Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 1440 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »
Một quãng mùa xuân

❊ ❊ ❊

(Kính tặng CCB Đặc công Lê Phú Dân)

Quãng thời gian ngắn ngủi đến hôm nay sau gần năm mươi năm mới có thể nói ra. Rồi bạn đọc sẽ hiểu và thông cảm.

Đón Xuân 1975 trọn một ngày, mùng hai Tết cả đơn vị tôi từ Long Hưng hành quân vượt lộ 4 sang Châu Thành Bắc, tập trung dưới một vườn toàn xoài và vú sữa cao to rậm rạp nghe phổ biến lệnh chiến đấu.

Anh Mười Chín nhường lời cho một cán bộ (tôi đoán là trên R hay ở khu xuống) giao nhiệm vụ cho đơn vị chúng tôi. “Đơn vị 279 từ nay sẽ đảm nhiệm một vùng rộng lớn hơn một trăm kilomet. Độc lập tác chiến. Các đồng chí đến đâu sẽ được cơ sở mật của ta bên trong giúp đỡ. Mọi người mắc võng nghỉ ngơi tại đây, sẽ có cơ sở cách mạng đến đón từng người”. Ông quay sang: “Sáu Dân và Mười Chín gặp tôi bàn công việc”.

Anh em tản mát còn ba người chúng tôi ngồi lại bên gốc cây vú sữa cổ thụ. Từ lúc nãy tôi để ý thấy ông hơi căng thẳng, giờ hình như cởi mở hơn tôi mới hỏi “Thủ trưởng tên gì ạ”? “À tôi mải giao nhiệm vụ nên quên giới thiệu, tôi là Sáu Tâm trên R xuống hai anh ạ”.

Sáu Tâm phổ biến Chiến trường Miền Nam đang có lợi cho ta. Từ hướng Tây nam Sài Gòn đại quân ta có hai nhiệm vụ: Một là đánh vào Giải phóng Sài Gòn, và hai là cầm chân sư đoàn 7 của địch không cho địch rút về Đồng bằng sông Cửu Long cố thủ khi Sài Gòn thất thủ.

Ông thông báo thêm là hướng Tây nam lực lượng quân ta ngoài Sư đoàn 8 Bộ chỉ huy Miền đã điều xuống thêm hai sư đoàn 5-9, đoàn 232 tương đương một Quân đoàn với tăng thiết giáp, Trung đoàn đặc công Miền, lực lượng bộ đội địa phương du kích sẵn sàng phối hợp tiến công.

Căn cứ Tiểu khu Ngã ba Trung Lương của địch cách Sài gòn 60 kilomet, bảo vệ vòng ngoài của chính quyền Sài Gòn đồng thời bảo vệ thành phố Mỹ Tho. Tại đây địch kiểm soát lưu thông từ các tỉnh Miền Tây về Sài Gòn và ngược lại (trên con lộ độc đạo thời đó), ngăn cản đường Giải phóng của quân ta. Chốt là: “Bây giờ nhiệm vụ của Mười Chín và Sáu Dân là đi điều nghiên căn cứ”.

Anh Mười Chín nói: “Vậy khi nào chúng tôi điều nghiên căn cứ tiểu khu Ngã Ba Trung Lương”? “Các đồng chí khẩn trương để có kết quả báo cáo cấp trên càng nhanh càng tốt”!

Lại nói về đơn vị 279 của chúng tôi Chỉ huy cao nhất lúc này là anh Mười Chín. Tôi chắc anh thứ mười, cha mẹ đặt tên Mười, theo phong tục người Nam Bộ gọi là Chín Mười nghe không thuận tai nên đổi thành Mười Chín. Anh quê Bến Tre, đã có vợ, chỉ biết vậy thôi. Và chắc chắn trước khi là người chỉ huy đó là một lính Đặc công cực kỳ gan dạ.

Tại khu 8 có hai anh tuy khác binh chủng nhưng lại rất thân nhau, đó là anh Mười Chín đơn vị tôi và anh Tám Thổ. Trần Ngọc Thổ quê Hải Hưng, vị chỉ huy huyền thoại nhắc tên là địch khiếp vía. Tôi nghe kể chuyện Tám Thổ nhiều lần lên sóng PRC25 thách thức với quân lực Việt Nam Cộng Hòa hai bên dàn trận đánh nhau. Giao hẹn phía Việt Cộng bỏ cối và B40-41, còn bên quân lực Việt Nam cộng hòa bỏ bom pháo… nhưng phía địch không dám. Ngạo nghễ thế là cùng.

Đơn vị tôi khi nhiều nhất chỉ vỏn vẹn bốn mươi cán bộ chiến sĩ và bây giờ là hai mốt người, gần gũi bình đẳng chiến sĩ chỉ huy, cùng chui vào tận đồn địch điều nghiên “tay sờ mắt thấy”… như nhiệm vụ giờ đây.

Căn cứ Tiểu khu Ngã ba Trung Lương cách căn cứ Long Định tôi đã điều nghiên chỉ 3 kilomet nhưng rộng gấp đôi. Có lúc căn cứ này tăng cường hơn Trung đoàn địch. Tôi bàn với Mười Chín khi điều nghiên cho thêm chiến sĩ Vinh (quê Hà Nam Ninh) liên lạc của ông cùng đi theo và chờ ở bên ngoài (bụng nghĩ nếu tôi và ông có gì bất trắc thì có người về báo cáo cấp trên).

Anh Mười nhất trí với đề xuất của tôi. Ba chúng tôi trở lại Châu Thành Nam nhờ cơ sở che chở và cho du kích dẫn đường.

Tôi bảo Mười Chín: “Chỉ có ba người, ta vượt lộ trưa nay đi”.

“Không được, nguy hiểm lắm”!

“Nếu hai ông không đi, mình tôi vượt”.

“Thế bỏ Vinh với tôi lại à”? Mười Chín đành đồng ý. Anh chiều tôi đó… nghĩ lại bấy giờ thương anh biết bao nhiêu.

Dọc theo lộ 1 cứ khoảng 500 mét là một bốt địch, một trung đội lính Ngụy đóng quân. Kiểm soát gắt gao vì chúng biết Việt cộng di chuyển kiểu gì cũng hành quân qua lộ.

Cách lộ khoảng 100 mét tôi bảo tất cả bò sát đất. Tôi đi đầu dặn Vinh khi tôi qua nửa lộ thì Vinh cách sau hai mươi mét tiếp bám lên, vẫn giữ khoảng cách ấy là anh Mười. Nếu địch phát hiện bắn trả rồi cứ thế băng qua làn đạn địch mà sang bên kia (đạn tránh mình chứ mình sao tránh nó?) nhưng vừa lên mép lộ tôi đã thấy Vinh liên lạc bám ngay bên cạnh (không thực hiện ý đồ của tôi).

Cả hai qua chưa được nửa lộ thì hai bốt địch gần nhất phát hiện, chúng kêu ầm lên: “Việt cộng… Việt cộng”! Từ hai chốt hai bên hai làn đạn đại liên M60 khóa tầm cắt chéo nhau nghe chíu chíu… chúng tôi vẫn chạy. Rồi chúng lại tống cối 60ly, nghe tiếng đạn cối bay xé không khí là tôi và Vinh nằm sát đất chờ cối nổ, rồi vùng dậy khẩn trương biến nhanh vào trong vườn cây trái nhà dân.

Hứa với lòng từ nay không trái lời anh… May “đạn tránh” không sao, chờ yên hai anh em quay lại nằm trong vườn cây chờ Thủ trưởng. Khoảng 22 giờ nghe sột soạt. Tôi ra ám hiệu. Anh Mười Chín trả lời khớp ám hiệu… Chúng tôi tìm cơ sở ta, được các má các chị cho ăn và giúp đỡ.

Tới ngày đã định thực hiện nhiệm vụ đi điều nghiên căn cứ Ngã ba Trung Lương, đúng 21 giờ mọi thủ tục hóa trang đã xong. Như thống nhất từ trước là Vinh nằm ngoài hàng rào ngoài cùng, tôi và anh Mười Chín chui vào căn cứ địch. Đó là ngày 9 tháng 3/1975, chuyến điều nghiên cuối cùng của anh Mười Chín… Con số 9 ám ảnh tôi gần suốt năm mươi năm.

Dưới hệ thống đèn điện cộng đèn pha chiếu quét sáng rõ như ban ngày hai chúng tôi lọt vào trong căn cứ địch, lần lượt qua 9 lớp rào kẽm gai, xen giữa là hai hào giao thông sâu đến ba- bốn mét.

Bên trong rộng lớn phân ra nhiều khu vực rất giống nhau, những dãy nhà tôn cao thấp. Khu truyền tin và Sở chỉ huy địch ở đâu?

Phát hiện có cột ăng ten của máy PRC25 phía sau một dãy nhà tôn. “Phải tiếp cận”, tôi bảo anh Mười Chín.

Anh nói: “Để anh đi trước, em theo sau quan sát xung quanh”.

Tôi bảo: “Cẩn thận trong căn cứ địch gài mìn phát sáng đó anh”! Vừa nói xong thì một tiếng “bục.. xè”. Phỉ phui cái mồm tôi… Anh Mười Chín đã chạm mìn phát sáng.

Toàn căn cứ địch kích hoạt còi báo động, nhức óc cùng tiếng loa chỉ huy trong căn cứ: “Việt cộng… Việt cộng… bắt sống Việt cộng”…

Hai người mỗi người một khẩu K54 hai băng đạn không đủ gãi ngứa địch. Mười Chín ra lệnh cho tôi tìm đường thoát ra, còn anh ở lại.

Tôi đề nghị: “Để em”.

“Đây là lệnh cấp trên chú phải chấp hành”! Không một lời thêm nữa.

Tên chỉ huy kích hết cỡ loa: “Việt cộng chính cống thứ thiệt… không cho chúng nó thoát… bằng mọi giá bắt sống… sẽ được trọng thưởng”. Tôi di chuyển xa nơi anh thu hút địch. Chém dè.

Xung quanh tôi đèn pha chiếu quét tăng cường, các lô cốt và lỗ châu mai thi nhau nhả đạn, tiếng giày đinh rầm rập đổ ra. Cảm giác cả bầu trời khu vực huyện Châu Thành và Ngã ba Trung Lương sáng rực, không còn nghe thứ gì ngoài các loại đạn. Mặt đất như muốn nổ tung…

Đồng hồ chỉ ba giờ sáng tôi nghe tiếng loa: “Hỡi cán quân Việt cộng nghe đây, hãy đầu hàng về với Chánh phủ Quốc gia… hàng thì sống chống sẽ chết… Quân lực Việt nam cộng hòa đã tiêu diệt tên Việt cộng ngoan cố không đầu hàng”.

Đây là kiểu chiến tranh tâm lý của địch, nhưng với tôi lại tác dụng ngược, cung cấp thông tin chúng vẫn chưa phát hiện có tôi.

Cách một khoảng khá xa nhưng dưới ánh đèn tôi nhìn mồn một, tụi lính xúm rất đông kéo lê gì như một thân người, trần trụi… là anh Mười. Vào trận chỉ một mảnh quần đùi, anh nằm đó trên đường, cạnh chiếc xe zep đang đậu ngoài cổng chính.

Tê dại ý nghĩ trong tôi mong anh không còn đau đớn, mong anh… đã hy sinh. Chạm vào quả lựu đạn mỏ vịt bên người tôi nhớ lời quyết tâm không để địch bắt sống, nhưng lớn hơn nữa là xứng đáng với anh. Tôi quyết trở về!

Khắc sâu trong ký ức ngày này mùng 9/3/1975 người chỉ huy cao nhất của đơn vị Đặc công 279 cụm H7 dành cho tôi phần sống. Gần nửa Thế kỷ tôi mới cùng người góa phụ vợ ông đưa được mộ ông về với quê hương, bao trắc trở… tôi nghĩ chắc vì ông chưa muốn rời nơi nằm cùng đồng đội. Phải không anh?

Trước mắt tôi nụ cười toại nguyện của anh Mười Chín, tuổi Hai mươi vẫn còn đẹp lắm, niềm tự hào đứng trong hàng ngũ Đặc nhiệm đặc biệt. Anh biết không có vần thơ tặng binh chủng chúng mình…

“Đội trên đầu một mảnh trời xanh

Thân rắn rỏi hơn đồng hơn sắt thép

Đơn tuyến diệt thù công chiến công”!

Từ lúc đó tiếng súng thưa dần, gần sáng chỉ còn thi thoảng tràng đạn trên chòi lô cốt. Tôi đã lần ra được gần cổng phụ, lợi dụng khi bọn lính đổi gác tôi thoát ra ngoài. Chưa xa lắm, tới một vườn cây trái rậm rạp của nhà dân thì bắt đầu trời sáng.

Sáng ra địch sẽ bắt đầu cuộc truy lùng ngoài căn cứ. Tôi xóa dấu vết rồi trườn xuống đìa (ao) dân chém dè, đầu ngụy trang lục bình (bèo tây). Bấy giờ mới nghĩ tới Liên lạc Vinh nằm ngoài hàng rào, có biết khẩn trương rút ra khỏi vùng nguy hiểm không hay đã ăn “kẹo đồng” đạn lạc?

Cựa quậy xem đồng hồ không khéo bị lộ, tôi không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Có tiếng động lục bình mỗi lúc một gần, “thôi chết có lẽ địch đang sục sạo truy tìm Việt Cộng”…

Qua khe hở lục bình lại là một hình bóng một cô gái đang vớt lục bình để chăn heo nhưng qua cử chỉ tôi thấy như kiếm tìm, ánh mắt cô cảnh giác khắp nơi rồi tiếng nhỏ nhẹ đủ nghe: “Có phải Sáu Dân đang chèm dè dưới lục bình không”?

Biết đâu là kiểu tâm lý chiến, là bọn “Thiên nga Phượng hoàng”? Bình tĩnh trấn an, sẵn sàng chiến đấu, tôi phát ám hiệu mật khẩu quy định.

Khoảng nửa phút sau rất thận trọng cô gái trả lời khớp mật khẩu. Vạch lục bình ra mới biết người mình tê dại, tôi đưa tay để cô gái cầm tay kéo lên bờ bỗng giật mình cô túm túm vào mông tôi, thì thào: “Con đỉa hút hết máu anh mà anh không hề biết nè”…

Về cứ mới biết Liên lạc Vinh cũng an toàn. Căn cứ Tiểu khu Ngã ba Trung Lương sau đêm náo loạn tăng cường thêm thành hai Trung đoàn địch.

Sáu Tâm gặp tôi: “Bây giờ chú đến cầu Bến Lức - Long An ngay”. Tôi đã hai lần tôi đến đó, đã quen địa hình. Từ đây đến đó năm mươi kilomet, theo đường du kích đi phải mất hai đêm.

- Chú có cách nào đi nhanh mà an toàn không? Sáu Tâm hỏi tôi.

- Có cách nhanh hơn là đi xe zep Quân cảnh ngụy. Vì phải qua hàng chục trạm kiểm soát địch mà lính ngụy rất sợ bọn Quân cảnh quốc gia.

Sáu Tâm đồng ý với đề xuất của tôi. Vậy là chuẩn bị quần áo, mũ nón… mang phù hiệu Quân cảnh, đầy đủ giấy tờ hợp pháp để đi trên trên lộ 4 ban ngày.

Lại nữa một xe zep mới còn thơm mùi sơn của Mỹ với một trung úy ngụy lái xe. Thiếu tá tôi oai hơn cả Tướng ngụy vì đây là quân cảnh. “Này Thủ trưởng Sáu Tâm, tôi mới có Trung sỹ nhất mà lại đeo lon Thiếu tá vậy có kỳ không”? Ông gắt lên: “Nhiệm vụ chấp hành thực thi cho mau lẹ”! Vậy là tôi nghiêm chỉnh nhập vai.

Năm mươi kilomet xe tôi qua các trạm kiểm soát của địch an toàn. Đến trạm kiểm soát Cầu Bến Lức là trạm cuối, bên kia là Bình Chánh, tôi bảo lái xe dừng cho tôi xuống “kiểm tra”.

Tên đốn trưởng xun xoe nịnh nọt. Tôi ghé tai lái xe bảo hỏi “chúng mày có của ngon vật lạ gì không”?

Tên đồn trưởng hỏi qua lái xe: “Sếp có cần của lạ mát- xa”? Lắc đầu. Thế là chúng đem một thùng lên xe: năm cây thuốc Captăng, hai cây ba số, hai ký giò heo. Lại xun xoe tiễn.

Vào cứ của ta phải bằng xuồng. Đi một quãng nữa chúng tôi giấu xe. Rồi cũng tìm được xuồng máy của dân, đi đến cả 500 mét sao chẳng thấy ai, im ắng rất lạ. Tôi bảo cậu lái xe: “Chú để anh lái xuồng cho, chuẩn bị chiến đấu nhưng khi nào anh ra lệnh mới được nổ súng”.

Xuồng đi 500 mét nữa tôi giảm tốc độ, rút súng bắn theo mật khẩu ám hiệu, thì phía bờ kênh cũng bắn trả lời đúng mật khẩu. Thế rồi hai xuống máy hiện ngay ra, cặp sát chiếc xuồng của chúng tôi đưa về cứ. Về đến cứ gặp toàn người quen cách đây mấy năm công tác chiến đấu trên R, nhờ anh em có quần áo cho thay không mấy anh lại tưởng tôi và lái xe là hàng binh. Tôi bảo cậu lái xe xuống xuồng mang lên thùng đồ biếu, nói vui: “Tụi lính ngụy ngoài cầu Bến Lức hối lộ đấy”!

Vừa nói xong thì một tiếng nói phía sau: “Chào Thiếu tá Quân cảnh ngụy! Chú giỏi quá giỏi”… Quay lại, ôi là Phó Tư lệnh chiến dịch, ông Sáu Khánh. Không biết ông đến lúc nào. Quả đất tròn tôi lại được gặp sếp bự ở đây. Từ giữa năm 1973 ông xuống tận Đồng Tháp Mười giao nhiệm vụ cho tôi và Trần Quang Dành đi điều nghiên căn cứ Tổng kho xăng dầu Nhà Bè.

Sáu Khánh nói với tôi trinh sát đã phát hiện hai chú từ lúc xuống xuồng và xin được nổ súng nhưng ông ra lệnh để cho hai tên giặc đi sâu vào bắt sống… “May mà Sáu Dân xử lý thông minh”!

Ông chia buồn với đơn vị 279 mất một chỉ huy đặc công tài giỏi. “Chiến tranh mà em, chuyện mất mát đau thương là không tránh khỏi”. Tôi nín lặng, bùi ngùi…

Anh Mười Chín hy sinh bị địch buộc vào đuôi xe zep kéo lê trên quãng đường 5 kilomet từ ngã ba Trung Lương đến thành phố Mỹ Tho… Chúng hành hạ, trả thù cho vơi nỗi khiếp sợ. Nỗi khiếp sợ của chúng mang tên anh người chiến sĩ đặc công. Cơ sở của ta đã phải dùng trăm phương ngàn kế mới lấy được anh ra, xác thân nát bấy… Từng vết đau như hiện hữu trong tôi.

Bấy giờ đã giữa mùa xuân. Xuân 1975. Dày thêm ý chí trong tim tôi vào nhiệm vụ mới.

08/8/2023

Lưu Giang

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »