Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 1189 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chặng về chiến trường sông nước miền Tây

❊ ❊ ❊

Từ quê hương “Chiếc gậy Trường Sơn”

Mỗi bước chân đã không còn cảm giác

Mỗi bước chân như xuất phát từ tim…

Trạm nghỉ đầu tiên trên cung đường Giải Phóng (Miền Đông) tôi tỉnh dậy khi những tia nắng luồn qua kẽ lá. Nhớ lại đêm qua khi đến đây mệt nhoài không còn sinh khí, người lính như bóng đen di động, thao tác công việc như một cái máy, treo ba lô, vít cây rừng sờ tìm… mắc võng màn, ôm người bạn hiền AK47 ngủ say như chết là bí quyết để hôm nay lại tràn trề sức lực.

Nơi đây hình như gần nơi chiến sự, đêm nghe tiếng pháo đề ba, còn giờ đây trên cao lũ giặc trời L19- OV10 quần đảo. Mặc kệ, dưới tán lá dày vẫn là buổi sáng bình yên. Có tiếng chim kêu đàn. Ước gì có cánh như chim. Một thoáng da diết nhớ gia đình, quê hương… tôi vùng dậy.

Bao quanh trạm khách là con suối cạn lội sâu không quá mắt chân, dọc theo con suối có rất nhiều hố dự trữ nước đã đào sẵn. Lệnh xuống: nghỉ hai ngày tắm giặt, làm công tác chuẩn bị tốt nhất cho những ngày tới hành quân bộ.

Ngày nghỉ đêm đi, chúng tôi bỏ dần phía sau những cánh rừng già nguyên sinh, nối tiếp là rừng le rừng lồ ô, rồi rừng cao su bạt ngàn… Đường hành quân càng vào sâu càng khó khăn. Lương thực toàn lạc, đỗ xanh, chỉ có 20% gạo, thức ăn chủ yếu muối trắng với một ít cá khô… Nơi đây xa Trung ương, công tác hậu cần do các nhà Tư sản cách mạng giúp đỡ. Họ mua bất kể hàng hóa miễn là nuôi sống được bộ đội… nhiều đồng đội tôi xuất hiện căn bệnh kiết lị. Giao liên dẫn đoàn bảo các đồng chí vẫn còn may mắn “có mà ăn”, chứ những năm 70-71 chạy càn, bộ đội toàn măng rừng chấm muối trừ bữa… vẫn bám trụ, bám thắt lưng địch mà đánh, bảo vệ an toàn Chiến khu D.

Đến trạm khách Lộc Ninh Đồng chí bê trưởng thông báo chúng tôi đem một số quân khí bàn giao cho bình trạm đổi lấy AK47. Vui mừng vứt bỏ được cái cuốc chim, vậy là trong ba lô chúng tôi chỉ còn quân tư trang cùng hai cân gạo Bác Tôn cho lúc lên đường.

Toàn đoàn hành quân về Lò Gò Xóm Giữa, thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông. Đại đội 2 đi trước bổ sung cho Quân khu 8, số còn lại nhận thêm quân từ các trạm Thu dung và những người tù Cộng sản đầu năm 1973 được trao trả ở Lộc Ninh, theo tiêu chuẩn được về miền Bắc nghỉ dưỡng xong họ tình nguyện trở lại quê hương chiến đấu.

Từ đất Campuchia lần lượt trong đơn vị xuất hiện nhiều người ốm do ngã nước, những cơn sốt rét ác tính hành hạ. Tại binh trạm K30b Trung đội tôi có đồng chí Nguyễn Hữu Hộ sốt ôm đầu co giật. Anh Khoát y tá rút nhiệt kế buông câu “kịch”! (sau này khi bị sốt mới biết kịch là 42 độ), và bảo thay cho Hộ bộ quần áo mới… Ai cũng hiểu là nếu chết thì anh được mặc quần áo mới. Hai đồng đội cáng võng đưa Hộ về binh trạm, đơn vị tiếp tục hành quân. Tôi nhìn theo cánh võng xa dần, thoáng liên tưởng cả đàn chim đang bay có một con dừng lại.

