Ba Tết của tôi trên Tây Nguyên, cái Tết nào cũng tên là “ăn Tết sớm”. Thịt hộp và vài điếu thuốc tiêu chuẩn Tết nhắc lính đã qua một năm, nỗi nhớ nhà cũng qua thật nhanh vì đang là mùa đánh trận. Nhưng đón xuân Bảy nhăm thì khác, sau bữa ăn đón Tết sớm, hôm sau Hai bảy Tết là rời “kiềng”, chúng tôi gọi nơi đóng quân của đơn vị như vậy.
Hướng về Nam Tây Nguyên, chúng tôi đi như chạy đã ba ngày trong rừng khộp lơ thơ tán lá, chỉ còn thân cây như người lính trụ lại. Lệnh hành quân gấp, ba lô nặng trĩu quân lương vì đâu có trạm nghỉ lo cho lính như khi vượt Trường Sơn. Thú thật cũng chẳng cài lá ngụy trang, nặng và vướng.
“Đoàn quân bước đi vội vã, đường Trường Sơn ào ào lá đổ”… tiếng hát phát ra từ chiếc radio xèo xèo của Thủ trưởng Tiểu đoàn sao mà giống cảnh lúc này thế, nhịp hát nâng bước chân đi. Ngầm hiểu Chiến dịch lớn rồi. Căng thẳng, mỗi ngày đêm chắc nghỉ được bốn tiếng.
Trong bước chân vội vã, có một động lực vô hình đang lan truyền từ trái tim mỗi chúng tôi. Đoàn quân đi trong vinh dự mang trên vai vận mệnh đất nước. Cả dân tộc bao thế hệ đã hy sinh xương máu, miền Bắc “hạt gạo chia đôi”ơi… thời cơ đã đến rồi.
Phía xa, những vệt sáng kéo dài trên bầu trời. Đón Giao thừa chẳng ai nói câu nào. Mồ hôi nhễ nhại, nhớ nhà chắc ai cũng đang khóc.
Bốn giờ sáng, chúng tôi tới một vạt rừng lạ và thưa, công việc đầu tiên là đào hầm nhưng yêu cầu kiên cố chứ không nông choèn như hầm tiếp cận vào trận đánh. Ba năm lính Tây Nguyên tôi biết đây sẽ là hậu cứ mới, tôi nhắc anh em còn thời gian cắt gỗ làm hầm kèo cho yên tâm.
Sáng mùng Một tết, tôi lên Đại đội nhận nhiệm vụ, nhận lời Chúc mừng năm mới của Ban chỉ huy. Quà Tết gửi Trung đội là bảy cái cưa dài chừng tám mươi centimet. Vốn là con nhà thợ mộc, mới đầu tôi nghĩ sẽ đóng đồ gì đó nhưng không phải.
Sáng mùng Hai đơn vị khai Xuân bằng những chiếc cưa được uốn cong cây le làm tay cưa. Rồi từ ngày hôm ấy chúng tôi trở thành lính công binh. Theo tuyến đã được cắm sẵn, hai thằng ngồi lê hai bên cắt những cây gỗ đủ loại, mỗi cây chỉ cắt hai phần ba sát gốc. Nói thì rất đơn giản, nhưng có cây phải ngồi lê đến hai ngày. Thầm đoán chắc mở đường cho xe cơ giới đi, và chỉ biết như thế, bí mật quân sự mà.
Ở đây đã rất gần địch, đạn pháo chúng thừa thãi bắn suốt ngày đêm. Dân ở vùng này số ít đã vào trong các ấp chiến lược, còn phần đông đồng bào đã ra vùng Giải phóng của ta. Đơn vị giữ bí mật tuyệt đối.
Sau này tôi mới biết trên tuyến đường chúng tôi cắt cây, sáng ngày 10 tháng 3, Sư đoàn 10 cùng lực lượng xe tăng xuất kích qua, húc đổ các cây đã được cắt dở, tấn công Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 của Ngụy, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột trong cái bàng hoàng của “Việt Nam Cộng hoà” cứ cố thủ, tăng cường cho Pleiku… Nghe kể để nghi binh, ta cho hàng đoàn xe chở quân vào thành phố, lúc ra lính cúi thấp đầu xuống rồi lại đi vào.
Sang cuối tháng hai chúng tôi lại trở về đúng vị trí lính bộ binh và những ngày rực lửa. Nhận nhiệm vụ chiếm lĩnh đường 14. Có lẽ đây là trận đầu tiên trên chiến trường miền Nam pháo 37ly trên đỉnh Chư Sê chúc nòng bắn thẳng xuống mặt đường, khói bụi mịt mù. Dứt pháo, bộ binh được lệnh xông lên. Trung đội tôi là mũi chủ công, hoàn thành nhiệm vụ ba đồng đội nằm lại.
Hai ngày sau là trận đánh chiếm Chi khu quân sự Thuần Mẫn khá thuận lợi, giải phóng quận lỵ. Đơn vị chốt lại đó vài ngày.
Lại lệnh hành quân, lần này gấp vô cùng, một ngày đêm ấy gần như không nghỉ, quãng đường chẳng biết là bao nhiêu. Trưa hôm sau đến vị trí tập kết nghe gần lắm tiếng xe pháo gầm gào. Lòng chộn rộn: “Đánh lớn rồi”. Mười bảy giờ đơn vị xuất kích, lần đầu đánh vào thành phố không làm khó được lính Tây Nguyên.
Chưa trận nào tôi thấy Tù binh cùng phương tiện vũ khí, xe pháo… ta thu được nhiều đến thế. Khí thế ngút ngàn. Màn đêm ập xuống, trận địa ngưng tiếng súng. Lại thêm mất mát, ba anh trong Trung đội hy sinh. Lên Đại đội nhận nhiệm vụ tôi mới biết đây là thị xã Cheo Reo (Phú Bổn), phân công gác xong mệt nhoài, tôi lao vào một góc nhà không biết gì nữa.
Bốn giờ sáng cậu liên lạc Đại đội tìm tôi giao nhiệm vụ, qua ánh đèn pin bịt còn bằng đồng xu tôi mới biết cạnh mình là xác thằng ngụy mồm há hốc, cậu liên lạc cười: “Hôm qua trực thăng nó bắn 20ly như vãi đạn mà anh ngủ không cần biết à”?
Trưa hôm sau ta giải phóng Thị xã Cheo Reo, đơn vị tôi chốt lại đó hai ngày, ám ảnh là mùi khét lẹt xú uế. Hòa trong niềm hân hoan trận thắng lớn là nỗi lòng tôi đau xót, thằng Tiến “tri kỷ” hy sinh. Trong vòng tay tôi… hình như nó chỉ cần có thế. Gương mặt mãn nguyện, lời cuối em chẳng nghĩ cho mình: “Cho em gửi lời hỏi thăm chị Phương, chúc anh chị hạnh phúc”!
Bổ xung thêm bảy lính mới, Trung đội lại đủ mười lăm người. Lại cuộc hành quân đi như chạy, truy kích qua đường Bảy, mỗi ngày đêm nghỉ bốn tiếng, từ cao nguyên như một cơn lốc chúng tôi xuống tới đồng bằng, súng đạn nặng trĩu vai. Sáng mùng 1/4/1975 có mặt ở chân cao điểm Chóp Chài. Không còn bóng lính ngụy trên chòi gác, thị xã Phú Yên đã được đơn vị bạn giải phóng.
Đó là một ngày vô cùng đáng nhớ khi bộ binh chúng tôi được ngồi xe bọc thép ra trận. Ngược quốc lộ Một, trong xe tôi muốn tranh thủ động viên tinh thần cho anh em nhưng có lẽ không cần… Cơ hội hiếm hoi được “giải phóng” đôi chân, tiếng cười tiếng hát đinh tai nhức óc. Xuống xe lại bất ngờ trận đánh chưa từng thấy, giải phóng Tuy An chẳng tốn viên đạn. Mừng mà tiếc công hành quân mang nặng. Trên đường là vô số quần áo, vũ khí, hàng quân tiếp vụ… địch bỏ của chạy lấy người.
Đáng nhớ nữa là người dân Tuy An, dò xét ngại ngần xem “ông Cộng sản” có đuôi không mà chút thôi là thân thương lắm rồi. Anh nuôi cũng được nghỉ ngơi, bữa cơm dân nấu cho ăn hôm ấy chẳng bao giờ quên được. Lính còn ấn tượng khi lần đầu gặp các cô gái miền Nam mặc đồ mỏng teng.
Rồi lại như cơn lốc chúng tôi hành quân trở lại Tây Nguyên và đi về phía Nam, qua chiếc cầu phao đơn vị Công binh mới ghép. Vượt sông Sài Gòn. Bồng bềnh, chao đảo làm tôi nhớ chiếc cầu treo làm bằng dây song trên đường Trường Sơn. Bộ đội dồn ứ phía bên này cầu, thoáng nghĩ đến quả đạn lạc tôi ghê người… mặc kệ, anh em tranh thủ nằm ngồi ngủ lăn lóc.
Một đồng chí đúng ra phải gọi là bác, đến bắt tay chúng tôi với câu nói rất bình dị: “Nhanh lên, thần tốc lên các cậu nhá”! sau này tôi mới biết đó là Tư lệnh tiền phương Đại tướng Văn Tiến Dũng.
Tập kết tại Thị trấn Chơn Thành, vùng đất vừa được đơn vị bạn giải phóng, chúng tôi được nghỉ ngơi một ngày. Hôm ấy là 27 tháng Tư. Tại đây mỗi đứa được cấp một bộ quân phục Tô châu, mũ cối mới cứng, thay cho bộ đồ mà khoảng hai mươi ngày qua chưa thay và cũng chẳng ai nghĩ đến tắm. Một khí thế mới tràn ngập khi chúng tôi được biết, từ ngày 26/4/1975 bước đi của chúng tôi mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Mười lăm giờ chiều 28 tháng Tư, để lại balo tư trang cá nhân, trong gùi chỉ có đạn, võng cùng lương khô. Đoàn quân chúng tôi quân trang mới tinh rạng rỡ lên đường. Khoảng hai mươi giờ đến nơi. Địa hình bằng và trống trải. Tập kết, đào hầm trên mảnh ruộng khô.
Trước mặt là trận địa ngày mai, rộng lớn chưa từng thấy. Trong đồn đèn điện sáng trắng. Nếu không có ánh lửa bập bùng từ một chiếc bồn xăng bị trúng pháo ta đang cháy thì có lẽ tôi đã nhầm tưởng căn cứ này là một thành phố. Một loạt cối 81 bắn ra rơi cạnh may không trúng đội hình chúng tôi, lạnh gáy nhìn những chấm lửa đủ màu bung lên trong màn đêm, tôi tập hợp nhắc anh em không được chủ quan, linh cảm trận này địch cố thủ.
Năm giờ sáng các cỡ pháo của ta bắn cấp tập vào trong căn cứ, khi pháo chuyển làn là lúc đơn vị “mở cửa” ôm bộc phá xông lên phá mười bảy hàng rào dây thép gai. Đất rung chuyển bởi tiếng bộc phá kéo dài lẫn trong tiếng xe tăng, đạn pháo, máy bay… mấy tiếng đồng hồ đợi chờ tức ngực.
Tám giờ lệnh xuất kích, tôi vọt lên khỏi hầm. Cảnh tan hoang hiện ra, trên cửa mở không còn ngọn cỏ, nằm la liệt là đồng đội… C3 mở cửa đã hy sinh gần hết.
Bò sát đất, nhích chút một, đạn mát lưng. Mãi tới lúc đồng đội ở d1 bắn cháy chiếc xe tăng núp trong tường đất Trung đội tôi mới bò đến được chân tường đất đạn cắm vào nghe lụp bụp… bụi mù, khét lẹt. Ôm chặt khẩu M79 văng người lên lăn tròn tôi đã qua tường vào được bên trong. Cách chục mét là dãy thùng phuy, lăn tiếp mấy vòng nữa tôi tới được chân hàng thùng phuy. Khoảng cách an toàn đã đến. Trung đội còn sáu anh em cơ động đến bên tôi.
Đạn bắn thẳng bị chắn bởi những thùng phuy. Giờ là lúc khẩu M79 của tôi phát huy ưu điểm, tôi liên tiếp đưa vào bên trong trại lính những quả đạn cầu vồng. Bỗng nghe đau nhói gần tai, ướt cằm, tôi quệt xem là máu. “Mình bị thương rồi”. Lòng trào sôi… Hơn tiếng đồng hồ nỗ lực mới đến được vị trí này, bao đồng đội nằm kia che chắn cho tôi. Tôi không muốn và không cho phép mình dừng lại.
Cậu y tá cuống cuồng bò tới, băng đã hết, cậu ấy băng cho tôi cái băng bụng to tướng, tôi hình như có duyên với cái băng bụng này, chỉ còn hở hai mắt… anh Chính trị viên bò đến bên tôi: “Em đau lắm không? anh em khẩu đội 60ly hy sinh hết rồi”. Tôi nhìn anh muốn nói “em không sao”. Cũng không thấy đau, quen tay tôi bắn không cần ngắm.
Mười giờ ba mươi, lá cờ Giải phóng đã được kéo lên đỉnh Sở chỉ huy nhưng tiếng súng vẫn không ngớt. Bị đánh bật ra, địch cố thủ ở cổng căn cứ chống cự dữ dội.
Thời gian như ngưng đọng lại chẳng biết bao lâu thì bỗng thấy bên đối phương im bặt, rồi tiếng quân reo, ào ào các cánh quân ta xông vào căn cứ. Chiến thắng rồi! Tôi nhìn chiếc đồng hồ Thuỷ quân lục chiến của Mỹ trên tay, chiến lợi phẩm trận Cheo Reo tôi xin tạm giữ để phục vụ chiến đấu, nó chỉ 11 giờ 12 phút.
Tôi nhìn cửa mở, sáu anh Trung đội tôi nằm đó, bốn anh nữa bên trong. Mấy tháng đi như chạy, lương khô nước lã, ào ào xông lên, ngồi xuống là ngủ gục, các anh cống hiến hết mình. Giờ tôi không đến nâng anh em lên được nữa, tha lỗi cho tôi.
Trung đội còn năm người tiễn tôi lên xe chở thương binh về phẫu, phẫu là một nhánh trong Địa đạo Củ Chi. Và tôi mới biết ta vừa đánh thắng “Tia chớp nhiệt đới” mở “Cánh cửa thép” tiến vào Giải phóng Sài Gòn
Hôm sau là 30 tháng Tư 1975.
(Kính tặng CCB Nguyễn Ngọc Lâm)
29/4/2022