Thế hệ chúng tôi được sinh ra từ làng, lớn lên nhờ củ sắn củ khoai của Hợp tác xã nông nghiệp, được học tập dưới mái trường Xã hội chủ nghĩa. Đất nước có chiến tranh nghe theo tiếng gọi linh thiêng Tổ Quốc.
Nơi huấn luyện không có doanh trại, nhờ ở nhà dân, chúng tôi được người dân tạo điều kiện tốt nhất có thể. Bao ký ức mến thương để lại. Sau ba tháng huấn luyện thuần thục với thành tích bắn đạn thật và ném lựu đạn trên 90% khá giỏi, đơn vị tôi nhận lệnh lên đường.
Dừng chân nơi địa danh nổi tiếng Cây Đa Bảy Rễ bên bờ sông Đáy thuộc huyện Thanh Oai chúng tôi được nhận quân trang mới cùng xúc động nhận lời căn dặn của Chính uỷ Trung đoàn: “Toàn bộ quân tư trang phát cho các đồng chí là mồ hôi nước mắt, công sức tình cảm cao nhất của nhân dân quê hương Hà Tây. Từ hôm nay đoàn các đồng chí mang phiên hiệu Đoàn 2076”.
Được biết nơi đến là chiến trường B2, chúng tôi vui sướng. Miền Nam yêu thương là hình ảnh chiếc khăn rằn trong trang sách học. Rưng rưng lời Bác: “Miền Nam trong trái tim tôi”.
Lúc này đã ký kết Hiệp định Pa ri. Đoàn tân binh chúng tôi được vượt Trường Sơn bằng phương tiện xe cơ giới. Không thể nào so sánh với gian khổ cha anh đi bộ nhưng những cú ngoặt, xóc, ngột ngạt… đủ làm anh em Tân binh mệt lả. Đi hơn chục ngày, hôm nay Giao liên thông báo, từ Ngã ba Đông Dương sắp tới đoàn sẽ hành quân bộ đến chiến trường sông nước Miền Tây.
Chiếc ba lô từ nơi nhận quân trang tôi phải lấy đà mới đứng lên được chắc tầm bốn mươi kilogam. Đoạn đường đi bộ mười tám kilomet đến ga Thường Tín tôi chảy nước mắt. Phải giấu, sợ cán bộ nhìn thấy lại đánh giá tư tưởng… nhưng thực lòng balo quá nặng với sức khỏe của tôi.
Đường Trường Sơn công tác hậu cần do các binh trạm lo cho nên mọi thứ trong ba lô còn gần như nguyên vẹn. Giờ đây từ đường hành quân bộ các đơn vị tự lo hậu cần, mỗi chúng tôi sẽ mang thêm bao tượng gạo chín kilogam. Không nói ra nhưng người lính trẻ trong lòng vô cùng lo lắng…
Và rồi bước chân như không còn cảm giác ấy đã bước kịp đoàn quân đến bây giờ không sao hiểu nổi. Chỉ có thể là trong tim mang truyền thống quê hương. Trong tâm tôi từng phút giây luôn ước nguyện sớm được đến đơn vị chờ đón mình, thầm cầu nguyện các cụ Tổ tiên phù hộ cho mình có được sức khỏe để theo kịp anh em,
Hành quân qua rừng thiêng nước độc mà lương thực có khi chỉ là lạc, đỗ xanh… đã có đồng đội tôi ngã nước nằm lại. Tổn thất lớn nhất là khi đơn vị chạm trán địch nơi lộ Cây Sắn… vẫn còn may mắn vì mới năm trước thôi, đường hành quân này, một đơn vị gần 300 người đã hy sinh tất cả trong đó 200 tân binh là Sinh viên trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Nơi ấy bây giờ là làng ấp người dân thờ phụng xót thương gọi các anh là Thành Hoàng Mũ Cối.
Từ Miền Đông hành quân gần năm tháng, đêm nay 27/5/1974 đặt chân đến chiến trường sông nước Miền Tây. Thấp thỏm chờ nghe gọi tên mình vào đơn vị mới. Dưới ánh đèn pin che đi chỉ còn nhỏ bằng con đom đóm, đồng chí đoàn trường dò đọc danh sách… Tiếng “có” sắc lạnh bật lên. Người chiến sĩ giải phóng đã sẵn sàng. Tôi gia nhập c55 d306 e3 quân khu 9.
Anh em chia tay ngay trong đêm, nhiều đồng đội tôi còn phải đi tiếp hai ba đêm nữa mới đến được đơn vị chiến đấu vì Trung đoàn 3 là đơn vị chủ lực của Quân khu 9, địa bàn tác chiến trải khắp hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh.
Nơi đây gọi là vùng da báo, ban ngày của địch quân, ban đêm của lực lượng giải phóng. Về tương quan quân sự, vùng 4 chiến thuật thế và lực địch rất mạnh, lịch sử chúng chưa bao giờ bị tiêu diệt cấp Trung đoàn, bom pháo dư thừa chúng muốn bắn đâu tùy thích. Lực lượng Quân giải phóng quá mỏng, đánh địch trên quan điểm làm nhụt ý chí địch, tiêu hao sinh lực địch là chính.
Buổi sinh hoạt đơn vị đầu tiên, tôi lướt nhanh đếm vội, cả lính mới chúng tôi Đại đội không quá hai nhăm người. Đồng chí Chính trị viên Hai Nòi quán triệt tình hình chiến sự xong anh nói: “Nhìn các chiến sĩ trẻ lập trường kiên định tôi rất mừng. Xong được biết các đồng chí được huấn luyện theo cách đánh hợp đồng binh chủng không phù hợp với thực tế chiến trường, trận đầu ra quân hơn năm mươi các đồng chí Hải Hưng hy sinh, phơi nắng trên cánh đồng Thông Hòa là nỗi đau cho toàn đơn vị… Vậy từ đêm nay các đồng chí phải đào tạo lại theo cách đánh chiến thuật đặc công, trên quan điểm vừa đánh vừa học, rút kinh nghiệm, người cũ truyền lại cho người mới. Tôi hy vọng sức trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng, các đồng chí sớm thích nghi với thực tế chiến trường”.
Đơn vị chia nhỏ trú trong những nhà dân. Thực ra là những nhà chòi. Trên ruộng người dân đào đất làm nền vì làng ấp bây giờ là tọa độ bom pháo địch. Tổ của tôi ở nhà má Tư Móm đầu ấp số 6 xã Mỹ Cẩm. Sau buổi đi tập về các má các chị đã nấu cơm sẵn cho ăn. Chỉ một nỗi phiền khó nói…
Do lạ nước lại tập luyện ngâm mình dưới sình lầy, toàn bộ lính mới anh em tôi đều bị bệnh ngoài da, ác nỗi chủ yếu ở vùng kín. Hắc lào, các anh nơi đây gọi là lác. Hàng ngày buổi trưa đợi gia đình đi nghỉ, anh em tôi nhẹ nhàng vượt qua khu vườn hoang ra sông, cào cấu thoải mái cho đỡ ngứa, lên bờ chui vào bụi rậm lau khô rồi bôi thuốc tím. Lọ thuốc tím mang vào từ miền Bắc được chúng tôi quý như vàng nhưng bôi vào chỉ thấy rộp da mà không khỏi.
Đến ngày thứ ba thì má Tư gọi tôi như tên người Nam bộ là Hai Sâm, sáng sớm má nói: “Tụi bay bê cho má hơn chục bao lúa xuống ghe để con Tám đem lên chợ Mai Phốp bán đặng mua đàn ghi ta cho thằng Út Chín”, và dặn em Tám: “Mua ít củ cải đường, thịt về kho tàu cho mấy đứa miền Bắc mới dô ăn”.
Khi chỉ còn hơn một giờ nữa là giờ giới nghiêm (thiết quân luật: sau bảy giờ tối ai ra khỏi nhà được coi là Việt cộng), em Tám Thuỷ vẫn chưa về. Cả gia đình lo lắng, chúng tôi thân là những người chiến sĩ giải phóng, đồng cảm với gia đình cũng không giúp được gì hơn… Đột nhiên nghe tiếng máy chạy mé sông, tiếng thằng Út Chín vọng lên: “Chị Tám về rồi”… Chúng tôi cùng gia đình thở phào nhẹ nhõm.
Sau bữa cơm tối anh em đồng đội mắc võng dưới cây xoài cây dừa quanh nhà. Đang câu chuyện vui buồn nhớ nhà, nhớ quê hương da diết thì từ nhà chòi thoáng bóng đi ra, rồi tiếng Tám Thuỷ chào. Cô bé này rất quý chúng tôi, “Mấy anh miền Bắc ăn nói dễ nghe, hát hay, anh nào cũng biết chữ”…
Tám Thủy đưa cho ba anh em tôi mỗi người một chiếc khăn rằn. “Từ mai mấy anh không phải ra sông tắm nữa, tắm ngay con lạch quanh nhà, lấy khăn làm xà rông thay quần áo”…
Chưa hết ngơ ngác, em đến bên dúi vào tay tôi một tuýp thuốc mỡ: “Hôm nay em về trễ vì ở Mai Phốp không có thuốc lác, em phải gửi đồ bắt xe đò lên thị xã Vĩnh Long mới mua được thuốc cho các anh. Chuyện này đừng nói má dượng la rầy em. Sớm mai để võng ra ngoài em giặt cho, võng gì mà dơ… loang lổ toàn mực tím”.
Tôi run lên vì xấu hổ. Cô bé đi theo chúng tôi sao? May là buổi tối, chứ nếu ban ngày không có chỗ mà chui. Và may nữa là hôm sau nhận lệnh lên đường (ở lại biết ăn nói sao đây?). Phía trước là đồn giặc chi khu yếu khu, quét sạch lũ ngụy quân ngụy quyền tay sai bán nước để quê hương sạch bóng thù.
Thế là bắt đầu những ngày bám đất giành dân, chiếc khăn rằn là bạn đồng hành cùng người chiến sĩ Giải phóng. Che sương che nắng, thấm đẫm mồ hôi những đêm dài hành quân luồn sâu vào vùng chiến sự. Tiếp những trận đánh ác liệt, khăn rằn đỏ máu băng bó vết thương. Và cũng để buộc nắm cơm các má các chị chuẩn bị cho lên gáy, ngâm mình cả ngày dưới sình lầy phục kích diệt thù.
Trước mỗi trận đánh bồng đồ rục giấu dưới ao đìa có khi còn khi mất, không rời chúng tôi chỉ có chiếc khăn rằn… Cuộc đời của người lính trận được may mắn trở về quên sao được những kỷ niệm nơi bưng biền, sau mỗi trận đánh công đồn hai tay vục nước ruộng xoa lên mặt lấy chiếc khăn rằn lau khô, đồng đội nhìn nhau nụ cười toàn thắng.
Cả có giây phút bình yên cùng dân trong sinh hoạt đời thường. Tắm chung, khăn rằn làm xà rông quấn quanh người để thay quần áo, đúng với phong tục tập quán một thời của người miền Tây Nam Bộ.
Ký ức những ngày đầu sống cùng dân còn có chuyện chưa bao giờ kể. Bữa đó khoảng chín giờ tối, đồng chí chính trị viên bảo: “Em xuống đun nước sôi, anh vừa được bồi dưỡng cân sữa trâu lên pha anh em mình cùng uống”. Đang đun thì người con gái chủ nhà đi họp Đoàn về… đến ôm từ sau lưng kêu lạnh. Kỷ luật quân đội khiến tôi chẳng nghĩ được gì. Run lên vì sợ, tôi vội vàng chất nhiều rơm với mục đích đun cho nhanh thì nghe hờn trách: “Anh không thương em cây rơm giờ còn mỗi cái lõi”… Sau này mới hiểu chữ “thương” của cô gái miền Tây.
Trong hành trang của người chiến thắng, chiếc khăn rằn không được đem về, giấu đi trong mắt người thân màu khăn loang lổ máu. Nhưng ký ức khăn rằn cùng năm tháng không phai. Để khi vào thăm lại chiến trường xưa, việc đầu tiên của tôi cùng nhiều đồng đội là tìm mua một chiếc khăn rằn.
Chuyến đi này may mắn gặp cả người tặng khăn cho Tiểu đội tôi ngày ấy. Mừng em cuộc sống đủ đầy trên quê hương nay đẹp đẽ đổi thay.
Chia tay nơi thấm máu bao đồng đội, xe chuyển bánh. Vùn vụt chiến trường xưa bỏ lại đằng sau. Ngần này tuổi rồi tôi mới biết nước mắt có màu, nước mắt hôm nay trong veo như ngày nào người lính trẻ. Nước mắt lau bằng chiếc khăn rằn.
Bác ơi! Miền Nam trong tim Bác… Miền Nam trong trái tim con.
(Kính tặng CCB Phan Trọng Sâm)
21/4/2023