư với mục đích ra nước ngoài thăm dò khoáng sản, đầu tư vào các nhà máy Alumina ở nước ngoài. Lỗ Quán Cầu của Tập đoàn Vạn Hướng cũng cử đại diện lên phía Bắc dự họp. Lưu Vĩnh Hành dùng hành động của mình để chứng minh triển vọng của công nghiệp nặng: "Tôi làm thức ăn chăn nuôi hơn hai mươi năm, đến nay giá trị sản lượng cũng chỉ hơn 3 tỷ. Hai nhà máy nhôm của tôi đến năm 2008 sẽ đạt sản lượng 1,15 triệu tấn, nếu tính theo giá 16.000 tệ như hiện nay thì giá trị sản lượng gần 20 tỷ." So sánh hai bên, những người tham dự đều phấn khích cảm nhận được thế nào là "công nghiệp nặng".

Trên thực tế, ngay lúc Lưu Vĩnh Hành bước một chân vào ngành nhôm, công suất điện phân nhôm trong nước mở rộng mạnh mẽ, nhu cầu đối với Alumina cũng tăng theo. Năm 2003, nhu cầu Alumina toàn quốc vượt quá 11 triệu tấn, sản lượng Alumina trong nước chỉ đáp ứng được nhu cầu cơ bản, hơn một nửa đều phải nhập khẩu thông qua Tập đoàn Nhôm Trung Quốc (Chinalco) và Tập đoàn Ngũ khoáng Trung Quốc, hơn nữa đơn vị thứ nhất còn kiểm soát 100% sản lượng Alumina trong nước. Tình trạng cung cầu này khiến giá Alumina trong nước tăng nhanh từ 1.300 tệ/tấn vào giữa năm trước lên 3.700 tệ/tấn. Theo tính toán của Lưu Vĩnh Hành, chi phí mỗi tấn Alumina là hơn 1.000 tệ, sự độc quyền cao độ khiến lợi nhuận của Tập đoàn Nhôm Trung Quốc vượt quá 300%.

Ngay khi nhiều người chúc mừng Lưu Vĩnh Hành đã lao vào một "ngành nghề tốt", ông lại bắt đầu lo lắng, bởi vì: "Ngành nghề quá kiếm tiền thường không phải là ngành của chúng tôi." Quả nhiên, sự tiến công của Tập đoàn Đông Phương Hy Vọng nhanh chóng khiến bên độc quyền là Tập đoàn Nhôm Trung Quốc không hài lòng. Chủ tịch Chinalco Quách Thanh Côn tuyên bố rõ ràng: "Không phản đối, không bình luận, nhưng chúng tôi bày tỏ sự tiếc nuối." Lưu Vĩnh Hành sau đó thừa nhận với truyền thông: "Dưới sự ám chỉ của Chinalco, hai viện thiết kế Magie - Nhôm ở Thẩm Dương và Quý Dương lần lượt dừng công việc thiết kế cho dự án Tam Môn Hiệp."

Lưu Vĩnh Hành vốn tư duy chặt chẽ không thể nào không tính toán toàn diện mọi rủi ro và thắng lợi. Ở tuổi 55, ông rõ ràng hiểu rõ sức nặng của lần lựa chọn này: "Một khi sai sót, tích lũy mấy chục năm sẽ đổ sông đổ bể, vì vậy phải thành công ngay từ bước đầu." Do đó, ngay từ đầu ông đã thể hiện sự vô cùng thận trọng và kín tiếng, hơn 2 tỷ vốn khởi động của Đông Phương Hy Vọng không có một đồng nào vay từ ngân hàng, lễ khởi công dự án Bao Đầu rất đơn giản, ngoài một phóng viên tờ "Nam Phong Song" có quan hệ thân thiết với Lưu Vĩnh Hành, không có phương tiện truyền thông nào khác được mời đến.

Tại Chiết Giang, nơi kinh tế tư nhân năng động nhất, đã xuất hiện một "phong trào doanh nghiệp tư nhân sản xuất ô tô" vô cùng sôi nổi. Chiết Giang vốn là căn cứ sản xuất linh kiện ô tô, chịu sự kích thích từ tin tức Lý Thư Phúc nhận được "giấy phép sinh đẻ", một nhóm lớn các doanh nghiệp tương tự Lý Thư Phúc đều bùng cháy ý định sản xuất xe nguyên chiếc.

