z(Kính tặng CCB Nguyễn Sơn Hà)
Cao Mê Lai 1980. Cơn mưa đầu mùa trút xuống. Khỏi phải nói nỗi vui sướng của anh em trên chốt núi… Chúng tôi hò reo.
Bao ngày qua tất cả nước chỉ để dành nấu cơm, nước uống mỗi người được chia mỗi ngày một bát không dám đun sôi vì sợ bay hơi. Giờ đây nước từ trên trời trút xuống.
Nước thấm đẫm mái tóc dài phủ kín hai tai, thấm vào cái cơ thể của những thằng lính gày gò xanh xao đã lâu ngày không tắm, thấm vào những bộ quần áo bao ngày chỉ được thấm mồ hôi.
Anh em đang trực gác cũng không chịu kém, họ đứng ngoài trời cho những giọt mưa rơi, cảm nhận dòng nước chảy trên người mà mắt vẫn không ngừng quan sát.
Anh Chi bê trưởng bDKZ của chúng tôi bây giờ đã lên núi chỉ huy thay cho anh Huyết. Anh Chi chỉ hơn tôi bảy tuổi nhưng cả Trung đoàn đều gọi “Chú Chi”, rất vui tính và có khiếu làm thơ, đặc biệt những bài cải lương hài hước do chú Chi sáng tác không thể thiếu trong những buổi văn nghệ của Trung đoàn…
Nếu sau này tôi có vài bài thơ thì chắc chắn khởi nguồn là từ người chỉ huy này. Chính anh là người đã dìu dắt tôi từ khi còn là cậu tân binh, một cách vô cùng tận tâm khéo léo. Để sau này khi truyền lại cho các em lính mới tôi luôn học anh tâm thế người thầy… kinh nghiệm trong chiến đấu, cách gài mìn, dò và gỡ mìn, kiểm tra trước khi gỡ mìn địch có hay gài bẫy?
Nhớ lần đánh trận đầu tiên, anh bên tôi thầm thì: “Bắn xong là phải chuyển chỗ ngay nhé em, dễ ợt mà, xem anh làm mẫu nè, em có thấy đỉnh ụ mối có một thằng không? xem anh bắn thằng đó nhé”! Phằng phằng… Anh lôi tôi thật nhanh lủi theo hào ra cách chỗ vừa bắn chừng sáu, bảy mét. “Xong rồi, thằng đó cắt cơm rồi”.
Anh tiếp tục chỉ cho tôi: “Một thằng bên gốc cây bằng lăng kìa, làm đi, nhớ bắn xong di chuyển”.
Tôi điểm xạ hai viên AK. “Mày cũng khá đó chớ, thấy không? dễ ợt mà”, anh nói khi lôi tôi di chuyển. Thực tình tôi chẳng rõ là mình bắn có trúng hay không, chỉ thấy là anh cũng không để ý… anh lo kéo tôi đi.
Cứ vậy, anh dìu tụi đàn em, để tôi dần thành xạ thủ có số trong khẩu đội.
Trên chốt núi bữa nay chú Chi của chúng tôi vừa tắm vừa bảo: “Tụi mày nhớ giữ lại ghét nghe chưa? anh em mình làm bữa canh chua mắm ruốc”. Quả thực chúng tôi bẩn khiếp, giờ như lột xác, nhìn thằng nào cũng như tươi rói, yêu đời.
Nói câu “yêu đời” ở chốt chúng tôi chỉ có những đơn vị nào vào tác chiến Cao Mê Lai mới hiểu. Sự sống mong manh bên cái chết… Anh em vừa nói chuyện với nhau vài phút, người kia hy sinh là rất bình thường… Cái chết đến bất cứ lúc nào, với bất kỳ ai… Mỗi buổi sáng thức dậy mới biết mình có thêm ngày nữa… cứ coi như ngày mai tới lượt cho thanh thản nhẹ đầu. Chính cái tâm lý như vậy mà D3 E2 CAVT chúng tôi đã trụ vững nơi vùng đất mà bất cứ đơn vị nào của f5 Mặt trận 479 đều e dè khi nói tới.
Ở nơi cái sự sống chết không còn là vấn đề mà tình yêu Lan rừng trong tôi trỗi dậy. Mỗi lần đi phục kích ngoài rừng gặp lan tôi lại lấy, rồi anh em biết tôi thích cũng gặp lại mang về… quanh hầm tôi ở chỗ nào cũng rất nhiều lan.
Mưa xuống vài hôm, tôi lấy ống nhòm soi vào bụi cây le mọc dưới sườn bắc núi phát hiện có vài cái măng nhú lên. Chặt dây rừng buộc người (như cách chúng tôi vẫn tụt xuống gài trái), thế là bữa ăn có măng le cải thiện.
Trên chốt núi này tôi và anh Chi có những đêm thức trắng ngắm trăng sao, anh làm thơ còn tôi ngồi bên bình thơ anh tâm đắc. Những bài thơ của anh tôi rơi rụng theo năm tháng, giờ đây chỉ còn đôi câu thí dụ gắn với những ca gác như “Bốn gang tay đo cả bầu trời”… quả thực khi ngồi gác, duỗi thẳng cánh tay tôi đo thấy đúng bốn gang tay vừa khít.
Mấy hôm sau chú Chi bảo tôi “em chuẩn bị về chốt Cầu Cháy, đây là lệnh của Xê”! Hơi buồn chia tay, tôi nhớ câu cải lương của anh viết (trong vở Tâm sự anh nuôi) “Người hết hơi thì còn ngồi nghỉ/ Xe hết hơi thì phải đón xe đò”…
Xuống núi tôi đi làm hai chặng, theo đoàn tải về chốt Sân bay dã chiến rồi ở đó chờ có đoàn nào ra Cầu Cháy theo ra.
Về sân bay tôi là người tự do chẳng thuộc ai quản lý, tôi thoải mái đi lang thang khắp chốt. Và tôi đã biết lý do điều tôi về chốt Cầu Cháy: cả khẩu đội DKZ 82 tại Cầu Cháy đang ăn cơm trúng một trái đạn M79 bọn Pót lợi dụng khi sấm sét. Thương vong hết.
Trong mấy hôm ở lại chốt sân bay dã chiến, tối đến tôi về khẩu đội DKZ 82 ngủ lại và xin được gác đêm dù ai cũng nói để tôi xả hơi sau những ngày trên núi. Tôi thấy này anh em dưới này cũng đâu nhàn hơn. Ban ngày ra chốt tiền tiêu, tối về lại chia ca gác… Ngày vài lần cối Pốt trút xuống, nhất là khu vực sân bay.
Được ba ngày thì buổi chiều hôm ấy c10 tổ chức đi phục địch về, một đồng chí bị thương. Sáng hôm sau tôi theo đoàn tải thương ra Cầu Cháy. Gặp ban chỉ huy c12 tôi ngay lập tức nhận nhiệm vụ về khẩu đội DKZ 82 cùng ba đồng đội nữa, bốn anh em tranh thủ vừa củng cố hầm hào vừa luyện tập thao tác sử dụng súng ĐK. Cũng may là trước đây mọi người đều đã quen với súng, tôi chỉ cần hướng dẫn vài lần là anh em nắm được ngay.
Mưa bây giờ liên tục, nước ngập các chiến hào. Từ ước ao mưa nay thành phiền phức.
Đầu tiên đó là muỗi, số người sốt rét tăng, có đồng đội vì sốt rét đã hy sinh, có thời điểm cả đơn vị tôi không còn người khỏe.
Rồi Pốt tập kích suốt ngày, bất chợt chúng đánh thẳng vào chốt ngày vài lần, ngày vài lần bì bõm dưới hào, quần áo chúng tôi lúc nào cũng ướt.
Anh em bị thương do quả đạn của Pót sau thời gian điều trị đã trở về, khẩu đội DKZ 82 tại Cầu Cháy giờ đầy đủ quân số. Có điều quân số toàn sốt rét… chỉ khác nhau người cắt cơn và người đang sốt. Tôi thuộc dạng có sức mà cứ cắt cơn rồi lại sốt tới mấy lần. Hai bên mông tôi bây giờ là hai cục cứng ngắc, hàng ngày phải đun nước sôi cho vô bình tông rồi chườm.
Nào đã hết đâu, còn căn bệnh nữa không ai biết nó là bệnh gì. Chỉ thấy ngứa, ngứa vô cùng… oái oăm thay nó lại chỉ phát sinh ở bộ phận kín. Bệnh này khắp đơn vị ai cũng bị chứ chẳng phải riêng tôi. Ngứa thì phải gãi, gãi chảy nước vàng rồi rát như phải bỏng gần như không thể mặc quần, thôi thì toàn đực rựa… Sau này về nhà tìm hiểu mới biết là bệnh do thiếu vitamin. Thời điểm này toàn bộ d3 e2 ăn cơm với muối.
Một hôm chúng tôi được lệnh đi phát quang đám rừng non trong chốt làm sân bay cho máy bay trực thăng hạ cánh. Ai cũng mừng… Sân bay làm xong, vài ngày sau một hôm đơn vị nhận lệnh bung hết quân số có thể, sẵn sàng phục kích. Trọng tâm là con lộ tử thần.
Gần trưa tiếng xe thiết giáp ầm ầm tiến vào trong chốt. Chừng mười ba giờ thì đoàn xe quay đầu chạy ra. Sau đó chúng tôi mới biết đó là Thượng tướng Lê Đức Anh vào thị sát chiến trường, ấy là nghe cán bộ đê, xê nói vậy.
Lạy trời, chả biết ổng kiểm tra cái gì nhưng chỉ vài hôm sau xe chở hàng vào. Thịt hộp đủ loại: thịt gà, thịt lợn, cá hộp và cả cá khô… Với đám lính tụi tôi ổng cứ như ông Tiên, ông Bụt trong Cổ tích.
“Năm Tám mươi ông mang hàm Thượng Tướng
Tổng chỉ huy bộ đội chiến trường K
Với chúng tôi ông đáng tuổi cha
Vẫn gió sương cùng đàn con ra trận…”
Đó là vần thơ “lục cục” đầy cảm kích trong nhật ký của tôi.
Bữa ăn của chúng tôi bây giờ lại có rất nhiều sự lựa chọn: ăn cá hay ăn thịt đây? băm chút cá khô và nắm lá giang là có nồi canh chua, mấy đứa ốm sốt có bát cháo cá hay cháo thịt chứ không phải chỉ là cháo muối… Tình hình sức khỏe của toàn đơn vị được cải thiện rõ rệt.
Phum Ta Kong Krao, sau mấy ngày liên tiếp chúng tôi bị các nhóm nhỏ lính Pốt tập kích quấy nhiễu, đơn vị tổ chức các tổ phục kích với quy mô cấp Trung đội ra các hướng nhưng thật lạ, mỗi khi có các tổ phục như vậy lên đường là hôm đó tụi Pốt không tới.
Rồi Ban chỉ huy Tiểu đoàn phát hiện nguyên nhân do đồng trảng trống rộng, tụi Pốt đặt đài quan sát từ xa theo dõi vì theo lệ, cứ sáng ăn cơm sáng xong các tổ phục mới lên đường. Vậy là chúng tôi được lệnh ăn tối xong nhá nhem mới tiến hành. Không ngoài dự đoán, nhóm lính Pốt đầu tiên đã rơi vào trận địa… Vẫn bài như vậy, thêm mấy nhóm Pốt dính đòn ở các hướng khác nhau.
Một tối, bộ phận gồm trinh sát và c9 tổ chức đi phục ở hướng đông của phum bất ngờ phát hiện rất đông lính Pốt đang tập trung cách phum chừng hai kilomet, vội quay về. Lệnh báo động được phát ra, toàn đơn vị vào vị trí sẵn sàng chiến đấu.
Do khẩu đội DKZ 82 ở hướng đông bắc phum lúc này chỉ còn ba anh Xuất, Thành, Luân. Tiến xạ thủ số 1 đang sốt và Hải được cử đi học ngoài trung đoàn nên chú Chi cử một người ở khẩu đội ĐK 75 của tôi sang tăng cường cho họ.
“Để em đi, ở đây có thằng Thế, thằng Dũng rồi… cộng thêm cái lợi thế trên cao, nhiều mìn gài, lại thêm bãi chông tre, chông sắt”. Tôi nói với chú Chi như vậy. Đeo bao xe, cây AK cùng mấy quả lựu đạn, tôi gấp rút chạy sang.
Tôi nhớ rất rõ và chính xác hôm ấy là ngày 30/4 vì hồi chiều chúng tôi được nhận nhu yếu phẩm cho ngày lễ Thống nhất Non sông. Sang tới nơi, mọi người đã vào vị trí. Thằng Tiến đang sốt vẫn ở bên khẩu ĐK 82 được nạp sẵn đạn.
“Mày để tao”! tôi bảo nó.
“Không sao! Tao vẫn chơi được mà”. Nó đuổi tôi ra. Thôi đành vậy, ở đây nó là chủ.
Ta kong Krao mùa khô, trong lúc chờ tôi ngửa mặt nhìn lên bầu trời… Không mây không trăng chỉ hàng triệu ngôi sao nhấp nháy, nhất là chòm sao tua rua rực sáng mà cánh lính chúng tôi vẫn dựa vào để căn giờ đổi gác. Nhìn chòm sao tôi đoán chừng chín, mười giờ đêm. Tụi Pốt định chơi vào ngày lễ đây, có lẽ chúng nghĩ ta sẽ lơ là cảnh giác. Và nhất là đêm nay tối đen như mực rất thuận lợi cho tiếp cận.
Đang suy nghĩ, “Bùng bình, bùng bình”… Hàng loạt tiếng nổ của đạn Bê, đạn AK, đạn RPD của địch vang lên dồn dập hướng đông nam.
Tiếp theo phía đông ghé bắc, từ bìa rừng cách chiến hào ta khoảng hai trăm mét, Bê và RPD của Pốt bắt đầu nã đạn.
Toàn bộ tuyến phòng ngự ta lặng yên, chỉ có từ trong phum tiếng mấy khẩu cối tép bắn trả.
Sau ba mươi phút từ phía trước mặt chúng tôi, khẩu 12ly8 của địch im lặng tới giờ bắt đầu nã đạn, lửa đầu nòng từng đợt từng đợt lóa lên. Bùng… Ầm… thằng Tiến đã nhắm vào khẩu 12ly8 của địch. Trái DKZ tạo ra một quầng lửa.
Thật bất ngờ, khẩu DKZ 82 cùng thằng Tiến vừa lộ vị trí, lập tức một trái B40 ở cự ly rất gần đã lao thẳng tới, quầng lửa màu cam trùm khẩu ĐK… Khẩu đội 12ly8 của ta cũng bị tương tự khi vừa phát hỏa.
Hóa ra từ bao giờ chúng đã cho quân áp sát, nằm im không nổ súng, mồi cho mấy khẩu hỏa lực của ta bắn ra lộ vị trí, rồi dùng B40 triệt hạ.
Sau khi hạ gục được hai khẩu hỏa lực ta, địch đồng loạt nổ súng xung phong, bọn ở ngoài bìa rừng nhanh chóng tiến vào tiếp ứng.
Quả thật đây là lần đầu tiên chúng tôi mới gặp kiểu đánh như vậy. Chỉ trong vòng ít phút ta mất luôn khẩu DKZ và khẩu 12ly8. Không nao núng, những tiếng điểm xạ của AK vang lên. Những trái mìn vướng đã bắt đầu phát nổ xen tiếng nổ lựu đạn báo hiệu quân Pốt đã rất gần.
Mặc cho mìn, lựu đạn nổ, mặc cho bãi chông tre… Hết đợt này bị chúng tôi quét ngã, lớp khác địch lao lên… tiếng “chô chô” ầm ĩ. Trong ánh chớp tôi thấy có thằng đã vào gần cách hào chỉ vài mét, tôi điểm xạ liền hai viên…
Cứ như vậy, chỉ với lựu đạn và AK chúng tôi đã đánh bật bọn chúng ra rất nhiều lần. Có những lúc tưởng chừng bọn chúng sắp nhảy vào được chiến hào. Lựu đạn đã hết, AK tôi đã phải thay tới băng đạn thứ ba.
Trong khi bắn và di chuyển tôi đã ra được chỗ khẩu DKZ 82, trời tối quá không nhìn thấy gì, tay tôi khua khua tìm thằng Tiến. Nó đây rồi, chân tôi đá vào người nó và tay sờ thấy vai nó tựa lưng vào hào… “Tiến, Tiến… mày có sao không? im lặng, tôi lay lay vai nó trong tay: “Mày sao rồi”? Dò dẫm phía trên vai nó… không còn gì, tay tôi ướt nhòe… thôi rồi, nó đã hy sinh vì trái B40 đó.
Tụi Pốt lại lao đến, tôi quay ra điểm xạ và di chuyển… Chúng tôi vẫn giữ được chiến hào. Vừa lúc này thì chi viện của ta. Phía cánh trái hai khẩu RPD phát hỏa, khẩu đại liên bên cánh phải chéo sang, những trái đạn cối 60 nổ giăng hàng cách hào từ vài chục mét.
Cứ thế, tụi Pốt lùi dần ra ngoài… Trăng đã mọc, ánh trăng soi rõ từng tốp Pốt tháo chạy về phía bìa rừng. Nhưng chúng chạy đâu cho thoát. Những trái đạn của khẩu cối 82ly và khẩu cối 120ly đã tạo ra một bức tường. Trong khoảng cách 150 mét bằng phẳng của trảng cỏ tranh, đạn cối phát huy tối đa uy lực.
Tôi ra nơi khẩu DKZ 82, thằng Tiến đã được đưa về phía sau. Kiểm tra súng tôi thấy cò chính đã bị hỏng vì trái đạn B40 nhưng cò phụ vẫn hoạt động tốt. khẩu ĐKZ còn sử dụng được mà tôi lại quen dùng cò phụ.
Nạp nhanh trái đạn rồi rê nòng về phía những cái áo đen đang nổi rõ trên nền cỏ tranh, tôi siết cò liền mấy trái, trả thù cho thằng Tiến… những thân người đen đúa hất tung lên.
Trong khi cối 60 của ta vẫn bắn vào trảng cỏ tranh, thì hai khẩu 82ly cùng 120ly chuyển làn truy đuổi bọn bên ngoài đang rút chạy.
Sau này tôi mới biết là anh Hùng “mèo” D trưởng cho hai bê của c9 cùng bê trinh sát dâng lên cao tạo ra gọng kìm, chỉ được nổ súng khi có lệnh. Hai khẩu cối 82ly và 120ly cũng vậy, giấu mình chờ khi toàn bộ lực lượng của địch lộ diện.
Còn nữa, một bộ phận được rút ra từ các xê đã chuẩn bị sẵn sàng tạo nên tuyến phòng thủ thứ hai chưa dùng tới.
Khoảng hai giờ đêm trận địa hoàn toàn im tiếng súng. Chúng tôi vẫn ngoài chiến hào, không ai về ngủ. Tôi ngồi bên khẩu DKZ. Đêm hoàn toàn yên tĩnh, ánh trăng lúc này sáng rọi khắp nơi.
“Tiến ơi cho tao xin lỗi. Đã có lúc tao có coi thường mày khi trên núi Mê Lai thấy mày không bắn một viên đạn nào, mày chấp hành nghiêm lệnh của chú Chi nên không bắn, chẳng như tao ngang ngạnh ương bướng bất chấp tất cả để làm theo ý mình”…
Tôi cảm thấy nó như bên cạnh nghe tôi. Máu, tóc của nó vẫn còn hiện diện trên tay tôi. Hơi ấm má nó trên má tôi khi tôi áp mặt vào thân súng ngắm.
Đêm 30/4 rạng sáng 1/5/1981 sẽ khắc ghi trong tôi không phai mờ. Và tôi lại làm thơ:
tt“Bạn yêu ơi, hãy yên ngủ nhé!
ttTrận đánh này còn có chúng tôi
ttNếu sau này, còn sống tôi trở lại
ttĐất vải Thanh Hà gặp lại bạn yêu”…
Có lẽ buồn nhất không phải là tôi mà là thằng Tài. Nó và thằng Tiến chơi thân với nhau từ bé, học chung, nhập ngũ một ngày. Tôi an ủi nó trong tê tái: “Trong hai thằng, nó và tao, trận này mày phải mất một”…
Trận đánh này của d3 e2 CAVT chúng tôi đã được ghi lại trong Quân sử f5.
Ta Kong Krao trở thành một vùng yên bình tới mức chúng tôi có thể đi săn bắn xa vài kilomet vẫn hoàn toàn không phải lo lắng gì… Phum này chắc khi xưa phải là đẹp lắm, lối vào phum qua cây cầu gỗ rất đẹp. Cây cầu dài hơn trăm mét bắc qua một hồ sen. Một lối nhỏ đi qua vườn xoài rồi dẫn thẳng tới một ngôi chùa. Mùa này sen trong hồ bắt đầu nở.
Chú Chi khoái những ngón nghề và sự hiểu biết về trà tàu của tôi lắm. Chẳng là khi còn ở nhà, sáng sớm mỗi ngày tôi đều đun nước pha trà cho ông tôi nên được ông truyền lại những bí quyết. Từ cách lấy loại nước nào để nấu, đun nước bằng loại củi nào, cách rửa ấm chén ra sao và cách rót nước trong bình ra chén thế nào cho chè không mất hương thơm…
Vậy là buổi chiều xuống hai anh em mang chè ra hồ và thả vào trong bông hoa rồi buộc túm lại. Sáng sớm hôm sau mang ca ra lấy những giọt sương đọng trên lá sen (mà phải là chiếc ca bằng inox của Mỹ) đựng mang về. Chẻ những thanh tre đã phơi khô rồi ngâm nước ít ngày mang phơi khô lại để làm củi đun. “Thế này chưa ăn thua, chưa hết bài của em đâu”! tôi nói khi Chú Chi lắc đầu: “Tao không ngờ uống trà mà cũng phải cầu kỳ đến vậy”.
Tôi lại về với khẩu DKZ 75 quen thuộc. Lại được cùng chú Chi những đêm thức trắng làm thơ.
Nói đến thơ tôi lại nhớ chốt Sân bay nơi tôi ở mấy ngày có hai ngôi mộ đồng đội hy sinh vào thời điểm không mang về được Việt Nam. Bên cạnh mộ các anh là tấm bia đề vần thất ngôn tứ tuyệt, được biết do chú Bảy Giáp (Đinh Công Giáp tham mưu e2 CAVT).
Người chiến sĩ không bao giờ chết
Chỉ là ngủ một giấc mà thôi.
Nếu quân thù còn quay trở lại
Mau vỗ khánh này đánh thức tôi.
28/5/2023