Đường hành quân đi qua năm tỉnh. Trên đất Campuchia chúng tôi vượt sông Mê Kông hai lần, vì trước khi về Việt Nam sông Mê Kông tách ra làm hai nhánh là Tiền Giang Hậu Giang.

Dọc theo tuyến biên giới là những cánh đồng hoang, đêm xuống bầu trời tối đen như mực, tiếng kêu của những con côn trùng đủ loại như một bản hòa tấu đánh thức mọi giác quan người lính hành quân. Căng mắt lên bám sát đội hình. Chúng tôi qua thị trấn Túc Mía, dừng chân ở trạm khách Rừng Tre. Nơi đây trước là buôn sóc làng bản người Khmer tỉnh Kampot Campuchia. Làng không một bóng người. Cạnh trạm khách có một ngôi chùa to kiến trúc cổ kính không có người trông nom. Nhìn xa về hướng đông đất Việt Nam, một dải màu xanh, các đồng chí Giao liên chia sẻ ấy là dòng kênh Vĩnh Tế.

Hành quân đã gần năm tháng. Tại đây Trung đoàn 3 Quân khu 9 lên nhận Tân binh. Các đồng chí cán bộ khung từ cấp Đại đội trở lên trở về miền Bắc tiếp tục công tác huấn luyện. Các anh chỉ huy người Nam Bộ đến nhận quân động viên chúng tôi: các em cố gắng hành quân một chặng đường nữa về tới đơn vị chiến đấu, ở dưới đó rất khỏe, tôm cá trái cây gạo nhiều… không lo đói.

Lộ trình ngắn nhất là qua tỉnh Kiến Phong Kiến Tường nhưng do yếu tố khách quan, cách đây mấy tháng đoàn tân binh sinh viên các trường đại học Hà Nội hành quân về chiến trường Miền Tây qua đây bị phục kích tất cả hy sinh, cùng thực tế chiến trường Sư đoàn 5 quân giải phóng đang tác chiến khu vực lộ 4… Đoàn chúng tôi đổi hướng hành quân.

Buổi họp đầu tiên với chỉ huy mới, chúng tôi được các đồng chí quán triệt hành quân theo đường 1C và được khuyến cáo qua nhiều cung đường phải bám lộ vượt sông, luồn qua ấp chiến lược còn gọi là vùng trắng, do vậy đòi hỏi người chiến sĩ thực hiện nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến trường. “Tuân lệnh như sơn”, và ngay hôm nay đồng chí nào không biết bơi hoặc bơi kém tập trung một nhóm riêng để học bơi cấp tốc.

Những đồng đội chúng tôi đã biết bơi được lệnh của trên mang hai cân gạo Bác Tôn cho lúc lên đường đi B mang ra nấu thành cơm, rang thành bỏng. Binh trạm phát cho mấy khoanh đường thốt nốt trộn vào làm lương khô.

Ngày chờ đợi về Đất Mẹ đã chín… đêm nay chúng tôi bắt đầu hành quân. Qua cánh đồng hoang sình lầy, cỏ lác mọc cao quá đầu người, quần đùi áo cộc đồng đội bám lưng nhau lội về phía trước. Trên truyền xuống tạm dừng chân, càng đứng người càng lún sâu xuống bùn, khổ nhất là những anh có chiều cao bất lực… Sự chờ đợi đã trở lên nóng ruột bỗng nhiên có lệnh: “địch quân phục kích, chạy nhanh về đất Campuchia”. Đêm đầu tiên về Đất Mẹ không thành.