Năm nay, tin tức về sản xuất ô tô xuất hiện không ngớt: Tập đoàn Trung Dự Chiết Giang liên kết với Đông Phong đăng ký thành lập Công ty Ô tô Trung Dự Vũ Hán; Công ty Công nghiệp Thiết Ngưu Chiết Giang ra tay tái cơ cấu công ty niêm yết linh kiện ô tô ST Kim Mã; Tập đoàn Hoa Tường Ninh Ba thông qua chuyển nhượng cổ phần, nắm giữ 60% cổ phần để thâu tóm Công ty sản xuất ô tô Trung Hưng Hà Bắc; Tập đoàn Áo Khắc Tư sản xuất điều hòa thâu tóm 95% cổ phần của Ô tô Song Mã Thẩm Dương, đồng thời tuyên bố sẽ chi 8 tỷ nhân dân tệ để tiến quân vào ngành công nghiệp ô tô trong vòng 5 năm; Tập đoàn Thanh Niên Kim Hoa ký thỏa thuận hợp tác với Công ty (Tập đoàn) Công nghiệp Hàng không Quý Châu, nắm quyền kiểm soát Vân Tước Quý Châu; ngay cả Tập đoàn Ba Đạo Ninh Ba vốn phất lên nhờ máy nhắn tin và điện thoại cũng tuyên bố sẽ đầu tư 4 tỷ nhân dân tệ để xây dựng căn cứ sản xuất ô tô con.

Đến cuối tháng 9, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia liên tiếp nhận được đơn xin cấp danh mục sản xuất xe nguyên chiếc của hơn 40 doanh nghiệp tư nhân Chiết Giang. Theo thống kê khảo sát của Liên đoàn Công thương tỉnh Chiết Giang lúc bấy giờ: Chiết Giang đã có 28 doanh nghiệp bước vào ngành sản xuất xe ô tô nguyên chiếc, phạm vi liên quan đến xe con, xe bán tải, xe thương mại và xe khách, trong đó có 5 nhà máy sản xuất ô tô, chiếm 4% cả nước, 14 doanh nghiệp sản xuất xe cải tạo, chiếm 2,7% cả nước. Hiện tượng doanh nghiệp tư nhân Chiết Giang "sản xuất ô tô như đi chợ" đã thu hút sự chú ý của Trung ương. Tháng 10, 5 bộ ngành như Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, Tổng cục Thuế Quốc gia đã đến nhiều thành phố của Chiết Giang để khảo sát ngành công nghiệp ô tô, kết luận cuối cùng là: "Doanh nghiệp tư nhân Chiết Giang sản xuất ô tô không hề quá nóng, không có vấn đề gì quá nghiêm trọng."

Trên phạm vi toàn quốc, làn sóng sản xuất ô tô cũng vô cùng hoành tráng. Tại Quảng Đông, nhà sản xuất đồ gia dụng nhỏ lớn nhất cả nước là Tập đoàn Mỹ Đích nhận chuyển nhượng cổ phần của Công ty Tập đoàn Xe khách Tam Tương Hồ Nam; nhà sản xuất pin Niken lớn nhất thế giới là Tập đoàn BYD thâu tóm 77% cổ phần của Công ty TNHH Ô tô Tần Xuyên Tây An; tại Trùng Khánh, Tập đoàn Lực Phàm sản xuất xe máy lần lượt thâu tóm Nhà máy xe khách Trùng Khánh và Công ty ô tô đặc chủng Trùng Khánh, tái cơ cấu thành lập Công ty TNHH Sản xuất ô tô thương mại xe khách nặng Lực Phàm Trùng Khánh; một doanh nghiệp xe máy khác là Long Hâm Trùng Khánh thâu tóm Công ty TNHH Ô tô Sơn Lộc Thành Đô, bước vào thị trường xe khách; tại Hà Bắc, Tập đoàn Ô tô Trường Thành ở Bảo Định đã niêm yết trên bảng chính Hồng Kông vào tháng 12 năm đó, phát hành 114 triệu cổ phiếu H, huy động 1,516 tỷ đô la Hồng Kông, trở thành doanh nghiệp ô tô tư nhân đầu tiên niêm yết tại Hồng Kông; tại Giang Tô, Cố Trù Quân vốn đã nắm trong tay Khoa Long tuyên bố thâu tóm 60,67% cổ phần nhà nước do Tập đoàn Á Sát Dương Châu nắm giữ, qua đó trở thành cổ đông lớn nhất của Xe khách Á Sát...

Ngay cả trong lĩnh vực dầu khí nơi vốn nhà nước là mạnh nhất, cũng xuất hiện những người thử nghiệm là vốn tư nhân. Năm nay, một doanh nghiệp tư nhân tên là Thiên Phát Dầu Khí nhận được giấy phép nhập khẩu dầu thành phẩm và dầu thô toàn quốc do Bộ Thương mại cấp, trở thành doanh nghiệp dầu khí tư nhân duy nhất sở hữu đồng thời hai loại giấy phép.

Người sáng lập Thiên Phát là Cung Gia Long đã sớm thâm nhập ngành dầu khí, ban đầu ông buôn lậu dầu ở Hải Nam và Hồ Bắc, khoảng năm 1988, ông thâu tóm hai kho khí hóa lỏng dầu mỏ, sau đó thành lập Trạm lưu trữ vận chuyển Kinh Châu thuộc Công ty khí hóa lỏng dầu mỏ Long Hải Hải Nam. Năm 1996, Thiên Phát Dầu Khí niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến, huy động 300 triệu nhân dân tệ, lúc đó Thiên Phát Dầu Khí sở hữu một trạm xăng và ba trạm khí hóa lỏng. Những năm tiếp theo, Trung Thạch Hóa và Trung Thạch Du trỗi dậy mạnh mẽ, hơi thở độc quyền ngày càng đậm, không gian cho doanh nghiệp tư nhân ngày càng hẹp, Cung Gia Long không còn làm được gì. Cho đến sau năm 2002, cùng với giá dầu liên tục tăng, dầu mỏ ngày càng trở thành chủ đề công cộng. Mỗi lần giá dầu thô tăng hoặc giá dầu thành phẩm trong nước điều chỉnh đều khơi dậy sự chú ý và đưa tin liên tục của truyền thông đại chúng. Dư luận không ngừng yêu cầu mở cửa thị trường và phá vỡ thế độc quyền dầu khí. Cung Gia Long khôn ngoan chớp thời cơ, sau khi giành được hai tấm giấy phép của Bộ Thương mại, ông tiếp tục mạnh dạn đề xuất kế hoạch thành lập Hiệp hội ngành dầu khí tư nhân. Ông cố gắng bắt chước tiền lệ thành công của Ngân hàng Dân sinh, dựa vào nền tảng của Liên đoàn Công thương toàn quốc để mở ra một lối đi trong lĩnh vực dầu khí. Dưới sự vận động của ông, Liên đoàn Công thương toàn quốc đồng ý thành lập Hiệp hội thương mại dầu khí, tổng cộng hơn 50 doanh nghiệp trở thành hội viên đầu tiên, Cung Gia Long trở thành hội trưởng đầu tiên. Ông vì thế được gọi là "Người dầu khí tư nhân số một", một số phương tiện truyền thông thậm chí dán nhãn cho ông là "Chiến binh dầu khí thách thức độc quyền". Cung Gia Long công khai tuyên bố muốn thành lập một "Quỹ công nghiệp dầu khí", hy vọng có thể tập hợp hàng chục tỷ vốn để ra nước ngoài tìm nguồn dầu. Khi trả lời phỏng vấn phóng viên, Cung Gia Long tuyên bố, do không có nguồn dầu, các trạm xăng do doanh nghiệp tư nhân sở hữu thường phải mua dầu từ Trung Thạch Du, Trung Thạch Hóa với giá cao hơn, khi khan hiếm dầu, thậm chí hoàn toàn không lấy được dầu, điều này khiến sự tồn tại của doanh nghiệp dầu khí tư nhân càng thêm khó khăn. Ông nói: "Việc đầu tiên chúng tôi muốn làm nhất là liên kết gần 40.000 trạm xăng phân tán trên khắp Trung Quốc lại với nhau."

Từ thép đến nhôm, từ ô tô đến hóa dầu, "phong trào trọng hình hóa" mà doanh nghiệp tư nhân phát động vào năm 2003, dù nhiều năm sau vẫn khiến người ta bàn tán không thôi, bánh xe thị trường dường như đang nghiền nát những khu vực độc quyền cứng nhắc. Trong 30 năm qua, lực lượng vốn tư nhân Trung Quốc đã có hai nỗ lực phá vỡ rào cản sở hữu vào năm 1987 và 1996 nhưng không thành công, vậy thì lần "phong trào trọng hình hóa" năm 2003 này chính là lần thứ ba, cũng là cuộc xung phong tập thể có thực lực mạnh mẽ nhất. Nhắm vào cảnh tượng sôi động này, tạp chí "Doanh nhân Trung Quốc" trong một bài bình luận cuối năm đã không khỏi cảm thán: "Khi sự nâng cấp của doanh nghiệp tư nhân và quá trình công nghiệp hóa mới của Trung Quốc đang kết nối đúng thời điểm, khi 'tinh thần doanh nhân' tư nhân và vốn tư nhân cùng được rót vào ngành công nghiệp nặng của Trung Quốc, người ta không còn nghi ngờ gì nữa, vốn tư nhân đang cày xới trong lĩnh vực công nghiệp nặng sẽ làm mới đội hình mạnh nhất của doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc trong vài năm tới; vòng phong trào công nghiệp mới với động lực chính là sức mạnh thị trường này sẽ sinh ra lứa đại gia công nghiệp nặng đầu tiên của Trung Quốc, những người không xuất thân từ quan chức, không bị chính quyền bổ nhiệm, chỉ luận công lao bằng thị trường." Bài bình luận này đọc lại sau này, cứ ngỡ như lời mộng du tiền kiếp.

Song hành với phong trào diễn ra trong giới thương nghiệp là việc giới tư tưởng kinh tế cũng đang vận hành những phản tư sâu sắc. "Hồng vệ binh" Dương Hy Quang năm nào từng ngồi tù vì viết "Trung Quốc đi về đâu" nay đã trở thành nhà kinh tế học nổi tiếng Dương Tiểu Khải, lý thuyết "Lợi thế của kẻ đi sau" mà ông đề xuất đã gây ra những cuộc thảo luận rộng rãi.

Ông cho rằng, các quốc gia lạc hậu do phát triển muộn nên có thể học hỏi rất nhiều thứ từ các quốc gia phát triển. Học hỏi có hai hình thức, một là học hỏi thể chế, hai là học hỏi công nghệ và mô hình công nghiệp hóa. Do không gian học hỏi rất lớn, nên có thể đạt được những thành tựu mà các quốc gia phát triển phải có thể chế nhất định mới đạt được, trong điều kiện thể chế chưa hoàn thiện thông qua việc học hỏi công nghệ và mô hình quản lý. Đặc biệt, học hỏi công nghệ tương đối dễ, học hỏi thể chế tương đối khó, vì cải cách thể chế sẽ đụng chạm đến một số lợi ích nhóm, do đó các quốc gia lạc hậu sẽ có xu hướng học hỏi công nghệ. Dương Tiểu Khải cảnh báo thêm: "Tuy nhiên, các quốc gia lạc hậu tuy có thể đạt được sự phát triển rất tốt trong ngắn hạn, nhưng sẽ để lại nhiều ẩn họa cho sự phát triển lâu dài, thậm chí phát triển lâu dài có thể thất bại. Sự thành công ngắn hạn này có thể lại là 'lời nguyền đối với người đi sau', việc dùng học hỏi công nghệ thay thế cải cách thể chế sẽ tạo ra cái giá dài hạn rất cao. Ví dụ, chính phủ độc quyền ngành ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất ô tô, viễn thông, và học hỏi công nghệ mới, phương pháp quản lý của chủ nghĩa tư bản để thay thế cải cách thể chế, đây chính là lợi thế của kẻ đi sau của Trung Quốc. Căn bệnh quan trọng nhất của lợi thế kẻ đi sau này không phải là hiệu quả doanh nghiệp nhà nước thấp, mà là thể chế hóa chủ nghĩa cơ hội quốc gia, chính phủ vừa làm trọng tài, vừa làm cầu thủ. Dưới thể chế này, hiệu quả doanh nghiệp nhà nước càng cao thì càng không có lợi cho sự phát triển kinh tế lâu dài."

Về mặt giải pháp, Dương Tiểu Khải không chủ trương lập tức thực hiện tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Ông cho rằng: "Việc này không thể làm quá nhanh hay quá sớm. Tôi chủ trương học hỏi kinh nghiệm từ Đài Loan, thực hiện tự do hóa, tức là không phân biệt đối xử với doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay tại Trung Quốc đại lục, hơn ba mươi ngành nghề bao gồm ngân hàng, chứng khoán vẫn không cho phép tư nhân kinh doanh, còn hơn hai mươi ngành khác thì hạn chế tư nhân tham gia, tất cả những điều này đều không phù hợp với nguyên tắc của WTO, sớm muộn gì cũng phải xóa bỏ. Chỉ cần thực hiện tự do hóa chứ không nhất thiết phải tư nhân hóa. Đài Loan sau khi thực hiện tự do hóa gần xong mới tiến hành tư nhân hóa các doanh nghiệp lớn. Đó là con đường thành công. Tư nhân hóa liên quan đến sự thay đổi lớn về quyền sở hữu, trong ngắn hạn thường làm giảm hiệu suất, vì vậy cần phải thận trọng và nắm bắt thời cơ. Tuy nhiên, tự do hóa có thể thực hiện sớm. Tự do hóa ở đây không phải là tự do giá cả, mà là thực hiện chế độ đăng ký tự động, cho phép tư nhân kinh doanh mọi ngành nghề." Những phân tích và chủ trương này của Dương Tiểu Khải hoàn toàn trùng khớp với quan điểm cải cách "thể chế quan trọng hơn kỹ thuật" mà Ngô Kính Liên đã đưa ra từ 11 năm trước, chỉ là lập luận của Dương Tiểu Khải trong thời điểm này cho thấy sự cấp bách hơn.

Trong khi phản tư về "bất lợi của kẻ đi sau", còn có ý kiến cảnh báo về "Mỹ Latinh hóa". Tại "Hội nghị Lãnh đạo Doanh nghiệp Trung Quốc năm 2003" diễn ra vào tháng 12, một số nhà kinh tế và doanh nhân tư nhân đã thảo luận về chủ đề này. Họ cho rằng: "Trong khi chào đón nguồn vốn nước ngoài khổng lồ, tất cả các doanh nhân tư nhân Trung Quốc nên cảm thấy một nỗi buồn, bởi vì chính việc trói buộc tay chân của các doanh nghiệp tư nhân mới khiến vốn nước ngoài thâm nhập ồ ạt." Quan điểm của nhà kinh tế học gốc Hoa, Giáo sư Hoàng Á Sinh từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) là rõ nét nhất, ông nói: "Khi nhìn vào các chủ thể kinh tế Trung Quốc, chúng ta phát hiện ra rằng bên thực sự chi phối các chủ thể kinh tế này không phải là doanh nghiệp Trung Quốc. Sự phụ thuộc của Trung Quốc vào vốn nước ngoài đang tạo ra tình trạng 'Mỹ Latinh hóa'."

Cuốn "Bản đồ Công nghiệp Trung Quốc" do Trung tâm Nghiên cứu Mua bán và Sáp nhập toàn quốc xuất bản dường như đã chứng thực quan điểm của ông. Ở mỗi ngành công nghiệp đã mở cửa của Trung Quốc, top 5 doanh nghiệp dẫn đầu đều bị các công ty nước ngoài kiểm soát. Một doanh nhân tư nhân tên là Trương Văn Trung đã viết trong bài báo có tiêu đề "Nói không với Mỹ Latinh hóa": "Từ kinh nghiệm phát triển của Brazil và cả khu vực Mỹ Latinh, có thể thấy rằng dù việc thu hút vốn nước ngoài có thể mang lại sự thịnh vượng kinh tế trong thời gian ngắn, nhưng việc mở cửa không giới hạn, quá mức lại gây ra những tác hại căn bản và lâu dài cho sự phát triển quốc gia. Trên thực tế, mức độ thâm nhập của vốn nước ngoài vào nước ta đã rất nghiêm trọng. Nếu không tỉnh ngộ, e rằng khó tránh khỏi vết xe đổ của Mỹ Latinh. Tỷ trọng vốn ngoại trong GDP của nước ta đã cao hơn nhiều so với các quốc gia châu Á khác, thậm chí gấp hơn ba mươi lần Nhật Bản. Tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên tổng vốn đầu tư tài sản cố định xã hội của nước ta đã là một trong những mức cao nhất trong các nền kinh tế lớn trên thế giới."

Những tiếng nói này, bên cạnh những suy tư lý tưởng về triển vọng của doanh nghiệp Trung Quốc, tất nhiên cũng xen lẫn những yêu cầu từ các nhóm lợi ích. Chúng thể hiện rõ ràng một thực tế: sau hơn hai mươi năm phát triển mạnh mẽ, lớp "vỏ bọc" ý thức hệ bao bọc lấy những lợi ích khổng lồ đã lặng lẽ biến mất. Sự cạnh tranh khốc liệt giữa ba tập đoàn tư bản – tư bản nhà nước, tư bản xuyên quốc gia và tư bản tư nhân – đã trở thành đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất trong quá trình trưởng thành của các công ty Trung Quốc.

Cũng giống như những năm tháng đã qua, Internet trong nền kinh tế Trung Quốc vẫn là một "kẻ khác biệt". Ở đây không có kiểm soát, không có vùng cấm, không có trật tự, và tất nhiên đóng góp vào GDP cũng không đáng kể. Tuy nhiên, trong năm nay, nó lại thu hút sự quan tâm nhiệt tình của người dân bình thường theo một cách đầy kịch tính, bởi trong lĩnh vực này, đột nhiên xuất hiện một "người giàu nhất Trung Quốc" trẻ tuổi.

Người trở thành "người giàu nhất" là Đinh Lỗi của NetEase, người từng có chút nản lòng trong hai năm trước đó. Chàng thanh niên Ninh Ba tự nhận mình là "dù ngã cũng phải nắm lấy một nắm cát trong tay" cuối cùng đã đợi được ngày hái quả. Kể từ quý II năm 2002, NetEase lần đầu tiên đạt lợi nhuận ròng, cổ phiếu NetEase bắt đầu dẫn đầu đà tăng trên sàn NASDAQ. Năm 2002, NetEase trở thành cổ phiếu có hiệu suất tốt nhất trong số hơn 3600 công ty niêm yết trên NASDAQ. Hãng tin tài chính nổi tiếng thế giới Bloomberg bình luận rằng: "Khả năng tăng trưởng của nó có thể trở thành cổ phiếu số một trên NASDAQ." Ngày 10 tháng 10 năm 2003, giá cổ phiếu NetEase vọt lên mức cao lịch sử 70,27 USD, tăng 617% so với đầu năm và tăng 108 lần so với mức thấp lịch sử ngày 1 tháng 9 năm 2001. Khối tài sản trên giấy tờ của Đinh Lỗi cũng vượt quá 5 tỷ nhân dân tệ. Anh trở thành doanh nhân khởi nghiệp đầu tiên làm giàu nhờ Internet để trở thành "người giàu nhất Trung Quốc". Sự kiện này lần đầu tiên khiến giá trị tài sản từ Internet được trình bày một cách rõ ràng và chính xác bằng những con số.

Đây là một phương thức làm giàu hoàn toàn khác biệt so với thế hệ đi trước. Những doanh nhân ngôi sao chói lọi nhất trong giới kinh doanh lúc bấy giờ như Liễu Truyền Chí, Trương Thụy Mẫn đều đã khởi nghiệp gần 20 năm, nhưng nếu xét về tích lũy tài sản thì không thể so sánh với Đinh Lỗi trẻ tuổi. Ngay cả Vinh Trí Kiện, người sở hữu tư bản đỏ, cũng mất hơn mười năm mới hoàn thành quá trình tích lũy tài sản này, trong khi Đinh Lỗi từ số vốn khởi nghiệp 500.000 nhân dân tệ để lập ra NetEase cho đến khi ngồi lên ngai vàng người giàu nhất chỉ vỏn vẹn 6 năm. Rõ ràng, đây là một sự kiện mang tính biểu tượng, nó tuyên bố rằng thế hệ doanh nhân Internet trẻ tuổi đã trở thành lực lượng chủ lưu thực thụ trong giới thương mại, "thị trường ngách" để tích lũy tài sản thực sự đã thay đổi đột ngột.

NetEase nằm trong top ba cổng thông tin điện tử, nhưng cần nói thêm là sự tăng trưởng lợi nhuận của nó chẳng liên quan gì đến cổng thông tin. Thực tế, các cổng thông tin sống nhờ doanh thu quảng cáo đã bắt đầu thoái trào vào khoảng năm 2003, sự thành công của NetEase nằm ở sự phản kháng tiên phong của Đinh Lỗi. Anh tìm ra hai mảng kinh doanh mới: một là dịch vụ tin nhắn SMS, hai là trò chơi trực tuyến. Dịch vụ SMS dựa vào sự "bố thí" của các doanh nghiệp độc quyền viễn thông. Với sự phổ biến của điện thoại di động, dịch vụ SMS bùng nổ. Hai công ty lớn là China Mobile và China Unicom khi đó còn đang mải mê với việc tăng trưởng người dùng nên chưa có thời gian phát triển mảng này, thế là NetEase trở thành nhà cung cấp nội dung SMS quan trọng. Theo thỏa thuận lúc bấy giờ, người dùng gửi một tin nhắn có phí 1 nhân dân tệ thông qua NetEase, phía nhà mạng lấy 0,2 nhân dân tệ, NetEase nhận được 0,8 nhân dân tệ. Năm 2002, số lượng tin nhắn SMS do China Mobile gửi đi khoảng 75 tỷ, trong đó tỷ lệ do các đơn vị dịch vụ như NetEase đại lý chiếm khoảng 20%. Rõ ràng, đây là một miếng bánh ngon đầy cám dỗ. Ngoài ra, Đinh Lỗi còn tập trung vào trò chơi trực tuyến, anh tung ra trò chơi nhập vai trực tuyến quy mô lớn "Đại thoại Tây du", nó nhanh chóng mang lại nguồn tài chính khổng lồ cho NetEase. Đinh Lỗi sau cơn hoạn nạn, ở tuổi 30 đã trải qua một thử thách lớn trong sự nghiệp. Sau này khi diễn thuyết tại một trường đại học, anh nói: "Trước năm 30 tuổi, thu hoạch lớn nhất của tôi không phải là kiếm được hai, ba trăm triệu, mà là từng có trải nghiệm lỗ mất hai, ba trăm triệu."

Với sự hồi sinh của NetEase làm dấu mốc, nền kinh tế Internet sau hơn hai năm im ắng đã quay trở lại thời kỳ bùng nổ, Sina và Sohu cũng lần lượt đạt lợi nhuận. Một số thế lực quan trọng sẽ thống trị nền kinh tế mạng Trung Quốc sau này cũng bắt đầu lộ diện hình hài trong năm nay.

Trong lĩnh vực thương mại điện tử, Alibaba của Mã Vân tỏ ra vượt trội hoàn toàn. Sự kiện SARS vào đầu năm đã khiến doanh nghiệp này trải qua một thử thách kỳ lạ. Một nhân viên nữ của Alibaba tham gia Hội chợ Canton bị nghi nhiễm SARS, toàn bộ hơn năm trăm nhân viên công ty lập tức bị tuyên bố "cách ly tại nhà", hoạt động bình thường của công ty bị gián đoạn hoàn toàn, mọi người chỉ có thể làm việc qua Internet tại nhà. 4 năm sau, Mã Vân vẫn còn cảm thấy sợ hãi khi nghĩ lại: "Tôi nghĩ giai đoạn SARS là thử thách lớn nhất của chúng tôi." Tuy nhiên, điều nằm ngoài dự đoán của ông là SARS lại chính là bước ngoặt khiến thương mại điện tử Trung Quốc đột ngột thức tỉnh. Do các giao dịch thương mại và triển lãm thông thường bị cắt đứt, nhiều doanh nghiệp chỉ còn cách dựa vào Internet để duy trì liên lạc và tìm kiếm cơ hội kinh doanh, lưu lượng truy cập của Alibaba tăng vọt. Năm trước, Mã Vân đã lên ý tưởng về dịch vụ trả phí "Thành tín thông", nhưng sau khi ra mắt thì không có tiến triển, bộ phận kinh doanh đã dốc hết sức lực mà một tuần cũng chỉ ký được vài hợp đồng. Sau SARS, tình hình thay đổi hẳn, Alibaba vốn đang mò mẫm trong bóng tối của thua lỗ đột nhiên nhìn thấy ánh sáng.

Trong lĩnh vực công cụ tìm kiếm, bá chủ toàn cầu Google đã vấp phải sự ngăn chặn từ một thiên tài trẻ tuổi người Trung Quốc. Năm nay, một công ty Trung Quốc tên là Baidu lần đầu tiên vượt qua Google trong các đánh giá của bên thứ ba, trở thành công cụ tìm kiếm được cư dân mạng Trung Quốc ưu tiên lựa chọn. Ba năm trước, chàng thanh niên người Sơn Tây sinh năm 1968 Lý Ngạn Hoành đã từ bỏ bằng tiến sĩ, từ Thung lũng Silicon trở về Bắc Kinh để thành lập Baidu tại Trung Quan Thôn. Tên công ty bắt nguồn từ câu thơ tuyệt diệu của thi nhân thời Nam Tống Tân Khí Tật: "Chúng lý tầm tha thiên bách độ, mộ nhiên hồi thủ, na nhân khước tại đăng hỏa lan san xứ" (Giữa đám đông tìm người ấy hàng trăm hàng nghìn lần, chợt quay đầu nhìn lại, người ấy lại ở nơi ánh đèn hiu hắt). Chiến lược của Baidu cũng hoàn toàn mang tính Trung Quốc: nó liên tục tung ra các dịch vụ tìm kiếm phân loại tiếng Trung giàu đặc sắc, trông giống như một mầm cây mọc ra từ mảnh đất vàng. So sánh với đó, Google cao cao tại thượng lại giống như một chậu cây cảnh được mang từ Mỹ sang. Tháng 10 năm 2001, Lý Ngạn Hoành tung ra dịch vụ tìm kiếm mới "Xếp hạng đấu giá công cụ tìm kiếm", nhắm thẳng nguồn lợi nhuận vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Họ chỉ cần bỏ ra vài trăm nhân dân tệ phí đặt cọc quảng cáo là có thể giúp trang web của mình dễ dàng được tìm thấy hơn. Dịch vụ nằm giữa quảng cáo nhấp chuột và thương mại điện tử này đã giúp Baidu mở toang cánh cửa lợi nhuận.

So với câu chuyện khởi nghiệp của Đinh Lỗi, Mã Vân hay Lý Ngạn Hoành, Giang Nam Xuân – người từng là nhà thơ học đường – lại mang màu sắc huyền thoại hơn. Sinh năm 1973, khi còn là sinh viên năm ba đại học, Giang Nam Xuân đã hợp tác cùng người khác mở một công ty quảng cáo. Đây là một thanh niên có năng lượng cực kỳ dồi dào, thích làm nhân viên tiếp thị lại đam mê viết những đoạn văn trữ tình ngắt dòng. Anh thường chỉ ngủ 4 tiếng, mỗi ngày chạy đôn chạy đáo trong các tòa nhà văn phòng tại Thượng Hải để tìm kiếm khách hàng. Tháng 1 năm nay, anh với khuôn mặt mệt mỏi chen chúc trong sảnh thang máy của một tòa nhà văn phòng, xung quanh là những nhân viên văn phòng cũng nhàm chán và vô cảm như mình. Ngay thời khắc đó, cảm hứng đột nhiên như thiên thần giáng xuống, đánh trúng Giang Nam Xuân. Anh nhìn chằm chằm vào bức tường trắng giữa hai thang máy và chợt nghĩ: "Liệu có thể lắp một chiếc tivi phát quảng cáo ở đây không nhỉ?" Tháng 5, Focus Media được thành lập. Trong hai năm, Giang Nam Xuân đã treo 20.000 đầu phát tivi vào các sảnh thang máy tại 45 thành phố lớn nhỏ trên cả nước, trong khi công nghệ IT chín muồi đã giúp anh giải quyết được bài toán cập nhật nội dung quảng cáo tức thời.

Internet chính là nơi tạo ra những huyền thoại như vậy. Nó giống như một cái lò nung đầy đam mê, trong ngọn lửa rực cháy, ngẫu nhiên và tất yếu thường xuyên giao tranh, những món đồ gốm tuyệt mỹ thỉnh thoảng lại kinh diễm xuất thế.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba