“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”
Hình ảnh ấy thật đẹp. Nét nhạc ấy thật hay! Ngày ấy chiến trường K, đám lính trẻ cứ vô tư hát thành “Ba phát AK ru hồn lính trẻ”… Nhớ một lần đi sang chùa Coc, lúc gần tới ngã ba Trâu Chết gặp chiếc xe chở tử sĩ của Sư đoàn chạy ngược về, tôi nhìn theo lòng xốn xang câu hát “ba phát AK”…
Khi nhiệm vụ quân quản tại thành phố Sài Gòn kết thúc, trong ba Sư đoàn cuối cùng rời Sài Gòn có người lính tuổi mười tám là tôi những tưởng đã hết chiến tranh.
Rời Sài Gòn trong ba lô tôi nhiều sách toán và sách nhạc lắm. Tôi biết đọc sách nhạc và hiểu được khóa Sol dòng hai là nhờ những ngày ở Sài Gòn. Trong lòng có chút lưu luyến nhưng lại phấn chấn khi sắp được vào rừng… “Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời”, câu hát thời học sinh cứ vang vang trong đầu người lính trẻ.
Cứ 33 trước kia là trạm xá của Sư đoàn giờ là nơi đóng quân của d bộ d22, xung quanh có c1 của tôi và các đơn vị khác. Nhìn con đường Bò đưa chúng tôi vào rừng còn kéo dài xa tắp tận chân trời nơi có những binh trạm giao liên cuối cùng Bù Gia Mập - Lộc Ninh… tôi nghĩ đến những người lính Trường Sơn đầu tiên làm nên và đi trên con đường này.
Trảng Cá Lẹp, suối Nước Trong, những cái tên có tự bao giờ do bộ đội đặt ra, đâu cũng hấp dẫn tôi thám hiểm. Phong lan nhiều lắm hai bên suối tôi lấy đem về treo quanh nhà. Tôi thích nhất lan kiếm vì ngay cả lúc không có hoa thì lá của nó nhìn cũng rất đẹp.
Rừng đẹp như trong chuyện cổ tích nhưng ấn tượng nhất là một nơi tôi tìm được khi một lần đi tát cá. Bìa rừng, trảng cỏ rộng với những đầm lầy lớn nhỏ, chim trời bay lượn cùng mây trắng trên cao và một hố pháo… Theo thời gian, bàn tay kỳ diệu của thiên nhiên đã biến cái vết thương của đất ấy trở thành một bể cá tuyệt đẹp. Giữa không gian lộng lẫy, làn nước trong veo, từng đàn cá nhỏ tung tăng bơi lượn bên những rong rêu mọc cao đong đưa, xung quanh viền một loại cỏ hoa nhỏ trắng vàng đua nhau khoe sắc.
Làm rẫy trỉa lúa xong, đơn vị súng cối 120ly của tôi chuyển sang Trung đoàn bộ binh khác. Tôi nhờ một điều kỳ diệu vẫn ở lại rừng, làm rẫy ở một khu rừng khác.
Từ Cứ 33 đến rẫy mới chừng ba giờ đi bộ. Theo đường Bò tôi đi một mình. Rừng vắng, vui với chim ca, hoa ngàn… Kia rồi trong bóng rừng thấp thoáng hai mái nhà nhỏ lợp lá trung quân dưới gốc cây mã tiền cổ thụ. Đón tôi là anh Thịnh.
Rẫy nằm ngay bên bờ sông Bé, cũng có con suối nhỏ đi qua. Trên rẫy lúa đã ngang ống chân, bắp trồng xen lúa. Bìa rẫy trồng bí đỏ, sắn. Lúc này công việc làm rẫy đã xong, đơn vị về cứ Cua Pa Ri ngoài đường 14, cử hai người ở lại coi rẫy một tháng rồi người khác lên thay. Tôi đăng ký ở lại rẫy lâu dài không cần thay.
Mùa mưa măng bắt đầu nhú lên, đất tốt nên rau bí và quả bí đều rất ngon, vị ngon tôi nhớ tận bây giờ… Bến sông chỗ chúng tôi thường rửa bát còn nhìn thấy cá. Tối ra suối cắm câu, đêm ngủ mà hồi hộp thấp thỏm, sáng ra thăm vui thích nhìn cá cắn dây câu chạy loằng ngoằng. Tôm càng xanh nhiều và to. Tôi thường hay ngồi câu cá tôm chỗ ngã ba dòng suối đổ ra sông, ngắm dòng êm đềm chảy về xuôi, giữa rừng xanh đại ngàn nhớ những lần đi câu trên dòng sông quê hương da diết.
Chim muông, to mồm nhất là Bìm bịp kêu váng sớm chiều, chúng gọi nhau đấy! nếu không biết nghe thì chỉ thấy chúng kêu loạn hết lên thôi. Đêm xuống tiếng cú kêu khắp rừng. Buổi sáng có con chim gì rất đẹp, hót rất hay, thường về đậu trên cây mã tiền bên nhà hót véo von, tiếng hót của nó đủ sáu âm (không không sắc huyền hỏi ngã).
Thú rừng rất nhiều, nhất là khi cây trong rẫy của chúng tôi lớn. Khi bắp có trái, từng đàn vẹt xanh hàng trăm con bay về, bắn đuổi chỗ này chúng bay lên rồi sà xuống chỗ khác. Từ cuối rẫy có đàn khỉ từ đâu thường xuống bẻ trộm bắp, chúng khôn lắm, đi tay không ra đuổi thì chúng không sợ nhưng nếu cầm theo khẩu súng thì từ xa chúng đã bỏ chạy hết lên cây.
Một hôm ra rẫy thấy một quả bí đỏ bị gặm mất một nửa, lợn rừng hay nhím đây? Nửa đêm tôi đem súng ra ngồi rình. Thanh vắng, chẳng thấy gì ngoài vằng vặc ánh trăng rừng. Trong bát ngát hoang vu tiếng con thú gì đó vọng về sắc lạnh, vang xa, tên người nào không có dấu thì nghe như nó gọi mình vậy, chẳng hạn tôi nghe như nó gọi “Khuê ơiii”…
Có lần từ trảng cỏ tranh thấy vết chân lợn rừng đi vào rẫy. Tôi đào hố, ngụy trang. Mấy ngày chẳng được con lợn nào, tôi quên luôn rồi một hôm đến gần nghe tiếng “soạt”… một con lợn rừng con, tròn tròn vàng sẫm với mấy sọc đen chạy dài trên lưng, nó biến đi nhanh lắm. Rón rén lại gần, một con nữa vọt lên rồi sau tiếng súng của tôi thì trảng cỏ rùng rùng chuyển động, có đến hơn chục con. Vậy là làm bẫy nhưng lại thành ra tôi đã đào hang cho chúng ở… nhìn theo lũ lợn rừng tôi nghĩ con gì còn nhỏ cũng thật dễ thương.
Cũng có cuộc gặp không vui như một buổi sáng mở mắt ra thấy trên xà nhà dọc theo chiều hai thằng tôi nằm là con rắn khá to nằm dài trên đó. Ba cái đầu cùng quay về một phía còn phía kia là bốn cái chân và một cái đuôi, cứ như nó ngủ với chúng tôi. Bụng rắn nổi một cục to chắc bên trong là con chuột. Thấy rờn rợn, không biết nó leo lên đường nào và từ bao giờ?
Dậy sớm chạy thể dục quanh nhà, một lần tôi phát hiện bãi sắn đổ ngả nghiêng, lại gần chi chít vết chân năm móng lún sâu. Gấu ư? Hay cọp? Nó phá cả vạt sắn rộng trăm mét vuông, cách chỗ chúng tôi nằm gần nhất chưa đến chục mét mà hai thằng ngủ không hay biết, nhà thì không có cửa… Sau hôm đó chúng tôi chuyển sang cái nhà bên xa rẫy hơn. Vẫn sợ, mấy hôm đầu còn để đèn măng xông sáng suốt đêm.