Lần hai chúng tôi hành quân theo hướng đi khác vượt sông. Trong màn đêm tối đen như mực, “Ánh sáng hỏa châu” của ngụy quân bắn lên chiếu rõ lô cốt của chúng cách bến chúng tôi vượt không quá bốn trăm mét.. Bên kia sông ánh đèn pin nhỏ như đom đóm là ám hiệu an toàn cũng là mục tiêu định vị để chúng tôi bơi tới. Nước sông sâu triều cường mạnh, tôi đang bơi ở phía trước thì nghe người bạn cùng quê Phan Trung Hoan kêu “Cứu tôi với”! Ngoảnh lại khẩu B41 đã rời khỏi Hoan chìm xuống đáy sông. Một bóng đen như con cá sấu lao nhanh tới bụm mồm Hoan không cho kêu, tôi nhận ra anh Đoàn trưởng Bảy Đấu, vừa bơi anh vừa đẩy đồng đội tôi qua sông. Lên bờ chúng tôi chạy một mạch khoảng ba trăm mét mới dừng đợi thu quân. Toàn đơn vị vượt sông an toàn nhưng để lại dưới lòng sông một khẩu B41 hai khẩu AK47.

Đến rồi đất mẹ Miền Tây. Hành quân vào sâu U Minh Thượng rừng thiêng nước độc sình lầy, ba trạm khách chúng tôi ăn gạo rang. Một đêm vượt kênh 8000 xã Bình Sơn tỉnh Long Châu Hà. Bên bờ kênh là ấp chiến lược Nam Thái Sơn, cái tên là do người dân vốn từ các tỉnh Nam Hà - Thái Bình - Sơn Tây di cư vào Nam từ trước 1954 bị dồn về ấp chiến lược nhưng một lòng theo cách mạng.

Vượt kênh, khi đơn vị ngồi nghỉ chân dưới cánh rừng tràm cách Nam Thái Sơn mười lăm kilomet, lần đầu tiên người lính trẻ nhận nhiệm vụ cùng đồng đội đêm nay quay vào ấp chiến lược Nam Thái Sơn lấy gạo. Ngâm mình dưới sình lầy chờ đợi… Khoảng hơn mười giờ đêm một ánh đèn dầu lẻ loi xuất hiện, chúng tôi lặng lẽ bò vào nhà dân, nhìn đống gạo to trắng tinh giữa nhà mà trong lòng phấn khởi, lấy mũ cối vục đầy balo, không quên xốc lên lèn chặt, chạy một mạch đến điểm chém vè chờ tín hiệu thu quân.

Nghỉ một ngày, đêm nay chúng tôi đến vùng đất Ba Thê chém vè dưới một rừng tràm thưa cây, rất may có nhiều bụi cỏ rậm rạp. Ngồi thu mình trong bụi cây gai, ăn gạo rang uống nước ruộng… mong sao ông trời chóng tối để bơi qua một con kênh rồi vượt lộ Cây Sắn. Đợi đến mười hai giờ đêm lệnh truyền xuống: Địch đang phục kích. Vậy là ta ở thế lưỡng nan, lùi không được tiến cũng không xong… Đến ba giờ sáng có tín hiệu đèn an toàn. Bơi qua kênh, vượt qua lộ Cây Sắn, vừa đi vừa chạy đến năm giờ sáng đơn vị dạt vào một dải vườn giữa cánh đồng bỏ hoang do người dân bị dồn vào ấp chiến lược.

Cảm thấy có điều gì không ổn, người lính trèo lên cây dừa nhìn xung quanh thấy rất nhiều đồn bốt của địch, xa xa toàn treo cờ ba que. Rồi đúng như linh cảm, tiếng súng AR15 bắt đầu nổ, anh em nhìn nhau chưa biết chuyện gì xảy ra thì tiếng đồng chí chỉ huy: “Giao liên đang nổ súng kìm chân địch, toàn đơn vị sẵn sàng chiến đấu”! Pháo địch bắn như mưa vào đội hình, không hiểu loại đạn gì nổ trên cao, chặt gãy ngọn cây dừa cây xoài rồi tỏa ra nhiều mảnh đạn lao xuống đất. Đồng chí chỉ huy hét lên: “Pháo chụp”! Và bảo “các đồng chí lấy dao găm đào hầm ếch dưới bờ kênh”.

Nhiều đồng đội đã hy sinh và bị thương. Trung đội tôi có anh Tuyến bị thương đang giãy giụa dưới gốc cây mãng cầu, tôi lao đến. Mảnh pháo cắm vào mắt anh, máu gần kín hết khuôn mặt. Vừa run lên vừa khóc tôi không tài nào băng được, một đồng đội lớn tuổi gạt tôi ra: “em đè hai chân cho nó khỏi giãy, để anh băng cho”. Không đồng đội nào bỏ người bị thương… xác định chết cùng chết như lời thề đồng đội.

Anh em bảo nhau vứt bỏ bộ quần áo màu xanh đen, mặc bộ quần áo cuối cùng, nếu không may chết coi như được mặc quần áo mới. Người đồng đội bị thương máu chảy ra nhiều, không còn sức để kêu đau nữa, anh thều thào: “Sâm ơi sau này đất nước thống nhất nếu còn sống trở về, anh nhớ về quê tôi nói giúp vợ con tôi và gia đình hôm nay là ngày giỗ của tôi”! Muốn nói vâng mà nghẹn ngào tôi không nói được.

Chúng tôi những người còn sống trở về luôn đặt ra câu hỏi sao hôm đó chúng ta được sống? tại sao chúng chỉ bắn pháo đến mười hai giờ trưa rồi không đưa xe tăng và quân đến bao vây? trực thăng cũng lượn vài vòng bắn vài quả rocket rồi đi?… Sau này vào thăm lại chiến trường xưa, qua giao lưu với đồng đội là những người bảo vệ con đường 1C An Giang ngày ấy chúng tôi mới có câu trả lời. Các anh nói để bảo vệ mạng sống cho cả đoàn, Cách mạng phải chi bốn mươi cây vàng cộng cả mua súng đạn cho vợ một tên Thượng cấp chế độ Việt Nam Cộng Hòa, để nó điện cho cấp dưới “có mấy thằng du kích nhằm nhò gì đừng bắn nữa phí đạn”… Câu chuyện như huyền thoại của cuộc chiến tranh là bằng chứng không thể tính hết những cống hiến hy sinh sức người sức của, để thời hậu chiến đất nước đứng lên từ đống tro tàn.

Đoạn đường còn lại tới chiến trường chúng tôi hành quân tới huyện Giồng Riềng (Cà Mau), qua Bạc Liêu (Sóc Trăng) tới Trương Thiện vùng “da báo”, vượt sông Hậu Giang về chiến trường Vĩnh Trà (Vĩnh Long Trà Vinh). Dừng chân tại xã Thông Hòa huyện Cầu Kè, nơi đây chiến sự vừa im tiếng súng được ít ngày… Các đơn vị Trung đoàn 3 đánh địch lấn chiếm vùng Giải Phóng. Ta đã thắng và…

Bên kia kênh Ngang là năm mươi bảy ngôi mộ mới chôn hương khói còn đang nghi ngút, trong đó năm tư đồng chí Hải Hưng vào chiến trường trước chúng tôi hai tháng… Các má khóc khi đón chúng tôi: “Tụi bay xem lại đi, đánh đấm thế này còn người đâu mà đánh”! lũ tân binh ngơ ngác quặn đau.

Từ quê hương “Chiếc gậy Trường Sơn”,mỗi bước chân đã không còn cảm giác, mỗi bước chân như xuất phát từ tim. Hành trình đến chiến trường như ra biển mênh mông, sóng sau lớn hơn sóng trước… Quê hương ơi người lính hứa không chùn bước. Lá xanh sẵn sàng dâng hiến một Mùa Xuân.

Ấm áp cái bắt tay thật chặt của người chỉ huy: “Đồng đội, bà con cô bác chiến trường Vĩnh Trà đang chờ đợi đón các đồng chí”…!

z(Kính tặng CCB Phan Trọng Sâm)

z30/3/2023


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »