Từ hôm qua cơn gió lạnh cuối mùa lại tràn về, mọi người ai cũng xuýt xoa “Rét nàng Bân năm nay sao mà lạnh vậy”…?
Sớm mai thức dậy thấy người cha chín mươi mốt tuổi vội vàng mở tủ, chắc cha tìm áo rét. Trong tủ có rất nhiều áo mà cha tìm rất lâu. Tôi dõi theo, lặng người khi cha bước ra mặc tấm áo màu cà phê nhạt. Gắn bó đã bốn mươi tám năm, tấm áo là vật kỷ niệm Cha tôi quý nhất. Món quà lần đầu tiên trong đời người con kính biếu Cha…
Ngày ấy Sài Gòn 30 tháng Tư 1975 tôi may mắn vinh dự có mặt, cùng đồng đội giây phút thăng hoa “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Mùng 1 tháng 5 năm 1975 đơn vị tôi được phân công tiếp quản ngôi nhà Lãnh sự quán Mỹ, nằm trên đường Nguyễn Huệ Quốc Lộ 4, thuộc thành phố Vĩnh Long hiện nay. Lãnh sự quán nguyên vẹn đồ dùng gọn gàng sạch sẽ.
Đêm bình yên đầu tiên về phố. Ba tháng trời bưng biền quần đùi áo cộc mà nay nằm trên nền gạch men hoa thao thức. Lạnh, không ai ngủ được dù đêm 30 tháng Tư ba giờ sáng đơn vị mới hoàn thành giải phóng Thị xã Vĩnh Long. Anh em dùng dao găm xé mỗi người một mảnh vải rèm treo cửa để làm chăn. Mảnh rèm cửa khá dày ấy đã đi cùng người chiến sĩ giải phóng quân, là tài sản duy nhất trong chiếc ba lô, để đến tháng 9 năm 1975 được về nghỉ phép thành món quà biếu Cha may áo ấm.
Tôi biết tấm áo ấy bên Cha, qua bao mùa Đông giá lạnh đất nước còn nghèo, thiếu thốn miếng cơm manh áo. Cha chỉ mặc tượng trưng, nâng niu gìn giữ. Để mỗi khi mặc lại, ánh mắt Cha như ngày Giải phóng tôi về.
Hồi tưởng từ tấm áo của Cha, nửa thế kỷ nhớ như in buổi chiều hôm ấy. Cuối tháng Mười hai năm 1972, người bạn thân cùng lớp nhưng hơn hai tuổi bảo tôi: “Hôm nay anh em mình làm đơn tình nguyện đi bộ đội”. Thế rồi chẳng đợi tôi trả lời, cầm lưỡi dao lam cắt ngay vào ngón tay trỏ, anh lấy máu viết đơn.
Không đủ can đảm để làm theo anh. Với cây bút Trường sơn màu mực xanh Cửu Long tôi viết đơn nội dung trình bày: “Nhìn làng quê mình ngày nào cũng có lễ Truy điệu các bác, các anh hy sinh ở chiến trường. Khát vọng đất nước tự do, nguyện vọng lên đường để trả thù cho cha anh”… Viết đến đây tôi nhớ tới cậu em mẹ tôi đã hy sinh, đón tin mẹ rũ rượi khóc, rồi mai này mẹ tiễn tôi đi… Rưng rưng tôi dừng bút.
Nhìn sang lá đơn của anh Phan Nhân Ái, chữ viết bằng máu nét đậm nét nhạt, lời anh thống thiết… tôi thấy chạnh lòng. Tôi nghiến răng nhắm mắt cắt đầu ngón tay lấy một chút máu đủ để ký họ tên mình.
Hai anh em mang đơn lên gặp bác Phan Như Thử phụ trách công tác tuyển quân của xã. Nhìn qua đơn bác nói luôn: “Cậu Ái gia đình có hai anh là Liệt sĩ, nhà nước chưa có chủ trương gọi người em”. Còn tôi tuổi mới mười bảy tuổi “Bác sẽ gửi đơn của cháu lên cấp trên xem xét”!
Và bác tiếp: “Đơn của cậu Ái tôi giữ lại để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước cho thế hệ tiếp theo”.
Niềm vui có giấy gọi đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng lo âu lại đến với tôi: tuổi mười bảy cao một mét sáu lăm nhưng chỉ nặng ba chín kilogam. Tôi được các anh lớn tuổi tư vấn khi nhảy lên bàn cân nhấn mạnh ở mép ngoài của cân.
Ba ngày trước khi lên đường chúng tôi những người chưa là Đoàn viên được kết nạp Đoàn viên. Chi đoàn cho cắt một ao rau muống mua quà cho mỗi Đoàn viên lên đường đợt này một quyển sổ, một cây bút Trường Sơn.
Huấn luyện chúng tôi được biên chế vào c3 d790 e12 tỉnh đội Hà Tây. Công việc tổ chức vừa mới tạm ổn thì tôi được đồng chí Trung đội trưởng thông báo “Đồng chí chuẩn bị quân tư trang đi công tác”. Chao ôi trong lòng tôi lo lắng: “nếu bị trả về địa phương biết nói sao đây”…? Ngày ấy những người đào ngũ, những người không đủ sức khỏe… người dân làng quê coi thường thậm chí nói những câu miệt thị.
Nhưng không phải bị trả về quê, tôi được đồng chí Đại đội trưởng Bùi Đăng Thử thông báo “Từ giờ phút này đồng chí là liên lạc Đại đội”. Hàng ngày tập luyện như anh em, buổi tối tôi lên Tiểu đoàn lấy thư lấy báo.
Công việc của tôi là lấy thư từ đem về rải dưới gầm giường có độ ẩm cao, sáng mai cùng đồng chí Chính trị viên phó bóc đọc kiểm tra. Lá thư nào gia đình động viên con em phấn đấu rèn luyện phát huy truyền thống gia đình quê hương, được dán lại phát đến tận tay chiến sĩ tại thao trường. Các thư gia đình kể khổ, hoặc nói tuần tới xin phép tranh thủ về mấy ngày nhà có việc… được đồng chí Chính trị viên phó “xử lý”. Thời buổi đất nước có chiến tranh, tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ.
Sau gần ba tháng huấn luyện bắt đầu tập dã ngoại, tối nào cũng đeo mười lăm đến hai mươi kilogam gạch hành quân đi bộ đường dài, chúng tôi đều hiểu ngày đi B sắp đến.
Đúng như nhận định của Chính trị viên trưởng khi anh bảo tôi: “Hôm nay có cuộc họp ban chỉ huy mở rộng, đồng chí vào dân mượn thêm vài cái ghế”… trong cuộc họp đồng chí Đại đội trưởng thông báo Đại đội tôi được cấp trên khen thưởng với thành tích bắn đạn thật và ném lựu đạn hơn 90% khá giỏi. Đồng chí bảo Chính trị viên phó thảo một Báo cáo thành tích trong ba tháng huấn luyện, giao cho tôi làm đem về báo cáo với Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Quốc Oai.
Phấn khởi. Sau hơn hai giờ đạp xe tôi đã về tới huyện nhà. Không gặp được đồng chí Chủ tịch Dương Văn Đãng đang đi công tác tôi được gợi ý gặp đồng chí Bí thư. Xem qua Công văn của đơn vị, Bí thư huyện ủy trả lời luôn: “9 giờ sáng thứ Sáu, lãnh đạo Huyện, Ủy ban nhân dân sẽ vào đơn vị trao lá cờ truyền thống của quê hương xứ Đoài cho đơn vị các đồng chí”!
Đúng hẹn, hơn một trăm năm mươi cặp mắt Tân binh quê tôi ngời sáng đón lá cờ thêu dòng chữ “Quốc Oai kiên cường Cách mạng”.
Xin mượn một khoảnh khắc Lịch sử diễn để tả cảm xúc của chúng tôi khi ấy: Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
(Kính tặng Ccb Phan Trọng Sâm)
13/3/2023