Nằm bò ra dưới ánh đèn làm toán, tôi nuôi ước mơ tiếp tục học khi ra quân. Không biết sao một buổi sáng thằng Quý ở rẫy đơn vị bạn gần đó sang chơi, vừa thấy nó tự dưng tôi kêu lên “Quý ơi tao được đi học điện tử hàng hải”! rồi cười hì hì “Đùa đấy không phải đâu”. Vậy mà bốn năm sau điều đó thành sự thực.
Mùa măng sắp qua, đi hái măng phải đem cái thuổng nhỏ có cán dài để lấy phần ngọn cây măng cao. Cây măng đã sắp thành tre, mùa làm rẫy sắp qua. Lòng xao xuyến khi nghĩ đến ngày phải rời xa khu rừng già bên dòng sông Bé.
Phong lan vẫn treo quanh nhà như bên Cứ 33 nhưng nhiều hơn và tôi có một chùm lan kiếm to. Chiều rừng gợi buồn hay khi những cơn mưa rừng rả rích tôi hay ngắm lan. Có cái radio làm bạn, một lần vô tình nghe bài hát “Mưa rừng” đang khi ngồi nhìn rẫy lúa và cây rừng mờ trong mưa, “Dừng gót phiêu linh về thăm nhà”… lòng tôi xao động. Nhớ mẹ và các em đến não nùng. Nhớ lần mưa hành quân dừng chân xóm nhỏ, Đại đội có mỗi tôi ướt, lướt thướt cả người cả balo. Cô bé chủ nhà mắt tròn xoe hỏi tại sao ướt? Tôi trả lời áo mưa tặng mẹ rồi, lòng vang câu thơ: “Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi”.
Mùa rẫy kết thúc chúng tôi trở về cứ Lai Khê bên đường 13, trước kia là căn cứ Sư đoàn 5 của ngụy. Rừng trồng toàn cao su. Mùa khô, lá cao su tất cả dần chuyển màu vàng, bay xao xác mỗi khi có gió. Mặt đất phủ một lớp lá vàng, in trên nền trời thân cành cao su đủ hình dáng đứng thành hàng… Nơi một thời khét tiếng ác ôn mà nay nhìn góc nào cũng thấy một vẻ đẹp.
Lại một mùa mưa, năm nay đơn vị làm rẫy trong rừng Lai Khê. Đất ở đây pha cát xấu lắm. Anh em trong đơn vị phát rẫy rồi trỉa lúa rồi rời đi. Lán dựng dưới tán rừng có dòng suối nhỏ chạy ngay qua nền nhà… sao nơi đây tôi lại ở một mình nhỉ? cứ về là nghe tiếng suối róc rách suốt ngày đêm.
Tôi thích cái lán này nhất trong các lán từng ở trong rừng. Tối rảnh tôi tập đàn guitar cổ điển theo cuốn Carulli. Tôi sưu tầm được một tập đến cả trăm tờ các bài hát: Chiều tha hương, Suối mơ, Trăng mờ bên suối… Tập bài hát này không bao giờ rời tôi dù rằng nhiều người trong đơn vị đã hỏi mượn. Vậy mà sau này có một lần ở cố đô U Đông, tôi đã cho một bạn mượn, chỉ vì biết trước khi trở thành người lính quân tình nguyện Việt Nam bạn ấy là pháo thủ 105ly của Quân lực Việt nam cộng hòa. Từ đó tôi không gặp lại người lính cùng tập nhạc của tôi… đến giờ tôi vẫn đang tìm bạn ấy.
Đêm 30/4/1977 báo động toàn Sư đoàn. Khmer đỏ đồng loạt tấn công các đồn biên phòng của ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Từ hôm đó đơn vị tôi không làm rẫy nữa, sẵn sàng lên biên giới.
Đêm 31/12/1978. Quân đoàn 4 tấn công mãnh liệt, từ khoảng 19 giờ súng các cỡ nổ dồn dập, ánh lửa đạn chớp sáng ngời suốt một dải dài từ phía thị xã Svayrieng lên Chóp. Tôi nhớ đến những người bạn cùng nhập ngũ với tôi Khái, Tâm, Hà, Bắc, Vượng, Voong, A Cẳu. Đại đội súng cối 120ly của tôi nữa, họ ở đâu trong ánh lửa đạn kia? Những ánh mắt lạnh lùng, những khuôn mặt hốc hác, áo quần bùn đất lấm lem.
Tại sao tôi ở lại khi đơn vị súng cối chuyển đi? Đó là sự kỳ lạ khó mà giải thích. Sau giải phóng 1975, khi còn ở Long Khánh đơn vị trú nhờ nhà dân trong một xóm đạo, tại đây tôi được giao nhiệm vụ ghi chép danh sách trích ngang của toàn đơn vị khoảng trên một trăm năm mươi người. Chữ tôi năm học cấp 3 thầy Bổng dạy văn còn chê “vứt xuống sông Tiên Yên bảy ngày không chìm” mà không biết vì sao lần ấy tôi viết đẹp thế. Tại cây bút, cái bàn, cây vú sữa tỏa bóng mát hay tấm lòng gia đình người mẹ cho ở nhờ?
Bốn mươi năm quay lại Ngã ba Dầu Giây tìm lại gia đình mẹ. Bạt ngàn rừng cao su, rừng chuối không còn nhưng nhà mẹ vẫn còn đây. Gặp mẹ vẫn khỏe, điện thoại cho chị con gái mẹ từ Canada chị hỏi có phải cái thằng nhỏ nhỏ hay ngồi ghi chép dưới cây vú sữa? Bởi vì tôi viết không phải một mà nhiều ngày. Cuốn danh sách nộp lên trên và anh Duy trưởng ban quân lực từ đó đã chấm tôi làm trợ lý quân lực thay cho anh Tròn chuẩn bị ra quân. Anh Tròn ra quân, chữ tôi lại “vứt xuống sông bảy ngày không chìm” như trước… Anh Duy thất vọng, tôi chuyển đơn vị khác. Một đồng đội khác lên làm quân lực thay tôi.
Lúc chia tay đơn vị súng cối 120ly tôi bàn giao chức danh văn thư cho bạn Thanh người Hải Hưng. Thanh hy sinh, phải chăng tôi đã bàn giao cả cái chết cho bạn ấy? Thanh trắng trẻo, đẹp trai và hiền lành đeo chiếc đồng hồ Orient ba sao… Không bao giờ tôi quên bạn ấy cùng những đồng đội đã ngã xuống dọn đường cho chúng tôi tiến đến đây.
Đến sáng 01/1/1979 chúng tôi chuyển lên Chóp, một đơn vị của sư 9 lấy chỗ chúng tôi (ngã ba chùa Coc) làm trạm quân y tiền phương. Tôi đang chờ xe đơn vị quay lại đón thì thương binh bắt đầu được đưa về. Người thương binh đầu tiên bị thương nhẹ tự mình đi về trạm được, rồi thương binh được đưa về nhiều dần. Sau khi sơ cứu thương binh được đưa lên những chiếc xe DOT trải rơm sẵn chở về Việt Nam.
Tôi đến bên một chiếc cáng người lính bị thương nặng lắm, anh nằm trên cáng đầu gối lên chiếc áo cuộn lại, máu từ đầu anh chảy ra ướt đẫm chiếc áo ấy, đôi mắt anh mở to nhưng tôi không thấy lòng đen, yếu ớt rên khe khẽ… một lúc sau anh hy sinh. Thầm nói lời vĩnh biệt mong anh ấm áp phút sau cùng, tôi lặng nhìn về núi Bà Đen, giây phút này có người mẹ, người con gái nào tim thảng thốt nhói đau? Năm mới đến rồi nhưng các anh không thêm tuổi.
Chợt thấm thía câu nói của một nhà văn nữ: “Tôi đã thấy được giá trị của sự yên bình mà tôi đang được sống”… Để thấy được giá trị ấy là những trải nghiệm không ai muốn trải qua.
Chiều mùng 7/1/1979 xe chúng tôi đến gần cầu Monivong, trước mặt là Phnompenh một nửa bầu trời phía Tây đen đặc khói… Chập tối, xe đi trong ánh chớp và tiếng nổ vang rền. Có lẽ trinh sát pháo binh của chúng đặt đài quan sát trên mấy cù lao gần cầu nên mới nhìn thấy xe ta như vậy, bắn theo. Thấy đạn nổ cả trên trời thằng Lĩnh nói “nó bắn pháo chụp đấy” rồi tắt đèn.
Mờ mờ ánh trăng non, xe dừng lại ở đầu cầu. Trên cầu đạn pháo bắn vào dữ dội. Một loạt bắn trúng mấy ngọn cây xoài cổ thụ ngay trên đầu, tôi và thằng Lĩnh lăn vào gầm xe. Đám lính bộ binh kêu lên “Miên”! rồi chớp nhoáng vào vị trí sẵn sàng chiến đấu… Sau này mới biết trong đạn pháo đó có cả của quân ta ở một hướng khác vừa tới. Trên sông tàu chiến của Hải quân ta cũng đã đến. Địch không thể phản kích, khoảng hai mươi giờ tiếng súng im.
Khi tiếng súng dứt tôi chui vào mấy nhà bên đường bỏ hoang chắc đã từ lâu. Ngạc nhiên và vui sướng tôi nhặt được một cây đàn guitar, đàn mới lắm và còn nguyên sáu dây, đàn Nhật hẳn hoi nhưng tiếc rằng không phải đàn classic. Cây đàn classic của tôi để lại Việt Nam còn cây đàn này sau tôi cho thằng Quý c7.
Cầm đàn ra vệ đường ngồi chơi, tôi lại có “riêng một góc trời”…
Một buổi chiều cậu cần vụ của Chính ủy Trung đoàn đến tìm tôi nói: “anh lên gặp Thủ trưởng ngay, cầm theo cây đàn”. Thôi lần này chắc bị kỷ luật nặng rồi, ai bảo cứ hay hát rừng với suối… Bước vào nhà thấy Chính ủy đang nói chuyện với hai người lính cách mạng Campuchia, một già một trẻ. Chính ủy bảo đàn cho họ nghe tôi mới thở phào nhẹ nhõm.
Một buổi biểu diễn thật ngộ nghĩnh (giờ nhớ lại thấy thế). Năm người lính chung một màu áo (chúng tôi khi ấy trong quân phục quân đội bạn) đã có một buổi chiều thật vui. Diễn viên chơi đàn ấm ớ nhưng bốn khán giả có vẻ thích thú. Chủ đạo là bản nhạc “ba phát AK”. Sau này mỗi khi nhớ lại tôi cứ tự hỏi sao Chính ủy lại nghĩ ra buổi biểu diễn kỳ lạ ấy?
Còn tôi khi ấy, khi đã “bình tĩnh” trở lại, thả hồn theo nốt nhạc không phải là “Ba phát AK”… mà là “Mưa vẫn mưa bay”… không gian thanh bình mơ ước.
Ngao du góc biển chân trời. Bốn mươi năm, bản nhạc ấy giờ đây ngày nào phím đàn tôi cũng lướt… ru hồn đồng đội, linh thiêng vẫy gọi tôi đi tìm mộ các anh.
(Kính tặng CCB Nguyễn Tuấn Khuê)
22/3/2023