Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 1423 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »
Đón và bảo vệ bà nữ tướng

❊ ❊ ❊

(CCB Đặc công Lê Phú Dân kể chuyện)

Khoảng tháng 9/1973 tôi trong đơn vị 279 cụm H7 Đặc công Biệt động đang trú quân tại Kênh Bằng Lăng tỉnh Kiến Tường thì nhận nhiệm vụ cùng với năm anh nữa. Gọi các anh vì tôi nhập ngũ khi chưa tròn mười bảy tuổi, vẫn quen là út của đơn vị. Hai năm huấn luyện, bảy tháng hành quân. Vào với chiến trường sông nước tròn năm… Nguyên vẹn cậu học sinh trong câu thơ tôi không nhớ tên tác giả:

“Mặc áo học trò đi ra trận

Cắt tóc thư sinh lội chiến trường

Vào Xuân còn bận mùa chinh chiến

Đường ra Mặt trận, súng và thơ”…

Miền Tây bao lạ lẫm với người lính Bắc. Đang mùa mưa, mùa mưa nơi đây còn gọi là mùa nước nổi. Nước mênh mông trắng xóa, nhìn ra cánh đồng như biển Thái Bình Dương. Bầu trời Trực thăng bay tầm thấp “pành pạch” lật tung những lùm cây, tầm trung là máy bay Đầm già và cào rồ (L19, C130), trên cao thằng OV-10 săm soi… Những cây tràm, cây trâm bầu mọc rất nhiều ven kênh che cho du kích, giải phóng quân chúng tôi di chuyển.

Lựa chọn trong đơn vị những chiến sĩ giỏi lội (bơi), nhiều kinh nghiệm trong tác chiến. Sáu chúng tôi gồm hai xạ thủ B41, hai xạ thủ M79, hai xạ thủ AK47 báng gập. Mỗi người một khẩu K54 với hai băng đạn dắt trong người. Một máy bộ đàm của Đức sản xuất để liên lạc nội bộ. Nhận lệnh là ngay đêm đó lên đường.

Tôi nghĩ thầm không biết cấp trên giao đi đánh địch khu vực nào đây? Mùa mưa địch co cụm về đồn bốt hết rồi, mà đi tập kích đồn thì không phải “nghề” của Đặc công Biệt động… Lệnh là đi đánh địch nhưng rất lạ là không được biết mục tiêu.

Mười tám giờ xuất phát từ kênh Bằng Lăng, đón chúng tôi là các nữ du kích rất trẻ, lên xuồng bơi bằng dầm. Vượt qua nhiều kênh rạch chúng tôi lúc ngồi xuồng, lúc lội bì bõm qua cánh đồng lúa dân vừa mới gặt nước ngập lút rạ.

Đến một con kênh tạm nghỉ chờ lệnh trên. Tôi hỏi và được biết kênh này tên kênh Xáng, còn có tên nữa là kênh Nguyễn Văn Tiếp. Tại sao con kênh này có hai tên? Mấy cô chèo xuồng trả lời cũng không rõ.

Cách đoàn tôi nghỉ chừng chục mét cũng có một đoàn cán bộ chờ vượt kênh, dưới ánh trăng bốn người đang ngồi chụm nhau dưới gốc cây tràm, các chú đều trạc tuổi bốn mươi, tôi nghĩ đây là đoàn cơ sở Cách mạng của địa phương nào đó, các chú đang giở cơm nắm ra ăn.

Không có bát chỉ mỗi người một đôi đũa. Tôi để ý và thấy lạ, cứ một miếng cơm thì các chú cầm đôi đũa quẹt vào cái nồi nhôm bên trong chẳng có gì đưa vào miệng.

Tôi mạnh dạn tới gần chào rồi hỏi chuyện, một ông trả lời lúc chiều đi từ huyện Cái Bè, cơm nấu nhưng không kịp ăn, nắm mang đi. “Các chú ăn gì quẹt vào nồi không vậy”? Ông trả lời đó là “kho mắm quẹt”. Ôi thế là lại thêm thắc mắc kho mắm quẹt.

Và tôi đã biết Nguyễn Văn Tiếp là tên đồng chí Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Mỹ Tho, hy sinh năm 1947. Có kênh Nguyễn Văn Tiếp A và Nguyễn Văn Tiếp B nữa, đủ thấy được sức lan tỏa của người cán bộ này. Còn món Mắm kho quẹt nguyên liệu gồm mắm, nước cơm và muối hạt nấu cô lại, rất mặn, thông dụng với cán bộ trên đường Kháng chiến.

Từ kênh Nguyễn Văn Tiếp chúng tôi bỏ lại xuồng, quần áo vũ khí bọc trong túi ni lông. Lội kênh, thực ra là bơi qua sông, rồi bắt đầu đi bộ. Nói là đi bộ nhưng bì bọp dưới nước, lúc ngập bàn chân, lúc đến thắt lưng. Hàng dọc đội hình theo sát mấy cô du kích, các cô dặn chỉ đi chệch là ăn ngay trái gài (lựu đạn) do chính các cô gài. Im lặng, chỉ có tiếng bước chân lội nước và tiếng pháo sáng từ các đồn bốt địch bắn lên.

Đi được hơn một tiếng du kích thông báo trước mặt là một đồn địch, dừng lại chờ pháo cầm canh địch bắn theo quy luật. Yêu cầu hết sức bí mật, ai ở đâu cứ ở nguyên. Hết đợt pháo cầm canh chúng tôi đi tiếp. Cứ thế qua nhiều kênh và đồn bốt, đến kênh Bảy Ngàn đoàn dừng lại, xuất hiện một ông trạc ngoài tuổi bốn mươi.

Ông phổ biến: Bà Nữ tướng phó Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng Miền Nam đang trên đường xuống Khu 8, chúng tôi có trách nhiệm đón và bảo vệ Bà trong thời gian Bà đi thị sát chiến trường. Như vậy nhiệm vụ đã rõ. Đoàn chúng tôi sẽ tiếp nhận và bảo vệ bà Nữ tướng từ kênh Dương Văn Dương.

Từ kênh Bảy Ngàn đoàn chúng tôi sáu người chia làm hai tổ đi cách nhau năm mươi mét. Gần tới kênh Dương Văn Dương dừng lại chém dè.

Hai bờ kênh sáng tựa ban ngày do pháo sáng từ đồn địch bắn lên cùng đèn pha tàu tuần tiễu trên kênh chiếu quét. Chưa yên tâm, từ trên tàu chúng còn vu vơ xả đạn, bùn nước tung lên như bắn cả vào mặt chúng tôi.

Bên kia kênh Dương Văn Dương là cánh đồng Ba Thu hay còn gọi là Chó Ngáp, mùa khô trắng xóa như sa mạc, mùa mưa mênh mông như biển chẳng thấy bờ. Một lần tôi khi trên Miền xuống đã bị lạc bốn ngày trên Cánh đồng Chó Ngáp này, những tưởng thân Giải phóng bón cho cây cỏ…

Từ miền Đông đi chiến trường miền Tây, đến được kênh Dương Văn Dương phải qua cánh đồng Chó Ngáp mất ít nhất hai ngày đêm, mười đoàn xuống có đến ba đoàn bị lạc. Rồi đồn bốt xung quanh, trên trời trực thăng, đầm già soi mói… Năm 1972, Sư 5 xuống hai Trung đoàn bị địch xóa sổ gần hết vì không quen đánh giặc vùng sông nước. Trải dài từ kênh Vàm Cỏ Tây đến kênh Mười Bà đâu cũng có mộ lính Sư 5.

Thoáng ký ức tôi trong khi chăm chú theo hướng đoàn sẽ đến… Đây rồi qua ánh pháo sáng, một đoàn hơn chục người mặc bà ba đen rời xuồng, đi giữa là một phụ nữ cao to. Bà Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Vậy là bà Nữ tướng cũng đi theo con đường gian nan của quân Giải phóng và có mặt nơi đây. Kênh Dương Văn Dương cách Sài Gòn chừng năm mươi kilomet. Từ lúc này chúng tôi bắt đầu nhiệm vụ tháp tùng Bà đi thị sát chiến trường Khu 8 - Sài Gòn. Khu 8 trước đây là an toàn khu ven kênh Bích. Trải dài hai kilomet hàng quán trù phú sôi động, trên bến dưới thuyền, nhưng rồi một ngày tên Mười Tân chiêu hồi dẫn lũ ngụy cùng xe lội nước M113 kéo đến trong đêm san bằng căn cứ.

Sáu giờ sáng anh em tôi đưa đoàn đến kênh Bùi (tỉnh Kiến Tường), bờ kênh rậm rạp những cây tràm và cây trâm bầu cao đến gần chục mét. Tiền trạm của khu và Miền đã đến đây từ trước. Lán dưới lâm là chỗ ở của đoàn đã được dựng xong, mái lợp bằng lá cây dừa nước. Kiểm soát vòng ngoài là quân Khu 8 và quân giải phóng địa phương, ra vào dùng mật khẩu, tàu thuyền không cho qua lại đoạn kênh. Sáu anh em tôi chia nhau theo sát bên Bà.

Đoàn công tác của Bà có mười hai người thì có đến mười cô gái còn rất trẻ nhiệm vụ thông tin, quân y, cơ yếu, hậu cần… Chúng tôi đều mới ngoài tuổi hai mươi, đang ngồi ghế nhà trường xếp nghiên bút lên đường ra trận, chưa ai có mảnh tình vắt vai, chưa biết gần con gái bao giờ. Bây giờ cùng sinh hoạt ăn ở chung với các cô, lính đặc công cao to sáu múi vậy mà như gà mắc tóc. Yêu cầu của cấp trên là ai cũng chỉ biết việc mình làm nhưng rảnh là các cô trêu chọc ăn hiếp, gốc người Nam Bộ phóng khoáng các cô không biết e thẹn là gì đâu.

Sự cố đầu tiên là cái lúng túng khó xử không thể nào quên đến từ mười cô gái trong đoàn, ánh mắt dạn dĩ của các cô… chúng tôi làm như không để ý, kệ họ.

Đứng để các cô giao nhiệm vụ, cô gái là “sếp” ghé sát tai tôi nói thầm: “Trời sao chú đẹp dữ vậy? Trắng như con gái, chú bôi son đấy à? Rảnh cho bọn chị ôm tí cho biết mùi”.

Tôi nói to: “Sếp ơi chúng tôi đang nhiệm vụ đặc biệt”. Câu trả lời không do dự: “Này chú, bọn chị còn nhiệm vụ đặc biệt hơn”!

Và lại ghé sát tai tôi: “Nghe chị đi, chị ra lệnh là bọn em khốn đó”! Nhanh như chớp hôn tôi lên má rồi cô ta lùi lại hai bước hô to:

- Đồng chí Sáu Dân thực hiện nhiệm vụ.

- Báo cáo rõ! - Tôi trả lời như cái máy, hơi hoảng… dù từ bé với biệt hiệu Dân “bánh đúc”, tôi đã quen với các bà các chị gặp tôi là xúm xít đòi… hôn.

Sáu anh em chia nhau, hai đồng chí làm nhiệm vụ còn bốn đồng chí tìm nơi đi ngủ, cứ bốn tiếng lại thay nhau. Đêm qua lội và thức cả đêm, tôi vào lán thì ba anh kia đã say mộng.

Tôi lấy trong bồng miếng ni lông trải ra nằm, vũ khí xếp luôn bên cạnh, gối đầu trên chiếc bồng.

Chỉ kịp nhắm mắt, thoáng nghĩ liệu tối nay sẽ bảo vệ tháp tùng bà Nữ Tướng đi đâu, thì một cô gái đến bên cạnh: “Anh đưa súng sang bển cho em quá giang kế bên anh”.

Tôi trả lời: “Không được, em tìm chỗ khác hoặc xa ra cho anh ngủ”.

Rất tự nhiên cô ta trả lời: “Sếp của em đồng ý rồi, em được nằm cạnh anh để ngủ và sếp em bảo là anh hãy ngoan ngoãn nghe lời”.

Tôi định rón rén chuồn ra chỗ khác thì cô ta nói rằng: “Nằm im mà ngủ đi, không là tróc vẩy đấy”! Tôi nằm im như đứng chào cờ, tim đập còn nghe được… Rồi mệt quá thế là tôi ngủ say không biết trời đất gì hết.

Đến lúc có người lay tôi dậy ăn cơm, ăn xong tôi và một đồng đội nữa trực gác. Mới biết từ lúc đến bà Nữ tướng chưa hề nghỉ ngơi, các đoàn đến gặp bà liên tục.

Khoảng năm giờ chiều. Có thêm hai chú tuổi ngoài bốn mươi đến, tôi nhận ra một người là người giao nhiệm vụ cho chúng tôi trên kênh Bảy Ngàn. Ông thông báo ăn xong tất cả bồng đồ sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Và thế là bữa cơm chiều ấy có hai mươi người là bữa đầu tiên chúng tôi ăn cùng Bà. Trước lúc ăn Bà ân cần hỏi thăm sáu anh em tôi, giọng bà trầm ấm thân thiện.

Sếp nữ lúc trước hôn trộm tôi giờ lại ngồi ăn bên cạnh, ghé tai nói: “Chú quê quá hổng biết làm gì”… tôi giả vờ mải nghe cấp trên phổ biến, không trả lời.

Lại thì thào: “Này, Sáu Dân có bê đê không vậy”?

Thật không nhịn được, tôi nói nhỏ sếp đủ nghe: “Không, các bộ phận đầy đủ”, đáp lại là nụ cười bí hiểm. Nhiệm vụ nghẹt thở mà các cô cứ như không. Càng sau tôi mới càng hiểu những người con gái gan góc ấy.

Cả đoàn đang ăn thì thư ký của bà báo cáo:

- Thưa Thủ trưởng, có đoàn cán bộ của tỉnh Vĩnh Long xin được tiếp kiến bà.

Thế là Bà lại bỏ dở bữa cơm:

- Mời vào chờ tôi chút.

Chị sếp cạnh tôi nói thư ký:

- Để bà ăn xong hãy báo cáo chứ!

Người thư ký định nói nhưng lại thôi.

Tôi nghĩ tận bên Vĩnh Long Khu 9 rất xa mà biết tin và đi đường nào mà nhanh như vậy? Phải qua nhiều con sông lớn, nhiều đồn bốt địch. Chắc chắn phải đi xuồng cao tốc của ngụy, đóng giả ngụy mới nhanh tới được thế này.

Đâu phải lúc nào có dịp gặp được Bà nữ tướng Phó tổng Tư lệnh được đâu. Đây là chuyến đi của Bà thị sát chiến trường, động viên thăm hỏi cán bộ chiến sĩ Khu 8 cùng các gia đình kiên cường bám trụ quê hương.

Được nghe phổ biến hành quân đêm nay tôi đoán sẽ là quyết liệt. Nhiệm vụ rất cụ thể cho từng người. Một Trung đội trinh sát của Khu đi tiền trạm trước, bảo vệ dẫn đầu khóa đuôi. Tổ sáu người Đặc công chúng tôi được chia hai luôn ở cạnh Bà, hai khẩu súng của xạ thủ B41 được giao lại và nhận hai khẩu K63 bắn đạn AK47.

Bà đi rồi bữa cơm không còn nghiêm trang như lúc trước, vui cười nhộn nhịp cả lên. Bắt đầu mấy cô gái hậu cần, thông tin chuyển chỗ ngồi ăn, các cô xen vào sáu anh em chúng tôi… lúng túng được mấy cô gắp thức ăn cho.

Đang nghĩ đêm nay xuống Châu Thành đi con đường nào, cả hai đường đều nguy hiểm, qua hai đồn bốt địch, lội qua hai con kênh lớn mà tàu địch thường xuyên kiểm soát cả ngày đêm… Bỗng một tràng đạn đại liên M60 từ một căn cứ địch bắn tới rất gần, chắc chỉ cách khoảng một kilomet.

Chưa được chứng kiến tiếng súng địch bất ngờ như vậy hay là cơ hội? các cô bỏ chén đũa ôm lấy mấy anh em chúng tôi. “Tránh đạn ở đâu được anh”? Tôi bảo: “Đạn địch tránh ta rất tốt mà, chúng ta không phải tránh”.

Bị kẹp giữa chị sếp của đoàn bên trái và một cô bên phải tôi khó thở, mắc cỡ giữa chỗ đông người. Chú sếp của Miền cười: “Hôm nay bữa cơm vui nhưng các cô vui hơn được ôm mấy chú đặc công Giải phóng, nhờ thằng địch ngoài bốt chọn giờ này bắn cầm canh”.

Tôi tìm cách thoát khỏi các cô, ra gần chú Trưởng đoàn, ghé tai nói nhỏ đủ nghe:

- Thủ trưởng, đêm nay ta biết đi đường nào chưa?

- Đi đường kênh Mười Bà, chú rành không?

- Dạ con rành.

Ông hiểu sự lo lắng của tôi: “đã có đội trinh sát dẫn đường tiền trạm không phải lo nhé con”!

Đoàn bà Nữ tướng lên đường lúc nhá nhem trời tối. Từ các đồn bốt pháo sáng thi nhau bắn lên soi mói, thỉnh thoảng loạt đạn AR15 hắt lên bầu trời những vệt sáng chớp xanh.

Đến kênh Băng Dầy cả đoàn dừng lại chờ lội kênh. Con kênh này là rốn nước của Đồng tháp Mười nên mùa khô rất nhiều cá lớn, nhiều tới mức chỉ cần đứng một chỗ chọn con cá nào to thì bắt mà không khéo là bị cá trê đánh sưng hết mình mẩy.

Lúc này vào giờ con nước ròng (nước xuống) không bơi được, phải đi trên sình lầy. Tôi bàn với trưởng đoàn. Thế rồi sau mười lăm phút sau trinh sát khu kéo một chiếc xuồng tới mời Bà ngồi lên, thêm hai ông chỉ huy. Hai chúng tôi cùng hai trinh sát đẩy xuồng qua kênh an toàn. Đưa Bà cách con kênh khoảng hai trăm mét, chỉnh đốn đội hình. Thấy đội nữ vẫn còn chưa qua hết, để lại hai trinh sát bảo vệ bà, tôi và đồng đội đem xuồng quay lại giúp các cô.

Con kênh Băng Dầy rộng khoảng bốn, năm mươi mét nhưng khi nước ròng mớm nước trong lòng kênh chỉ còn mươi mét. Lúc này nước bắt đầu lên. Có bốn cô cùng hai máy PRC25, cách mấy mét bờ kênh tôi bảo bốn cô lên xuồng cho lẹ còn tôi hai máy PRC25 hai tay tôi giơ cao ngang đầu xách ra sau. Mỗi chiếc máy nặng hơn hai mươi kilogam, nghĩ lại lúc ấy sao khỏe thế.

Kể thêm là sau Giải phóng, với những vết thương mảnh đạn trong người tôi vẫn có mặt trong Đội bơi lội vùng 4 duyên hải tham gia Đại hội TDTT nhân ngày truyền thống Hải quân Việt Nam 07/5/1977 cùng đồng đội đoạt “Giải nhất đồng đội cự ly đường dài”.

Lượt thứ hai vượt kênh khi này nước bắt đầu lên, bùn nước có chỗ đã ngập đầu, chỉ có hai anh em mà xuồng chở bốn cô gái và hai máy PRC25… tôi bảo bốn cô xuống lội khi còn cách mép kênh mươi mét.

Trên miền sông nước chúng tôi đều biết quần dài phải có thắt lưng, ống quần buộc túm dây thun… nhưng các cô thì không biết, và lúc này tình huống xảy ra.

Bốn cô bì bõm trên sình lầy được dăm mét thì có tiếng kêu: “Đỡ em với, kéo em với, lôi em với”… Rồi một cô rất tự nhiên: “Anh Sáu giúp em kéo cái quần… mau không tuột mất”! Tôi quay lại, qua ánh pháo sáng nhìn mà thấy cảm thương… nơi tôi vừa kéo xuồng qua sình lầy ngang thắt lưng thì các cô loay hoay ngập nửa thân đến ngực, chắc quần tụt vì tay mắc bám xuồng.

- Trời ạ… sao khổ vậy? cô rút chân lên xem nào.

Chẳng rút nổi chân lên… Tôi đã hiểu:

- Cô dẫm chặt quần dưới bùn rồi kéo lên làm sao được… Thôi bỏ đi lên bờ tôi cho mượn quần tôi mặc, lẹ đi không nước lớn là tàu địch đi tuần.

Lên bờ… thật may chiếc áo bà ba của dân Nam bộ dài hơn các vùng miền nên che được cái mông trắng của cô.

Đường hành quân qua các cánh đồng lúc nãy nước ròng chỉ xâm xấp chân mà giờ thành một vùng nước mênh mông, đêm mịt mùng. Nơi có ánh đèn là căn cứ địch, thỉnh thoảng vài quả pháo sáng bắn lên như nhắn nhủ: “Việt cộng đừng chui vào đây bọn tao vẫn còn đang thức gác đề phòng”!

Đoàn tạm nghỉ dưới một rặng cây trâm bầu. Tôi nhìn đồng hồ chỉ hai tư giờ.

Ông chỉ huy thông báo chúng ta chuẩn bị vượt kênh Mười Bà. Tư trang, vũ khí, quân dụng thật gọn gàng chờ cho con nước lớn là đội trinh sát khu sẽ đưa đoàn qua bằng xuồng. Ông cũng đề nghị sáu anh đặc công hỗ trợ hai cô gái thông tin mang máy PRC25.

Mặc dù yêu cầu giữ bí mật nhưng các cô gái vẫn mí mẫn xì xèo chuyện vượt kênh Băng Dầy bị tụt quần rồi mượn quần của đặc công. Ông nhắc: “Mấy cô không nghe, ì xèo vậy rồi lại có cô mượn quần mấy ông con trai mặc đó”!

Trinh sát báo nước đã lớn và bí mật đưa chúng tôi vượt kênh bằng xuồng dầm lái. Kênh Mười Bà có vị trí chiến lược quan trọng nên tại đây địch xây dựng căn cứ Sư đoàn 7 Ngụy. Vượt kênh mau lẹ và an toàn không sự cố gì, đoàn tiếp tục hành quân.

Hai giờ sáng đến xã Bình Phú, huyện Cai Lậy Bắc, tỉnh Định Tường. Bình Phú mới được giải phóng khoảng bốn tháng trước. Đang đêm mà bà con không biết sao ra đón. Người cho quả dừa, quả cam, nải chuối, người cho bánh kẹo… ấm áp quân dân. Đoàn di chuyển ngay vì trước khi trời sáng còn phải vượt kênh Mười Hai và lộ Mười Hai.

Rồi cũng đến Kênh 12. Bên cạnh kênh là con Lộ 12 chạy song song. Đoàn dừng lại làm khâu chuẩn bị, tư trang cá nhân bỏ vào túi ni lông buộc túm làm thay phao, trừ vũ khí để ngoài. Nơi làm công tác chuẩn bị cách mép kênh chừng năm mươi mét, sát bờ kẽm gai Khu Trù Mật 12 của Ngụy. Tôi tự hỏi sao lại vượt ở chỗ rất nguy hiểm này.

Tôi và hai đồng chí nữa được gọi lên đầu để đưa Bà nữ tướng qua bằng xuồng cao su bơm hơi của Thủy quân lục chiến Mỹ. Chuẩn bị kéo xuồng cao su ra bờ kênh thì trinh sát bỗng quay lại: “Có tàu địch sắp chạy qua đây”! mọi người trong đoàn không hiểu lý do gì chạy dồn về phía sau, tôi nói nhỏ mọi người bình tĩnh.

Khoảng năm phút sau tàu địch tuần tra tới sáng rực cả khúc kênh. Nhìn đồng hồ đã ba giờ sáng. Trinh sát báo lại an toàn, tôi kéo xuồng xuống nước. Ôi sao con kênh này nước lạnh thế! Đưa Bà và hai cán bộ lên xuồng cao su, Bà lên xong tôi bỏ hai máy PRC25 lên, chúng tôi bơi dưới nước đưa xuồng chở Bà qua kênh rồi đưa Bà vượt lộ 12. Tới vị trí an toàn, tôi bảo bốn người đứng đấy cảnh giới bảo vệ Bà còn tôi quay lại hỗ trợ các cô trong đoàn.

Sang phía Đông là một vùng rộng lớn vừa thuộc về ta. Bốn xã thuộc huyện Cai Lậy Bắc vừa được giải phóng. Trong đó ba xã Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Hội là nơi năm 1963 diễn ra Chiến thắng Ấp Bắc làm tốn nhiều giấy mực Thế giới… bấy giờ và mãi mai sau.

Tôi thấy nếu đoàn của Bà trú quân ở xã Mỹ Hạnh Trung này không ổn, ven các con kênh nơi làng ấp của dân bị bom pháo tàn phá rất trống trải. Người dân mới trở về dựng lều ở giữa cánh đồng. Nghi ngờ là máy bay địch sẵn sàng xả rốc két hoặc đạn 20ly. Tuy là vùng Giải phóng nhưng mọi nhu yếu phẩm từ thượng vàng hạ cám đều phải ra vùng địch để mua. Quân dân nơi đây ăn mặc lẫn lộn khó phân biệt…

Tôi báo với Thủ trưởng đoàn là nhân lúc trời chưa sáng ta đi về phía Bắc sang xã Mỹ Phước Tây, ở đó có lâm. Chỉ huy đoàn thấy tôi báo có lý. Vậy là mặc dù thức trắng đi suốt đêm qua nhưng do tính chất bảo mật đoàn lại di chuyển tiếp.

Đường hành quân đến Mỹ Phước Tây chúng tôi đi giãn cách, bên con kênh đào từ thuở xa xưa người Việt mở cõi lập ấp lòng tôi thấy bồi hồi.

Đến nơi Du kích và Bộ đội địa phương khẩn trương làm lán cho đoàn dưới tán những cây bầu, cây tràm. Chỉ huy báo cho chúng tôi cảnh giác “Thiên nga Phượng hoàng” trà trộn.

Lán đã dựng xong, trinh sát khu được trở về đơn vị, bổ sung đơn vị khác đến tiếp quản bảo vệ vòng ngoài. Sáu anh em tôi vẫn nhiệm vụ như cũ, nhưng lần này phải bốn người trực bảo vệ, chỉ được hai người ngủ thôi.

Mặc dù là vùng Giải phóng nhưng bầu trời, con kênh vẫn là địch kiểm soát. Không được có sai sót. Trên bầu trời cào rồ và đầm già ve ve soi mói, nghi ngờ là gọi máy bay các Chi khu đến dội pháo ngay. Nhiệm vụ chúng tôi căng mắt với mọi hành động cử chỉ người qua lại, mọi thứ xung quanh. Đầu óc luôn tỉnh táo phản ứng nhanh với với bất cứ ai được phép tiếp xúc với Bà.

Các nữ quân Giải phóng trong đoàn đi tắm giặt còn chúng tôi mọi di chuyển làm việc của Bà bốn anh em đều luôn bên cạnh. Cả ngày căng mình công việc của một vệ sĩ, để ý nhất cử nhất động xung quanh, đến chiều tôi mới được chợp mắt chưa đầy hai tiếng đồng hồ lại dậy chuẩn bị cho lộ trình công tác. Đêm nay đoàn vượt lộ 4 xuống Cai Lậy Nam, sang Châu Thành Nam.

Từ Mỹ Phước Tây, qua Mỹ Hạnh Trung rồi đến xã Tân phú. Hai mươi giờ đoàn tạm nghỉ dừng chân chờ cho trinh sát bám đường cho đoàn vượt lộ 4. Trên lộ 4 các loại xe ngược xuôi nối đuôi nhau, xen lẫn xe nhà binh ngụy tuần tra. Hơn 23 giờ đoàn mới qua được hết.

Đến Cai Lậy Nam thì trời đã sáng. Vùng đất Cai Lậy Nam đã hoàn giải phóng nên đi được cả ban ngày. Di chuyển trên kênh có cây dừa nước và cây trâm bầu che chở. Đến một nơi hai bên kênh có dân sinh sống, đoàn tạm nghỉ ngơi lấy sức hành quân. Bà con bổ dừa cho uống, thấy đoàn công tác chủ yếu là nữ bà con tỏ ý rất thương.

Mười một giờ trưa đoàn đến xã Long Hưng, Châu Thành Nam, quê hương của Nữ anh hùng liệt sĩ Lê thị Hồng Gấm. Nơi làm việc của Bà là nhà ông Hai Long một Cơ sở Cách mạng, còn chúng tôi ở kế nhà bên em của ông Hai Long, tên là ông Tư Đẩu.

Xã Long Hưng được coi như là an toàn khu 8. Lúc này chỉ cần hai chiến sĩ Đặc công luôn ở cạnh bảo vệ Bà. Anh em tôi lần lượt được tắm rửa bùn đất. Sau hai ngày ở nhà ông Hai Long, chúng tôi đưa đoàn sang Châu Thành Bắc. Tại đây bàn giao nhiệm vụ bảo vệ Nữ tướng cho đơn vị khác. Sáu anh em tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Bữa cơm chiều chia tay Bà cùng với các nữ chiến sỹ thư ký, thông tin, y tá, hậu cần… vui rôm rả với tiết mục văn nghệ của hai bên. Tôi nhớ nhất bài hát “Anh nuôi” của bộ đội được các cô hát bằng giọng Nam bộ dễ thương. Sau cùng sáu anh em hòa cùng cả đoàn, cả Bà Nữ tướng hát bài “Giải phóng Miền Nam”.

Vậy là chuyến tháp tùng bà Nữ Tướng không chút nào trở ngại. Chỉ một kỷ niệm nhớ đời, tôi không dám nhắc mà các cô gái trong đoàn lại nhắc, bằng một cách rất đặc biệt… là tiết mục vở kịch tự biên tự diễn của chính cô Giải phóng gặp sự cố, vở kịch có tên “Chuyện vượt kênh Băng Dầy”.

Cười… thương, phục đến vô cùng thân gái các cô. Và trước người phụ nữ kiên cường là Bà chúng tôi thấy mình bé nhỏ. Lại những cái hôn dạn dĩ, giờ thì chúng tôi ai cũng muốn được các cô hôn, trong ánh mắt bà Nữ tướng như mẹ hiền… Lưu luyến bao lời hẹn gặp ngày chiến thắng.

Đất nước hoàn toàn Giải phóng. Tôi có cơ may gặp bà lần thứ hai tại Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh nơi tôi công tác. Lúc này Bà nữ Tướng là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam. Bà đến thăm nhà trẻ Hoa Sen do Thụy Điển giúp ta xây dựng không hoàn lại.

Đoàn công tác của bà đến trên chiếc xe cà tàng Latvia từ thủ đô Hà Nội. Lãnh đạo tỉnh mời Bà lên chiếc xe sang trọng của Nhật nhưng Bà từ chối.

Tôi nhận ra ngay dáng Bà như đêm hôm nào qua ánh pháo sáng nơi kênh Dương Văn Dương. Là dáng mẹ lo toan… Bà vẫn chân chất chiếc áo bà ba, khăn rằn vắt vai quấn cổ.

Hồi hộp từ lúc biết đoàn sẽ đến… Tôi có hỏi Bà (lúc ngồi trên xe cùng đoàn) còn nhớ chuyến công tác Bà đi thị sát chiến trường Tây Nam Bộ trong Kháng chiến không?

Bà trả lời: “Đó là chuyến đi đáng nhớ nhất đó con”!

- Vậy Bà còn nhớ Sáu Dân, và chuyện vượt kênh Băng Dầy không?

Bà trả lời: “Có chứ! Sáu Dân có cho một cô gái mượn quần bị trôi tụt trong sình lầy”.

- Vậy Sáu Dân đang trước mặt Bà đây…

Tôi chỉ nói được có thế, nghẹn ngào. Cả đoàn cười ầm, không khí trong xe vui vẻ.

Bà cùng cười, nét đôn hậu nguyên vẹn như ngày nào chiến trường Miền Tây “Tướng sĩ một lòng Phụ tử”… giọng Bà xúc động:

- Vậy là con hả Sáu Dân ơi! Hai má con lại gặp nhau rồi.

19/8/2023

Lưu Giang

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »