Nhắc lại dòng ký ức này tôi muốn xin lỗi các bạn Thu Hà trên mọi miền đất nước. Và chắc Thu Hà - cái tên nhân hậu ấy sẽ chẳng giận đâu khi biết chúng tôi một thời trong thơ Phạm Tiến Duật.
“Ước gì có chút hương bồ kết
Cho đá mềm đi, núi ấm lên”…
Thèm nghe tiếng con gái đến nao lòng.
Năm 1973, cả kíp xe được phép xuống chợ Đông Hà, cùng chọn mua được một con cún. Và người vinh dự đặt tên cho nó là tôi, vì đúng ý các anh quá. Thế là không có tiếng con gái, không mùi hương bồ kết, mà chiếc xe tăng của bốn anh em tôi có hẳn một cái tên con gái Thu Hà.
Lúc đầu Thu Hà còn nhỏ ăn không nhiều, khi Thu Hà lớn ăn khỏe. Bốn anh em, bữa ăn bốn xuất cơm chia làm năm suất. Tôi và Thu Hà được cưng chiều như nhau. Tôi là lính trẻ ăn khỏe, ăn nhiều mà.
Kể thật khó tin là khi anh quê Trưởng xe bảo: “Ba anh già ăn yếu thì san cho Thu Hà, còn chú em sức trẻ, ăn khỏe còn khênh bình điện, không phải san… Có đúng không hả Thu Hà”? Thu Hà vẫy đuôi gật gật vẻ đồng ý!
Và tiếp theo là câu chuyện chẳng thể quên…
Chiều ngày 15 tháng Tư 1975 cả đơn vị đang nằm ở một khu rừng xoài mà đêm trước vừa hành quân tới. Không biết địa danh vì bí mật quân sự, người lính chỉ biết hành quân thôi.
Tới địa điểm lệnh đào hầm giấu xe. Đào hầm xong cho xe xuống hầm. Chúng tôi nhanh chóng chặt cây ngụy trang xe và xóa vết xích.
Mọi công việc xong, trưởng xe phân công cắt gác, ai chưa tới phiên gác thì tranh thủ ngủ.
Hành quân cả ngày trên xe tới nơi lại đào hầm xe rồi ngụy trang. Mệt quá, chui xuống hầm xe, tôi vừa nằm xuống là ngủ liền tới mười giờ sáng hôm sau.
Giật mình vì một tiếng bom quá gần, tôi tưởng tượng lại đêm qua… “Chết rồi mình bỏ phiên gác”! Quay sang anh quê trưởng xe hỏi: “Đêm qua em bỏ gác hả anh”? Là người lính trong chiến đấu bỏ gác kỷ luật nặng lắm. Đang lo sợ thì anh nhẹ nhàng bảo:
- Anh vào gọi em giao gác, thấy em ngủ ngon quá anh không gọi nữa mà anh gác luôn cho cả của em.
Tự nhiên nước mắt tôi chảy ra… Thương anh quá, là một người chỉ huy vất vả mà anh vẫn phải gác như mọi người, nay anh lại gác cả cho mình. Đang ngập ngừng lời cảm ơn thì anh nói: “Cảm với ơn gì, đi đánh răng rửa mặt còn ăn cơm. Hoành nó nấu cơm xong rồi”.
Tôi bèn cầm khăn mặt đi tìm nước, vừa ra khỏi hầm thì gặp liên lạc Đại đội. Tôi chạy lại ghé vào tai hỏi nhỏ: “Có biết đây là đâu không quê”? Cậu Liên lạc cũng nói nhỏ để tôi đủ nghe: “Bí mật nhé mình cũng vừa biết xong, đây là phía nam đèo Cả, địa phận Phan Rang”.
Buổi chiều được lệnh kiểm tra kỹ thuật sẵn sàng chiến đấu. Anh trưởng xe phân công công việc cho từng người, mỗi người một việc, cụ thể lái xe kiểm tra kỹ thuật xe, anh nói phải kiểm tra thật cẩn thận chi tiết từng mắt xích đo dầu mỡ đủ chưa? thùng dầu phụ còn đầy không? thiếu xin bổ sung.
Pháo Một kiểm tra kỹ thuật pháo. Pháo Hai lau lại toàn bộ đạn và sắp xếp đạn xuyên, đạn nổ cho đúng vị trí. Mọi người khẩn trương công việc xong báo cáo. Anh trưởng xe kiểm tra lại một lần nữa, anh cười gật đầu: “Được rồi, phải chu đáo trước khi vào trận”.
Vừa xong thì Thủ trưởng cùng anh quân khí xuống. Thủ trưởng thăm hỏi anh em qua mấy ngày hành quân có mệt không? rồi quay sang tôi: “Chen còn sốt không, còn phải ăn cháo nữa không”?
Sau đó anh quân khí thông báo cho các xe nhận thêm một cơ số đạn nữa. Một không khí bình thường mà khác lạ… Là lính trẻ nhưng tôi cũng hồi hộp ngỡ đoán một điều gì.
Bỗng không trung có tiếng máy bay rít và tiếng bom nổ gần. Thôi chết, bị lộ nơi đóng quân rồi sao? Nhưng chỉ một loạt bom rồi máy bay bay xa. Bụng nghĩ “Mẹ thằng này thả bom vu vơ”… bỗng tôi giật mình tiếng anh trưởng xe thảng thốt: “Thu Hà đâu”?
Tôi ngác nhìn quanh, rồi linh tính, bật dậy lao ra khỏi hầm, sững người Thu Hà đang nằm trong vũng máu. Tôi vội lao đến, không kịp nữa rồi. Thu Hà bị mảnh bom ngang bụng. Nằm im lặng, mắt mở to nhìn chúng tôi, nước mắt nó chảy ra… đau đớn. Tôi nghẹn ngào… Thu Hà ơi!
Mấy năm cùng bốn chúng tôi, Thu Hà đã là một thành viên được biên chế chính thức. Hôm nay bí mật chưa nói nhưng mỗi chúng tôi đều tâm thế bước vào trận cuối. Sao em chưa vào trận mà đã vội ra đi?
Anh trưởng xe vỗ vai tôi: “Vào lấy túi tử sĩ ra đây”.
Tôi đứng dậy bước nặng nề, tưởng như mất mát một người đồng đội. Anh trưởng xe gói Thu Hà rất cẩn thận trong túi tử sĩ, chúng tôi chào Vĩnh biệt và để Thu Hà nằm dưới một gốc xoài tỏa bóng mát. Nghẹn ngào.
Năm giờ chiều tôi vẫn ngồi bên cạnh mộ, nhớ Thu Hà vô cùng. Anh trưởng xe ra lúc nào không biết… “Về thôi em, cơm Đức nấu xong rồi”.
Về đến nơi mọi người đang ngồi đợi tôi ăn cơm, vừa chuẩn bị xới cơm thì có lệnh hành quân gấp.
Thế là cả mâm cơm, nói là mâm làm gì có mâm mà là cái cà mèn nhiều ngăn, được thu dọn nhanh chóng. Giờ mới thấy đói, và biết sắp vào một chuyến đi lao lực, tôi vội bốc một nắm cơm chim chim cho vào miệng. Ngoài kia tiếng xe toàn đơn vị nổ máy ầm ầm, tiếng ken két xích xe lên khỏi hầm… Chiếc xe chỉ huy lao vút, bụi mờ đất đỏ buổi hoàng hôn.
Lệnh bắt đầu phát ra: Hành quân gấp về nơi tập kết. Giờ G nổ súng đánh địch. Giải phóng Phan Rang.
Đêm mười lăm rạng sáng mười sáu tháng Tư năm Bảy lăm, đơn vị Tăng Thiết giáp của tôi là mũi nhọn tiến vào giải phóng Phan Rang, phá tan tuyến phòng thủ số 1. Mỹ ngụy hoảng loạn. Chúng biết mất Phan Rang là mất Sài Gòn…
Người ta bảo “chó chết hết truyện”. Nhưng với tôi, Thu Hà của tôi luôn trong nỗi nhớ. Nhớ Thu Hà trong ký ức chiến thắng Phan Rang. Trong tình thương dành cho bao đồng đội nằm xuống luôn có đôi mắt mở to, đầy nước - lời chào vĩnh biệt của Thu Hà.
(Kính tặng CCB Nguyễn Chen)
04/12/2022