Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 421 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm 2003: Phong trào công nghiệp hóa nặng (1)

❊ ❊ ❊

"Trung Quốc thật 'ngầu'!"

—— Khẩu hiệu của nhân viên cửa hàng tại Bách hóa Vương Phủ Tỉnh, Bắc Kinh.

Ngày 5 tháng 3 năm 2003, sau khi hoàn thành báo cáo công tác chính phủ tại kỳ họp thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa X, giữa những tràng pháo tay kéo dài không dứt, Chu Dung Cơ tuyên bố chính thức rút khỏi chính trường. Người kế nhiệm ông là Ôn Gia Bảo, khi đó 61 tuổi, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện.

Từ năm 1991, khi nhận lệnh trong cơn nguy cấp lên Bắc Kinh đảm nhận chức Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, cho đến năm 1998 chính thức nhậm chức Thủ tướng, Chu Dung Cơ đã dùng phương thức chuyên nghiệp và quyết liệt để cải tạo toàn diện nền kinh tế Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ của ông, kinh tế vĩ mô luôn vận hành hoàn hảo trong "đường 38", tức là lạm phát không vượt quá 3%, tốc độ tăng trưởng GDP luôn cao hơn 8%. Chính sự tăng trưởng cao liên tục này đã giúp Trung Quốc duy trì được cảnh tượng phồn vinh "phong cảnh nơi đây một mình một vẻ" trong thời đại thế giới đầy biến động. Thông qua chính sách "phân bếp mà ăn" (phân cấp tài chính), ông đã thay đổi triệt để cục diện thu chi tài chính giữa trung ương và địa phương, tăng cường năng lực tập quyền của trung ương. Trong công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước, ông lại càng đạt được những thành quả ngoài dự đoán. Với việc kiên quyết thúc đẩy chiến lược "nắm giữ cái lớn, buông bỏ cái nhỏ" và "nhà nước rút lui, tư nhân tiến vào", các tập đoàn vốn nhà nước vốn luôn trì trệ đã có sự thay đổi gần như lột xác. Năm 1998, khi ông tuyên bố sẽ hoàn thành nhiệm vụ cải tạo các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn và vừa trong nhiệm kỳ của mình, dư luận trong và ngoài nước đều nghi ngờ. Nhưng sự thật cuối cùng đã chứng minh ông đã thực hiện lời hứa bằng cách riêng của mình.

Ngay tại buổi họp báo đầu tiên trên cương vị Thủ tướng, khi trả lời câu hỏi của Ngô Tiểu Lị từ đài Phượng Hoàng, ông từng có lời khẳng định hào sảng: "Dù phía trước là bãi mìn hay vực sâu vạn trượng, tôi vẫn sẽ tiến về phía trước, không chút do dự, tận tụy đến hơi thở cuối cùng." Lời nói này đã làm lay động cả nước. Mọi người đều cho rằng Thủ tướng đang nói về sự gian nan trong việc thúc đẩy cải cách. Giờ đây ngẫm lại, mới chợt có những cảm ngộ mới: thực ra, người ra quyết định lúc bấy giờ cũng đầy sự bất an trước những điều khó lường của tương lai cải cách.

Trong lịch sử 30 năm cải cách doanh nghiệp, Chu Dung Cơ là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất sau Đặng Tiểu Bình. Nếu Đặng Tiểu Bình dùng tấm lòng cởi mở để quyết định phương hướng cải cách của Trung Quốc, thì Chu Dung Cơ đã hoàn thành việc lựa chọn lộ trình. Trong mười năm tới và thậm chí lâu hơn nữa, các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn luôn vận hành theo logic cải cách mà ông đã thiết lập.

Ngay ngày hôm sau khi ông đọc xong báo cáo công tác chính phủ, tờ "Nam Phương Chu Mạt" đã xuất bản số đặc biệt về Chu Dung Cơ với dung lượng trọn vẹn 24 trang, mô tả một vị Thủ tướng Trung Quốc tận tụy, quyết liệt, đầy ý thức lo âu và đôi khi cũng lộ rõ vẻ bi kịch, bất lực. Trong thời gian đi thị sát các địa phương, Chu Dung Cơ luôn giữ nguyên tắc "ba không": không đề từ, không cắt băng khánh thành, không nhận quà. Nếu thực sự không thể từ chối, ông chỉ viết vỏn vẹn ba chữ "Chu Dung Cơ". Những lần hiếm hoi ông "phá lệ" đều cho thấy nỗi lo âu trong lòng ông.

Ngày 7 tháng 10 năm 1998, không lâu sau khi nhậm chức Thủ tướng, Chu Dung Cơ đến thị sát Đài Truyền hình Trung ương. Tại nhóm sản xuất chương trình "Tiêu điểm Phỏng vấn" – nơi có tiếng nói phê phán sắc bén và ảnh hưởng lớn nhất trong nước lúc bấy giờ, ông đã đề tặng: "Giám sát dư luận, tiếng nói quần chúng, tấm gương chính phủ, mũi nhọn cải cách", đồng thời nói: "Tôi cũng chấp nhận sự giám sát của các bạn." Ông nói thêm: "Bốn câu này không phải tôi nghĩ ra nhất thời, mà là đã suy nghĩ suốt cả đêm qua, đến mức huyết áp cũng tăng cao."

Ngày 16 tháng 4 năm 2001, khi thị sát Học viện Kế toán Quốc gia Thượng Hải, Chu Dung Cơ đã viết khẩu hiệu cho trường: "Không làm sổ sách giả". Ngày 29 tháng 10 cùng năm, khi thị sát Học viện Kế toán Quốc gia Bắc Kinh, ông lại đề tặng: "Lấy trung thực làm gốc, lấy đạo đức làm trọng, tuân thủ chuẩn mực, không làm sổ sách giả". Ông yêu cầu học viện thực hiện một cuộc điều tra: "Điều tôi quan tâm nhất là các học viên này có làm sổ sách giả hay không. Các bạn có thể thực hiện một cuộc điều tra ẩn danh, phát một phiếu khảo sát cho học viên đánh dấu vào: một là làm giả nghiêm trọng; hai là làm giả một chút; ba là không làm giả. Hãy làm một cuộc điều tra xem, để rút ra một tỷ lệ phần trăm. Điều tra phải thực sự ẩn danh."

Tháng 5 năm 2002, khi tham quan tư dinh mới được trùng tu của Hồ Tuyết Nham – "thương nhân mũ đỏ" cuối thời Thanh tại Hàng Châu, Chu Dung Cơ vừa đi vừa cảm thán. Trước sự bất ngờ của quan chức địa phương, ông chủ động yêu cầu được đề từ: "Tư dinh Hồ Tuyết Nham, thấy chạm trổ điêu khắc, lầu gác tầng tầng, cực kỳ tinh xảo của vườn tược Giang Nam, hết thảy sự khéo léo của văn hóa Ngô Việt. Giàu ngang vương hầu, tiền của nghiêng nửa thiên hạ. Người xưa có câu, giàu không quá ba đời, với sự lão luyện của thương nhân mũ đỏ, vậy mà chẳng quá mười năm. Kiêu ngạo xa xỉ, quên mình, là nguyên nhân dẫn đến, há chẳng đáng làm gương răn dạy sao."

Ngay vào lúc Chu Dung Cơ chuẩn bị mãn nhiệm, xã hội và kinh tế vĩ mô Trung Quốc bất ngờ gặp phải một thử thách nghiêm trọng ngoài ý muốn.

Ngày 6 tháng 3, tức ngày hôm sau khi Chu Dung Cơ đọc báo cáo chính phủ, chính quyền Bắc Kinh báo cáo ca bệnh SARS đầu tiên. Một "bóng ma" mang tên SARS đã xâm nhập vào Trung Quốc. Đây là một loại viêm phổi cấp tính nghiêm trọng có khả năng lây lan rất mạnh, có thể dẫn đến tử vong đột ngột. Đáng sợ hơn là tác nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định, nên được gọi là "viêm phổi không điển hình". [Tổ chức Y tế Thế giới lúc đó gọi là Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (Severe Acute Respiratory Syndrome), viết tắt là "SARS". Ngày 16 tháng 11 năm 2002, ca bệnh SARS đầu tiên được phát hiện tại Phật Sơn, Quảng Đông. Từ ngày 3 đến 14 tháng 2 năm 2003, dịch bệnh tại Quảng Đông bước vào giai đoạn cao điểm.] Nó lây lan chóng mặt, từ Quảng Đông đến Hồng Kông rồi đến Bắc Kinh, Thượng Hải, hầu như ngày nào cũng có ca tử vong. Đến ngày 28 tháng 4, chỉ riêng Bắc Kinh đã có 1.199 ca xác nhận, 1.275 ca nghi nhiễm và 59 ca tử vong. Bộ trưởng Bộ Y tế Trương Văn Khang và Phó Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Mạnh Học Nông bị bãi miễn chức vụ do phòng chống dịch không hiệu quả. Trong một thời gian, chống dịch SARS trở thành việc trọng đại nhất của cả nước. Vì loại virus này lây lan rất mạnh, nên hễ phát hiện một ca nghi nhiễm là phải tiến hành cách ly diện rộng ngay lập tức. Nửa đầu năm 2003, mọi hoạt động sinh hoạt và thương mại bình thường của Trung Quốc đều bị đảo lộn, mỗi doanh nghiệp đều trải qua những ngày tháng khó khăn trong nỗi kinh hoàng. Cuộc chiến chống SARS kéo dài đến ngày 24 tháng 6 mới tạm thời kết thúc. Ngày hôm đó, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố dỡ bỏ cảnh báo du lịch đối với Bắc Kinh. Trước cửa Bách hóa Vương Phủ Tỉnh, một nhân viên bán hàng đã vui mừng dán một khẩu hiệu ăn mừng, trên đó chỉ có bốn chữ: "Trung Quốc thật 'ngầu'!"

Điều thực sự "ngầu" vẫn đang tiếp diễn. Điều khiến thế giới hết sức kinh ngạc là, mặc dù gặp phải thảm họa bất ngờ như vậy, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2003 lại không bị ảnh hưởng quá lớn.

Xét về số liệu, kinh tế hai quý đầu chịu tác động của dịch bệnh, tốc độ tăng trưởng giảm xuống 6,7%. Nhưng đến quý III đã nhanh chóng bật tăng mạnh mẽ. Đến cuối năm, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 9,1%, không chỉ cao hơn năm trước mà còn là "năm tăng trưởng nhanh nhất kể từ năm 1997". Các ngành dịch vụ như du lịch, hàng không, ăn uống và giải trí văn hóa bị ảnh hưởng nhất định, trong khi các ngành dược phẩm, thực phẩm, dệt may, viễn thông lại có được cơ hội kinh doanh bất ngờ. Năm đó, GDP vượt ngưỡng 11 nghìn tỷ nhân dân tệ, GDP bình quân đầu người vượt quá 1.000 USD, thu ngân sách vượt mốc 2 nghìn tỷ nhân dân tệ. Trung Quốc vẫn là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Martin Wolf, bình luận viên kinh tế trưởng của tờ "Financial Times" (Anh), đã bày tỏ sự kính trọng đầy kinh ngạc trước sức bật mạnh mẽ này của Trung Quốc. Trong chuyên mục cuối năm, ông đã dẫn lại câu nói nổi tiếng của Napoleon 200 năm trước: "Trung Quốc là một con sư tử đang ngủ, một khi nó thức tỉnh, cả thế giới sẽ phải run rẩy." Ngay sau đó ông viết: "Không lâu trước đây, thế giới vẫn còn thong dong, không để tâm đến lời cảnh báo nói trên của Napoleon. Nhưng hiện tại, Trung Quốc đang làm rung chuyển thế giới."

Điều khiến Wolf ngạc nhiên là: đà tăng trưởng không thể ngăn cản của kinh tế Trung Quốc rốt cuộc dựa vào đâu để chống đỡ? Câu trả lời đến từ hai phía: một là sự kéo mạnh mẽ của ngoại thương "Made in China", hai là sự sôi động của thị trường nội địa với bất động sản là đầu tàu.

Các doanh nghiệp hướng ngoại của Trung Quốc tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong tăng trưởng. Các chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển thuộc Quốc vụ viện phát hiện ra rằng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc đã chiếm hơn 50% tổng GDP, điều này cho thấy nhu cầu bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. [Giáo sư Cao Bách từ Đại học Duke (Mỹ) đã so sánh mô hình kinh tế hướng ngoại của Trung Quốc và Nhật Bản. Ông phát hiện ra rằng, trong việc kết nối với thị trường quốc tế, mô hình Nhật Bản kiên quyết phát triển thương hiệu quốc gia, còn mô hình Trung Quốc hoàn toàn phục vụ cho chuỗi giá trị toàn cầu; về đổi mới công nghệ, Trung Quốc dựa nhiều vào công nghệ sản xuất từ vốn nước ngoài, trong khi Nhật Bản chú trọng phát triển phát minh dựa trên quyền sở hữu trí tuệ độc lập; về mức độ phụ thuộc của GDP vào thương mại, mức cao nhất của Nhật Bản cũng không vượt quá 30%, trong khi Trung Quốc năm 2004 đã vượt quá 65%; về sử dụng năng lượng, Nhật Bản luôn là hình mẫu tiết kiệm năng lượng toàn cầu, còn Trung Quốc năm 2004 đã tiêu thụ 1/3 lượng thép và xi măng thế giới, tạo ra lượng GDP chỉ tương đương khoảng 6% thế giới. Do đó, ông cho rằng khả năng sinh tồn của mô hình Trung Quốc khi các điều kiện bên ngoài thay đổi trọng yếu chắc chắn sẽ yếu hơn Nhật Bản. Một yếu tố mà Cao Bách chưa cân nhắc đến là: so với Nhật Bản, Trung Quốc có thị trường nội địa tiềm năng khổng lồ, nó có thể trở thành vùng đệm lớn cho sản phẩm Trung Quốc khi khủng hoảng bùng phát.] Theo thống kê của Công ty Tư vấn Doanh nghiệp A.T. Kearney (Mỹ), "Made in China" đang làm mưa làm gió trên thế giới. Từ LG đến Mitsubishi, từ GE đến Toshiba, từ Siemens đến Electrolux, từ Philips đến Whirlpool, từ Nokia đến Motorola, từ Dell đến IBM, từ Disney đến Mattel, từ Nike đến GAP... hầu như tất cả các thương hiệu nổi tiếng thế giới hiện nay đều có sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc. Dữ liệu của Kearney cho thấy, "Made in China" đã đứng đầu thị trường thế giới ở hàng trăm sản phẩm như container, đồ gia dụng, đồ chơi điện tử... trong đó container chiếm 90%, đầu đĩa DVD 80%, đồ chơi 75%, quà tặng 70%, dụng cụ thể thao 65%, xe đạp 60%, lò vi sóng 50%, TV màu và tủ lạnh đều chiếm 30%. Do đó, công ty này kết luận rằng "Made in China" sẽ nhanh chóng thay thế "Made in Japan/US", "Made in Europe" để trở thành danh từ đại diện cho ngành sản xuất trong thế kỷ mới.

Trong khi ngoại thương vô cùng náo nhiệt, làn sóng bất động sản trong nước lại trở thành động lực đầu tiên kéo nhu cầu nội địa. Kể từ khi chính sách bất động sản được "cởi trói" năm 1998, thị trường ấm dần lên là xu thế tất yếu. Nơi nóng lên đầu tiên là các khu vực có vốn tư nhân hùng hậu nhất như Chiết Giang và vùng châu thổ sông Châu Giang, sau đó lan sang Thượng Hải. Bất động sản trở thành điểm nóng đầu tư mới. Năm đó, một danh từ rất kỳ lạ đột ngột bùng nổ trên truyền thông – "Đoàn đầu cơ bất động sản Ôn Châu". Từ đầu năm, tại các dự án bất động sản mới ở một số thành phố ven biển, xuất hiện từng nhóm người Ôn Châu, họ giơ những tấm biển gỗ nhỏ ghi "Đoàn mua nhà Ôn Châu", mua nhà như đi mua rau.

Ngày 23 tháng 9, tờ "Đông Phương Tảo Báo" (Thượng Hải) đăng bài "Vốn dân doanh 100 tỷ của Ôn Châu đầu cơ bất động sản toàn quốc", phóng viên cho biết "100.000 người Ôn Châu đang đầu cơ bất động sản trên khắp cả nước, sử dụng khoảng 100 tỷ nhân dân tệ vốn dân gian. Ôn Châu có khoảng 80.000 người mua bất động sản trên toàn quốc, trong đó ít nhất 90% trở lên là đầu cơ. Ước tính bảo thủ, nhóm đầu cơ này có hơn 70.000 người, chủ yếu là nhân viên văn phòng, người nhà quan chức chính phủ và giám đốc công ty... Toàn dân Ôn Châu đều đầu cơ bất động sản. Theo tỷ lệ hoàn vốn 15%, 100 tỷ đầu tư có thể tạo ra 15 tỷ lợi nhuận ròng, đây là ngành kiếm tiền nhanh hơn bất kỳ ngành nào khác, có thể gọi là 'ngành kinh tế thứ nhất của Ôn Châu'." Được biết, các đoàn đầu cơ còn chia thị trường bất động sản toàn quốc thành 4 cấp: cấp 1 là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến, Hàng Châu... giá nhà trên 5.500 tệ/m2; cấp 2 là vùng ven biển phía Đông như Đại Liên, Yên Đài, Nam Kinh, Tô Châu, Phúc Châu... giá nhà 4.000-5.000 tệ/m2; cấp 3 là các tỉnh lỵ ở vùng kết nối Đông - Tây hoặc các thành phố phát triển kinh tế phía Tây như Hô Hòa Hạo Đặc, Vũ Hán, Trường Sa, Hợp Phì, Nam Xương, Urumqi... giá nhà 2.500-4.000 tệ/m2; cấp 4 là các thành phố cấp địa khu quanh tỉnh lỵ có vị trí đặc thù như Quế Lâm (Quảng Tây), Hoàng Sơn (An Huy)... giá nhà 1.000-2.500 tệ/m2.

Trong đội quân đầu cơ bất động sản Ôn Châu, ngoài những thương nhân nhỏ nắm giữ vốn nhàn rỗi, còn có cả những nhân vật nổi tiếng. Vương Quân Dao, người nổi danh vì "gan to bằng trời", là doanh nhân đầu tiên chuyển hướng sang địa ốc. Đầu năm 2002, ông bỏ ra 350 triệu tệ mua lại một tòa nhà "dở dang" có tổng diện tích 80.000 m2 tại khu vực sầm uất Từ Gia Hối, Thượng Hải. Sau khi tu sửa sơ qua, đến năm 2003 ông bán lại và thu về 10,5 tỷ tệ, lợi nhuận bất động sản khiến người ta phải kinh ngạc. Những tòa nhà "dở dang" ở Thượng Hải hình thành vào khoảng năm 1997. Đầu những năm 90, sau khi dự án phát triển Phố Đông khởi động, nó đã gây ra một cơn sốt đầu tư bất động sản. Tuy nhiên, đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, thị trường bất động sản Thượng Hải nhanh chóng trầm lắng, tạo ra một loạt các công trình xây dựng dang dở. Đến năm 2003, Thượng Hải vẫn còn hơn 130 tòa nhà dở dang, quy mô tổng dự án gần 5 triệu m2, hầu hết chúng trở thành vật trong túi của các thương nhân Chiết Giang và Hồng Kông nhạy bén. Sau khi hiện tượng "đoàn đầu cơ" bị phanh phui, dư luận trong nước khen chê không đồng nhất. Sự nhạy bén và phản ứng nhanh nhạy của người Ôn Châu trước những thay đổi thương mại quả thực đáng kinh ngạc, đồng thời cũng có người công kích "đoàn đầu cơ" là "kẻ tội đồ" khiến giá nhà ở khắp nơi tăng vọt.

Sự chỉ trích đối với "đoàn đầu cơ" thực tế đã báo hiệu thời đại bất động sản bùng nổ của Trung Quốc đã đến. Giống như Nhật Bản, Hồng Kông và Đài Loan những năm 70, trên con đường kinh tế tăng trưởng cao, ngành địa ốc với đặc tính thịnh vượng nhất định sẽ trở thành nơi tăng trưởng nhanh nhất và tập trung nhiều lợi nhuận nhất. Bất động sản sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ nhất nuôi dưỡng thế hệ tỷ phú mới của Trung Quốc, đồng thời cũng là ngành buông thả và đầy cảm giác tội lỗi nhất trong 30 năm qua. Trong danh sách "100 tỷ phú Trung Quốc đại lục" của Forbes năm 2003, người ta vô cùng kinh ngạc khi thấy có tới 40 tỷ phú kinh doanh (hoặc liên quan đến) bất động sản. Trong top 10 tỷ phú, các nhà bất động sản (hoặc liên quan) chiếm tới 6 người. Ngược lại, trong danh sách "100 tỷ phú toàn cầu" cùng năm của Forbes, số người có nguồn vốn từ bất động sản chỉ là 7 người, và trong top 10 không có ai khởi nghiệp từ bất động sản.

Giáo sư Chung Vĩ của Trung tâm Nghiên cứu Tài chính thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh đã phân tích tình trạng địa ốc lúc bấy giờ như sau: Về phía cung đất, chính phủ đã cải cách chính sách cung đất vào những năm 90, chính phủ thu tiền sử dụng đất thông qua việc đấu giá đất nhà nước; về phía thu hồi đất, chính quyền các cấp vẫn áp dụng cách làm của kinh tế kế hoạch để thu hồi đất giá rẻ, thậm chí cưỡng chế. Tay trái dùng quyền lực để thu hồi đất giá rẻ, tay phải vẫn dùng quyền lực để đấu giá đất theo phương thức "thị trường hóa", bản chất chính là "bán đất của anh, kiếm tiền của tôi; thu hồi càng ác, kiếm càng nhiều". Ước tính sơ bộ, trong 3 năm 2002-2004, tổng thu nhập từ đấu giá đất toàn quốc đạt hơn 910 tỷ nhân dân tệ. Thu hồi và bán đất đã trở thành "trụ cột tài chính" quan trọng nhất của chính quyền địa phương, họ cũng trở thành kẻ thúc đẩy chính khiến giá nhà ngày càng cao. Lợi nhuận từ đất đai được thu hồi được phân bổ theo thứ tự: doanh nghiệp phát triển bất động sản, chính quyền địa phương, tổ chức cấp thôn và nông dân.

"Made in China" và cơn sốt địa ốc đã trực tiếp tạo nên một cảnh tượng kinh tế phồn vinh rực rỡ, cả trong lẫn ngoài đều vượng. Đi kèm với đó chính là sự khao khát chưa từng có đối với năng lượng thượng nguồn. Kể từ năm 2003, giá các loại nguyên vật liệu và năng lượng liên tục tăng vọt do khan hiếm.

Biểu hiện nổi bật nhất là tình trạng thiếu điện. Sau mùa hè năm đó, cuộc khủng hoảng thiếu điện bùng nổ trên khắp các tỉnh thành cả nước. Các tỉnh tiêu thụ điện lớn như Thượng Hải, Quảng Đông, Giang Tô, Chiết Giang, thậm chí cả tỉnh Sơn Tây giàu tài nguyên than đá, đều liên tục xuất hiện tình trạng cắt điện luân phiên đầy khó xử. Theo số liệu do Ủy ban Điều tiết Điện lực Quốc gia cung cấp, nhu cầu điện toàn quốc năm đó tăng 14%, là năm có mức tăng trưởng điện năng nhanh nhất trong 25 năm qua. Do sự phát triển liên tục của các ngành tiêu thụ than trọng điểm như thép, phân bón, xi măng, dẫn đến lượng tiêu thụ than tăng nhanh, kéo theo tải trọng và lượng điện tiêu thụ toàn quốc tăng cao.

Nguyên nhân gây ra "thiếu điện" có hai: một là sự tăng trưởng nhanh chóng của kinh tế, hai là sự tranh cãi kéo dài nhiều năm giữa hai ngành độc quyền than và điện. Từ trước đến nay, than và điện thực hiện phương thức cung ứng kiểu điều phối kế hoạch. Hằng năm, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức một hội nghị đặt hàng than, ký hợp đồng mua bán than điện trong một năm, sau đó thực hiện theo "kế hoạch". Dưới sự sắp xếp chính sách này, ngành điện – vốn được gọi là "con hổ điện" – luôn ở vị thế cao, là một trong những doanh nghiệp độc quyền có hiệu quả tốt nhất. Trong khi đó, các doanh nghiệp than đá lại cảm thấy bất bình vì giá mua bán theo kế hoạch hằng năm đều thấp hơn giá thị trường. Thế là, những câu chuyện xảy ra trong thời kỳ kinh tế kế hoạch lại tái diễn: doanh nghiệp than và ngành điện cãi nhau hằng năm, đồng thời bán lượng lớn than cho các doanh nghiệp tư nhân ngoài kế hoạch. Còn ngành điện, để "đảm bảo" hiệu quả của mình, thà thiếu than chứ không chịu tăng giá. Sự tranh cãi này trực tiếp dẫn đến tỷ lệ đầu tư xây dựng điện trong tổng đầu tư cơ sở hạ tầng toàn quốc giảm dần, từ 12,09% thời kỳ "Kế hoạch 5 năm lần thứ 8" (1991-1995) xuống còn 10,4% thời kỳ "Kế hoạch 5 năm lần thứ 9" (1996-2000), đến năm 2002 chỉ còn 7,17%, đã tụt hậu so với tốc độ tăng trưởng GDP. Tại hội nghị đặt hàng than toàn quốc đầu năm 2003, để bảo vệ lợi ích công ty than, cơ quan chức năng nhà nước tuyên bố hủy bỏ giá hướng dẫn than điện, hy vọng dùng các phương thức thị trường hóa để bình ổn sự mất cân bằng lợi ích giữa hai ngành. Không ngờ việc này vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ từ ngành điện, các công ty điện lực các tỉnh liên kết tẩy chay, từ chối mua than, khiến hội nghị đặt hàng không thể xác định được giá than điện trong năm. Chính trong hoàn cảnh như vậy, "thiếu điện" đã xảy ra.

Để đối phó với khủng hoảng, các địa phương liên tục tung ra các chiêu thức kỳ lạ: ngoài các phương án sử dụng điện theo kế hoạch như tránh giờ cao điểm, cắt điện luân phiên, các tỉnh thành đều hạn chế hoặc cắt điện một phần đối với các ngành tiêu thụ năng lượng cao. Chính quyền tỉnh Quảng Đông quyết định sẽ nhập khẩu than giá cao nếu xảy ra tình trạng khẩn cấp để giảm bớt áp lực cung cầu. Tỉnh Tứ Xuyên quy định, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thực hiện cơ chế liên kết giá than điện, tức là than điện, than khói tăng 5 tệ/tấn, than không khói tăng 10 tệ/tấn, giá điện tăng 2,9 li/kWh. Các tỉnh Chiết Giang, Giang Tô với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ buộc phải thực hiện kế hoạch sử dụng điện "mở 2 nghỉ 1", "mở 5 nghỉ 2", thậm chí là "mở 3 nghỉ 4". Đây là tình trạng chưa từng xuất hiện kể từ năm 1978, nhiều nhà máy kêu trời, các trung tâm thương mại ở một số huyện thị vào ban đêm chỉ có thể thắp nến để tiếp khách.

Chịu ảnh hưởng của "thiếu điện", các loại nguyên vật liệu vốn đã cung ứng căng thẳng nay càng nhân cơ hội tăng giá, giá xi măng và thép lên đến mức "một tháng ba giá". Ở vùng châu thổ sông Dương Tử thậm chí còn lưu truyền một kiểu "năm cái một" mới: "Sản xuất một tấn thép chỉ cần đầu tư một nghìn vạn tệ, sản lượng một triệu tấn chỉ cần một năm xây dựng, một năm là có thể thu hồi vốn." Hiệu quả đầu tư - sản xuất điên rồ này nghe gần như huyền thoại. Lợi ích dẫn dắt đầu tư, chính dưới sự thúc đẩy của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, kinh tế và cơ cấu công nghiệp Trung Quốc năm 2003 đã xảy ra một bước chuyển mình trọng yếu: sự nhảy vọt từ công nghiệp hóa nhẹ sang công nghiệp hóa nặng.

Giáo sư Lệ Dĩ Ninh thuộc Đại học Bắc Kinh, người được mệnh danh là "Lệ Cổ Phần" vì nỗ lực thúc đẩy cải cách chế độ cổ phần, là một trong những nhà kinh tế học sớm nhất quan sát thấy hiện tượng này. Đầu năm đó, ông viết bài nhận định rằng kể từ giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, sau khi trải qua giai đoạn phát triển thần tốc của công nghiệp nhẹ, "quá trình tái công nghiệp hóa nặng" của Trung Quốc đã bắt đầu manh nha. Trong đó, vừa có quy luật khách quan "từ nhẹ sang nặng" tác động, vừa phản ánh nhu cầu khổng lồ về đổi mới thiết bị của chính sự phát triển công nghiệp. Do đó, "từ chính phủ đến doanh nghiệp đều nên thuận theo xu thế này trong các khía cạnh như bố cục chiến lược và đổi mới kỹ thuật". Minh chứng tốt nhất cho quan sát của giáo sư Lệ chính là sự phục hồi toàn diện của các doanh nghiệp độc quyền nhà nước tập trung đông đảo trong lĩnh vực tài nguyên thượng nguồn. Trong bối cảnh năng lượng khan hiếm, kẻ vui người buồn; buồn là các nhà máy sản xuất tư nhân ở hạ nguồn, còn vui đương nhiên là các doanh nghiệp độc quyền ở thượng nguồn. Năm đó, lợi nhuận của các doanh nghiệp độc quyền nhà nước quy mô lớn tăng vọt. Năm 2002, doanh nghiệp nhà nước đạt lợi nhuận 378,6 tỷ nhân dân tệ, đây là bảng thành tích không thể tưởng tượng nổi vài năm trước đó. Cần biết rằng vào năm 1998, lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước chỉ vỏn vẹn 21,3 tỷ nhân dân tệ; tăng trưởng gấp 18 lần sau 4 năm là tốc độ thực sự đáng sợ. Hơn nữa, cảnh tượng này mới chỉ là bắt đầu. Đến năm 2003, con số lợi nhuận tiếp tục vọt lên 476,9 tỷ nhân dân tệ. Trong những năm tới, lợi nhuận doanh nghiệp nhà nước vẫn sẽ tăng với tốc độ kinh ngạc hơn 30% mỗi năm. Có người đã làm một thống kê, vào năm 2003, lợi nhuận chỉ riêng của 7 công ty gồm Trung Quốc Thạch Du, Trung Quốc Thạch Hóa, Trung Quốc Hải Du, Tập đoàn Bảo Cương, Trung Quốc Di động, Trung Quốc Liên thông và Trung Quốc Viễn thông đã chiếm tới 70% tổng lợi nhuận của tất cả doanh nghiệp trung ương. Trong đó, 6 doanh nghiệp thuộc ngành hóa dầu và viễn thông do nhà nước độc quyền; chỉ riêng 3 doanh nghiệp dầu khí thông qua việc tăng giá đã thu về hơn 30 tỷ nhân dân tệ lợi nhuận từ hư không.

Hiệu quả tăng cao và sức sống phục hồi đã tạo ra bầu không khí thuận lợi chưa từng có cho việc hợp nhất các doanh nghiệp nhà nước. Tháng 3, Quốc vụ viện đưa ra quyết sách trọng đại, tuyên bố thành lập Ủy ban Quản lý Tài sản Nhà nước (SASAC), tập hợp các chức năng quản lý doanh nghiệp nhà nước từ Ủy ban Công tác Doanh nghiệp Trung ương, Bộ Tài chính, Ủy ban Kinh tế và Thương mại Nhà nước, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cũ. Cơ quan này tiếp nhận quản lý tổng tài sản nhà nước trị giá 17,84 nghìn tỷ nhân dân tệ và 159.000 doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp có vốn nhà nước kiểm soát. Trong đó, 196 doanh nghiệp trực thuộc trung ương do SASAC trực tiếp quản lý được gọi là "Quân đoàn Trung ương", phần lớn là các doanh nghiệp độc quyền sau làn sóng "quốc tiến dân thoái". Chủ nhiệm SASAC Lý Vinh Dung tuyên bố, mục tiêu của ủy ban là đến năm 2010 sẽ điều chỉnh và tái cơ cấu "Quân đoàn Trung ương" xuống còn 80-100 doanh nghiệp, trong đó 30-50 doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế. SASAC là một cơ quan có quyền lực tập trung cao độ, kiêm nhiệm nhiều chức năng quản lý hành chính và thị trường. Trước đó chưa từng có một bộ phận nào được trao nhiều quyền lực đến thế, bao gồm: bổ nhiệm, bãi miễn hoặc đề cử người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước; xây dựng kế hoạch tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; chia tách, sáp nhập hoặc giải thể tài sản nhà nước; hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước phát hành trái phiếu huy động vốn; quyết định chuyển nhượng cổ phần nhà nước; thực thi các nguyên tắc hướng dẫn phân phối thù lao tổng thể của doanh nghiệp nhà nước và chịu trách nhiệm bảo toàn, gia tăng giá trị tài sản nhà nước.

Tháng thứ hai sau khi thành lập, SASAC đã thực hiện đợt tái cơ cấu doanh nghiệp trung ương đầu tiên: Tập đoàn Dược liệu Trung Quốc được sáp nhập toàn bộ vào Tập đoàn Dược phẩm Trung Quốc, từ đó hình thành nên tập đoàn dược phẩm lớn nhất Trung Quốc. Ngày 10 tháng 7, SASAC tổ chức "hội nghị gia đình" đầu tiên kể từ khi thành lập. Tại hội nghị này, 5 vụ sáp nhập các doanh nghiệp trung ương lớn đã đồng loạt lộ diện; Tập đoàn Xây dựng Trung Than được sáp nhập vào Tập đoàn Năng lượng Trung Than Trung Quốc, Tổng công ty Xuất nhập khẩu Thiết bị Khoa học Trung Quốc được sáp nhập vào Tập đoàn Công nghệ Sinh học Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Công nghiệp Lên men Thực phẩm Trung Quốc được sáp nhập vào Tập đoàn Công nghiệp Nhẹ Trung Quốc, Tập đoàn Dược liệu Trung Quốc được sáp nhập vào Tổng công ty Tập đoàn Dược phẩm Trung Quốc, Công ty Sự nghiệp Hoa Khinh Trung Quốc được sáp nhập vào Công ty (Tập đoàn) Mỹ thuật Thủ công Trung Quốc. Lý Vinh Dung đã ký hợp đồng đánh giá hiệu suất với hơn một trăm vị lãnh đạo doanh nghiệp. Việc quản lý các doanh nghiệp lớn này của SASAC rõ ràng tham chiếu theo chiến lược "Số 1, Số 2" của Jack Welch. Lý Vinh Dung nói: "Nhà nước cho thời hạn ba năm, bắt buộc phải trở thành top 3 trong ngành, tự tìm đối tượng, ai không đạt được thì phải điều chỉnh, không phải bạn điều chỉnh thì là tôi điều chỉnh". Sự xuất hiện mạnh mẽ của SASAC cho thấy chế độ quản lý tài sản nhà nước kiểu mới của chính quyền trung ương cuối cùng đã hình thành, tuyên bố hoàn thành hai chủ đề cải cách lớn từ năm 1978 là "nới lỏng cơ chế, đổi mới thể chế". Một tin tức liên quan ít được chú ý là ngay trong tháng 3 khi SASAC thành lập, Văn phòng Cải cách Thể chế Quốc vụ viện - cơ quan từng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử cải cách doanh nghiệp Trung Quốc - đã bị giải thể, nhân sự được sáp nhập vào Ủy ban Cải cách và Phát triển Nhà nước. "Sự thay đổi của các bộ phận cải cách thể chế: Tháng 5 năm 1982, Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc khóa V quyết định thành lập Ủy ban Cải cách Hệ thống Kinh tế Nhà nước (gọi tắt là Ủy ban Cải cách Thể chế Nhà nước), đưa vào danh sách các bộ ngành thuộc Quốc vụ viện, trở thành cơ quan chính phủ quan trọng nhất hướng dẫn cải cách doanh nghiệp toàn quốc. Tháng 3 năm 1998, Ủy ban Cải cách Thể chế bị hạ cấp thành 'Văn phòng Cải cách Hệ thống Kinh tế Quốc vụ viện'. Đồng thời, đặt ra một Ủy ban Cải cách Thể chế Nhà nước trên danh nghĩa, do Thủ tướng kiêm nhiệm, các bộ trưởng liên quan làm ủy viên. Tháng 3 năm 2003, cùng với sự ra đời của SASAC, Văn phòng Cải cách Thể chế Quốc vụ viện chính thức bị giải thể."

Việc thành lập SASAC và các chính sách liên quan cho thấy trong tâm trí của những người ra quyết định đã hình thành một mô hình doanh nghiệp "lý tưởng": các doanh nghiệp tư nhân khởi nghiệp bằng "nhẹ, nhỏ, tập, gia" trong lĩnh vực cạnh tranh hoàn toàn ở hạ nguồn công nghiệp có được không gian sinh tồn và phát triển, trong khi các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thì kiểm soát toàn diện một số ngành độc quyền ở thượng nguồn, như vậy "sông Sở ranh Hán, phân định rõ ràng". Tuy nhiên, thế giới thực tế không thể nào "kế hoạch" như vậy. Ngay khi "tái công nghiệp hóa lần thứ hai" trở thành đồng thuận, một cuộc tranh luận đã nổ ra trong giới kinh tế học, trọng tâm tranh luận nằm ở chỗ con đường công nghiệp hóa nặng rốt cuộc nên lựa chọn thế nào. Phái quan điểm đại diện bởi Lệ Dĩ Ninh cho rằng, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp nặng, chính phủ nên phát huy vai trò chủ thể điều chỉnh, bởi vì thu nhập tài chính và đánh giá thành tích quyết định chính phủ tất yếu phải làm công nghiệp nặng hóa có giá trị sản xuất lớn, thuế cao; đồng thời chính phủ cũng có khả năng phát triển công nghiệp nặng vì nắm giữ hai nguồn lực lớn nhất là đất đai và quyền cho vay. Các học giả đại diện bởi Ngô Kính Liên thì cho rằng, điều chỉnh cơ cấu công nghiệp nên phát huy sức mạnh thị trường, cho phép vốn tư nhân gia nhập, việc chính phủ hiện nay thi nhau đầu tư, thi nhau tham gia là không đúng. Hưởng ứng cuộc tranh luận trong giới học thuật, năm 2003, các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc đã xuất hiện một "phong trào nặng hóa" diễn ra vô cùng sôi nổi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba