Viết dòng tên xã mà lòng tôi rưng rưng ấm áp. Không chỉ riêng tôi, sẽ rất nhiều người lính Cụ Hồ ở khắp mọi miền đất nước nhớ về xã Ái Quốc, nơi nuôi dưỡng bộ đội trong muôn vàn khó khăn chiến tranh.
Thương binh chúng tôi từ chiến trường miền Nam ra đều qua D4, sau thời gian bổ dưỡng mới về các Tiểu đoàn khác để phân hướng nhiệm vụ. Các cán bộ sơ cấp từ B bực trưởng (thường chưa kịp phiên quân hàm, chỉ có chức vụ) bị thương tật nặng quê Hải Hưng, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh… cùng cán bộ các quân binh chủng đặc biệt trực thuộc Bộ như Đặc công, Thiết giáp, Thông tin… thường được đưa về đoàn 253 - QK Tả Ngạn an dưỡng.
Đoàn 253 trải dài các xã Nam Sách, Chí Linh, Thanh Hà của tỉnh Hải Dương. Tôi sau thời gian dài điều trị được về an dưỡng ở d1 đoàn 253. D1 thuộc huyện Thanh Hà, nhưng lại rất gần với xã Ái Quốc của huyện Nam Sách. Thời gian này lưu lại trong tôi tình quân dân Ái Quốc thắm đượm, không bao giờ phai… Đó cũng là thời kỳ khó khăn nhất của tôi, xa người thân, khó có thể tự phục vụ mình.
Nơi đây thuần nông, mưa một tí là lũ lụt, nắng một tí là phải dùng gàu sòng, gàu dai… “Vì Miền Nam ruột thịt” người dân cần cù trên đất, thắt lưng buộc bụng để “Thóc không thiếu một cân”. Còn để “Quân không thiếu một người”, tất cả trai trẻ của xã đều đã được động viên vào Nam đánh Mỹ, ở lại chỉ còn lực lượng phụ nữ.
Đâu chỉ chăm lo sản xuất, phụ nữ nơi đây còn là dân quân bảo vệ tại chỗ, chiến đấu ngoan cường. Gần đó là con đường huyết mạch kèm đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, ngày đêm máy bay địch bắn phá. Nơi đây nhà thơ Tố Hữu từng viết câu thơ xúc động về cô du kích Lai Vu “Rắn quấn ngang chân vẫn bắn thù”.
Nói về ân tình với Ái Quốc. Khi đến tôi được nghe kể năm 1957 Ái Quốc được Bác Hồ về thăm. Xã là đơn vị đầu tiên của tỉnh Hải Hưng được phong Anh hùng. Khâm phục biết bao, một làng quê nghèo như bao làng quê khác.
Thương binh chúng tôi ở trong những ngôi nhà lớn cột tre, mái rạ được địa phương giúp đỡ xây dựng. Có năm ngôi nhà như vậy. Mỗi Đại đội một nhà, khoảng 100 đồng chí. Nhưng có dịp bộ đội về dồn dập, có lúc Đại đội đến hai trăm người, đều là những Thương binh nặng, chật chội vất vả… nhà dân đón các anh về.
Nơi trạm tôi đóng quân, bà con còn vận động các cô gái trẻ xây dựng hạnh phúc gia đình với anh em Thương binh. Năm ấy tôi hai nhăm tuổi cũng chưa có vợ nhưng vì nhiều lý do không nên duyên. Còn rất nhiều Thương binh như Trung uý Xuân, Thiếu uý Khánh, Thượng sĩ Thắng… đã đơm hoa kết quả với phụ nữ xã Ái Quốc.
Đơn vị đông nhưng nề nếp, kỷ luật. Sáng sớm, sau tiếng kẻng báo thức, anh em thể dục, vệ sinh, chăm bón vườn rau Tiểu đội. Rồi tuỳ sức khỏe giúp đơn vị nuôi quân hay vào giúp dân. Cùng như tôi sức yếu không giúp được gì, đơn vị có anh Thể, anh là bộ đội Đặc công, bị thương ở đầu và hỏng một mắt. Tôi và anh hay vào dân chơi với cụ già, trẻ em. Không thể kể hết những nghĩa cử ấm tình quân dân phần nào động viên an ủi.
Một hôm có văn công biểu diễn gần cầu Phú Lương cách khoảng năm kilomet. Quãng đường dài biết có đến được không nhưng hai anh em tôi cứ đi. Tôi chống nạng đi cùng anh Thể, mồ hôi vã ra, nén đau bằng nghêu ngao bài hát “Bộ đội về làng”… Ngang qua chúng tôi là cô gái đạp xe đi cùng chiều, cân đối xinh đẹp, quần đen áo trắng tinh khiết, mái tóc dài kẹp gọn vắt qua trước ngực. Ngẩng lên thấy chị nhìn tôi dịu hiền, nghĩ thân mình thương tật tôi buồn đến nao lòng bèn giở giọng đùa cho qua tủi:
- Chị yêu dấu… nhìn tôi làm gì? Đau lắm! Già lắm rồi…
Chị vòng xe quay lại, hai mắt đỏ hoe:
- Hai chú đi xem Văn công à? Chú bị thương ở chân lên tôi đèo một đoạn.
Tôi bối rối nhìn anh Thể rồi ngoan ngoãn lên xe chị đèo. Qua vài câu chuyện biết chồng chị cũng là bộ đội bị thương, chuyển ngành. Anh chị có hai con, một trai một gái. Đèo tôi đến nơi, chị quay lại đón anh Thể. Tôi ngồi đợi, nhớ câu chuyện chị kể, ấm lòng một ước mơ…
Lần khác, buổi chiều tôi chống nạng ra hóng mát nơi cây đa đầu làng Ái Quốc. Một bà mẹ đến ôm vai tôi ánh nhìn xót xa: “Mẹ sinh ra thì nguyên vẹn, giờ ra thế này”, rồi bà mếu máo. Tôi nhớ mẹ tôi, nhớ mẹ của PaVen trong “Thép đã tôi thế đấy” với câu nói: “Chỉ khi nào chúng mày ốm đau thương tật, mẹ mới được trông thấy chúng mày thôi”… Như được động viên rất nhiều, trào dâng cảm xúc, tôi cứng cỏi nói với mẹ:
- Bộ đội chúng con đi chống Mỹ, bảo vệ Tổ Quốc mà mẹ!
In dấu ngày 11/12/1973, đơn vị không sinh hoạt. Tôi chống nạng cùng anh Thể vào phòng giáo viên Cấp Hai của xã chơi. Gặp các cô giáo có chuyện gì đó đang vui, cười không nén nổi, chẳng giải thích làm anh em tôi cứ ngơ ngác. Bỗng một bà mẹ vào phòng, như bà có nỗi niềm muốn nói, bà nói: “Hôm nay xã báo tử mười một Liệt sỹ, các cô các chú ạ”!
Im bặt, rồi một cô giáo trẻ ngồi thụp xuống đất khóc thành tiếng. Bà mẹ kia ra khỏi nhà, chúng tôi hoảng cũng định về thì một cô lớn tuổi hơn nói với tôi và Thể:
- Âu (tên cô ấy) có anh trai đi bộ đội từ 1967. Từ đấy không tin tức gì.
Cười đấy rồi khóc đấy, cô gái ơi… Chỉ biết nói với cô: “Anh ấy với chúng tôi vì nhân dân quên mình. Nếu phải hy sinh cũng là niềm tự hào”… cô càng khóc to.
An ủi cũng vô ích, nhà Âu cách ba kilomet, tôi quyết định hai cô đèo hai chúng tôi đi cùng cô ấy về nhà xem sao. Chúng tôi thống nhất với nhau vào nhà chơi, giữ kín tin vừa biết.
Âu cố nén khóc nhưng không nén được nên đứng sau cột nhà không tiếp chúng tôi. Gia đình đón chúng tôi niềm nở. Mẹ và em gái lớn giã gạo, hai em nhỏ sau bữa tối cùng lũ trẻ hàng xóm đi chơi. Bố Âu đang soạn bài dừng lại tiếp chúng tôi, ông là nhà giáo.
Thấy tôi dùng nạng ông đưa tận tay tôi chén nước, nhìn lặng lẽ, bất ngờ ông nói đủ nghe:
- Hôm nay xã này báo tử nhiều quá! Mười một Liệt sĩ.
Tôi nghe nghẹn trong lòng, quên lời hẹn lúc đến nhà, vội hỏi: Thế anh nhà ta…?
- Tôi đã lên Uỷ ban xem kỹ rồi, không có tên hắn.
Chén nước trên tay sóng sánh, ông đặt xuống bàn.
Họ sống trong thấp thỏm vậy đó. Người dân xã Ái Quốc, người dân đất nước tôi…
(Kính tặng Ccb Đặng Sỹ Ngọc)
29/10/2022