Miền Bắc gọi là hoa gạo.
Tôi đến Tây Nguyên giữa mùa hoa gạo, những thân cây đỏ rực trên nền trời là nơi ấy có bản làng người Thượng.
Kontum lần đầu chúng tôi gặp người dân, từng đoàn bước đi lầm lũi, ngực trần. Đàn ông mặc khố, phụ nữ váy dài. Những bông hoa Pơ Lang đây sao? Tóc vàng cháy, bù xù, làn da đen kì lạ.
Trạm cuối cuộc hành quân. Sau đêm leo dốc Kon Tum là trận mưa đầu mùa dữ dội. Chúng tôi đã phải đau đớn tiễn đưa thằng Hùng, người chiến sĩ ấy vừa hoàn thành nhiệm vụ vượt Trường Sơn. Cành cây săng lẻ gãy rơi trúng võng nó nằm. Có những mất mát thật vô nghĩa. Cũng như trận bom B52 trên đường Trường Sơn đã cướp đi hơn trăm sinh mạng đoàn Tân binh. Khó chấp nhận nhưng không làm chùn bước, yên nghỉ nhé, chúng tôi sẽ chiến đấu thay các anh.
Nhận quyết định về Đại đoàn Đồng Bằng, mấy tháng đi bộ nữa sao? Tôi đã quen với quân lệnh như sơn, không hỏi. Và niềm vui vô kể khi chỉ một giờ sau là chúng tôi đến Sở chỉ huy Sư đoàn. Thì ra cái tên Đoàn đồng bằng có từ thời chống Pháp. “Quả đấm thép” anh hùng f320 của tôi, thấy mình lớn hẳn, Tây Nguyên là nhà tôi rồi.
Đi cùng anh Chính trị viên về Đại đội, Men theo con suối cạn mà xa xa vọng tiếng ùm oàng không ngớt, chút lãng mạn tự hào làm tôi mạnh mẽ lắm, bỗng nghe “véo” ngay trên đầu, nhanh như cắt tôi nép mình vào bạnh cây săng lẻ và đỏ mặt trước sự bình thản của người anh sạm màu nắng gió. Anh quay lại cười hồn hậu: “Nhanh nhẹn thế là tốt”… Tôi mơ ngày mình dày dạn như anh.
Gia đình mới của tôi là Trung đội mười lăm người. Quá khác các anh với bộ quân phục còn màu xanh và nước da chưa màu sốt rét, các anh cưng tôi như thú cưng mà trêu chọc đủ kiểu. Nhẹ nhất là đang ngủ: “Dậy dậy… dậy ngủ lại đi”.
Đêm gác đầu tiên vô cùng đáng nhớ, gặp con hươu đáng ghét đi tìm bạn sột soạt mà tưởng là thám báo. Đến khi nghe nó hoác mới thấy như mình sống lại, tôi bèn làm nó giật mình đâm đầu lao đi mà thấy hả hê vô cùng, mới biết mình… ướt quần. Im thít, các anh mà biết thì không biết trêu sao nữa.
Tôi nhận khẩu M79 chiến lợi phẩm của Mỹ và cùng nó gắn bó đến ngày Giải phóng với nỗi lòng: cứ sau trận đánh là đi thu nhặt đạn của phía bên kia và ra về nặng trĩu, nhìn các anh nhẹ nhõm mà thèm. Vậy thôi chứ hãnh diện lắm khi anh Thanh, Trung đội trưởng bảo: “Hỏa lực mạnh anh giao cho em đấy”!
Sau trận đầu nghe đạn nổ quanh mình, lại một lần “ướt quần” nữa, tôi thành lính chiến rồi. Đồng đội anh em cũng máu thịt như mình, người này che chở cho người khác. Thoáng nghĩ tới mẹ gửi lời xin lỗi nếu con không về… thế thôi.
Qua rồi mùa khô, mùa mà con suối cạn chỉ còn thỉnh thoảng vực nước nhỏ, lấy nước là công việc nguy hiểm vì lính ta cùng thám báo địch, hổ báo cáo chồn chung cả… Đột ngột cơn mưa đầu tiên ập xuống là mùa mưa đến rồi.
Mùa mưa Tây Nguyên lạ lắm, giờ thì nhiều nước quá, mưa xối xả đêm ngày. Muỗi vắt sinh sôi. “Cao nguyên lộng gió” không đẹp như trong câu hát.
Những con ngầm con suối sống lại, đất bazan thành bùn lầy, đường vận tải tắc nghẽn. Chiến lợi phẩm thu được đã cạn, giờ mỗi bữa hai lưng cơm, cái đói cồn cào ngày càng tra tấn cậu lính mới là tôi, bụng lúc nào cũng sôi như nồi bánh chưng. Nhiều đêm nhớ mẹ, nước mắt cứ ở đâu tràn về, ước nồi sắn luộc của mẹ, ước bàn tay mẹ vỗ về. Xa lắm rồi mẹ ơi, chắc giờ này mẹ cũng đang nhớ con… nghĩ tới đó lại thấy mình cứng cỏi.
Lần theo con suối hôm anh Chính trị viên đón tôi về, tôi đi khám phá núi rừng. Anh Thanh đưa tôi khẩu AK và dặn đường cùng mới được bắn, có câu “giặc Gia Lai”, nơi đây gần địch lắm. Anh bảo hướng Tây là vùng Giải phóng, bao giờ Giải phóng toàn bộ đất nước tôi sẽ về kể cho bọn bạn nghe về Tây Nguyên. Chùm Phong lan đung đưa khoe sắc bên suối kia tôi đem về cho tụi con gái trong lớp, chúng nó hẳn là thích lắm và sẽ khâm phục tôi.
Đang vui chân bỗng nghe mùi hôi lạ, anh dặn mùi măng chua là hổ và phải trèo lên cây, mùi này chắc không phải hổ rồi, tôi nép vào gốc cây quan sát. Thì ra là một bác người Thượng, trên mình độc cái khố, da đen bóng, miệng ngậm cái tẩu tự chế nhả khói khét lẹt, vai vác con dao to (sau này mới biết gọi là dao gá). Trông bác như một vị thần núi rừng. Tôi lễ phép: “Cháu chào bác ạ”. Chả đáp lại, bác đi sát tôi mà con dao sáng loáng làm tôi ớn lạnh nghĩ chỉ cần bác vung tay một phát là cái đầu chẳng còn… Thở phào khi bác đi qua với con dao vẫn trên vai, khi về thật thà kể về nỗi sợ ấy tôi bị các anh trêu đến phát khóc.
Mùa mưa ít đánh trận. Lính tỏa đi vào rừng “cải thiện”, ngoài măng lồ ô chấm mắm kem thì ngon hơn là củ cọc rào, giống củ mài nơi đất Bắc, mỗi dây chỉ một củ cắm thẳng sâu hơn mét. Vừa ốm dậy cố gượng đi cải thiện, tối qua anh Huy không về. Một đêm không ngủ, sớm hôm sau chúng tôi tìm thấy anh nằm bên hố cọc rào đào dở, nâng anh lên thì ôi thôi, mối “phóng lựu” (các anh gọi thế), loại mối to bằng đầu đũa đã ăn hết phần thịt anh nằm giáp đất… ôm anh tôi khóc nghẹn, người anh Tiểu đội trưởng hay cười của tôi.
Hôm nay Tiểu đoàn cho phép vào dân xin rau, nghĩ tới rau xanh mà thèm nhỏ dãi lại còn được gặp những “bông hoa núi rừng”. Thế là lần đầu tôi vào bản có tên là Làng Gà.
Hy vọng thật nhiều rồi tắt ngấm vì các cô gái ở đây cũng giống như tôi đã gặp trên đường hành quân, bù xù và đen nhẻm. Chẳng giống trong phim ảnh và chẳng hiểu sao ông nhạc sĩ nào có thể ví như hoa Pơ Lang. Nhưng tấm lòng người dân với bộ đội là có thật, vô cùng quý mến. Sau này tôi còn được tham dự nhiều ngày vui ngày lễ của buôn làng và lần nào cũng hưởng tình thương mến ấy.
“Bộ đội đi theo nó”! Già làng nói với tôi và “nó” là cô gái rất trẻ, qua làn da đen thì đó là một cô gái đẹp. Dân quý bộ đội thế đấy, đồng ý cho rau và cho một cô gái đẹp dẫn đường. Hơi ngượng vì cô để ngực trần. Nói chuyện thì dùng cử chỉ, cô chỉ cho tôi tránh những cái bẫy “thò” bắt thú, cho tôi thăm nhà nương nơi để lương thực chung của cả làng rồi đưa tôi ra vạt rau lang cuối rẫy ngọn vươn lên non mướt. Tôi vội cho mấy ngọn vào miệng, ngọt làm sao… Chẳng thể nào tưởng tượng được trong rừng mà lính cả năm không chút rau xanh.
Cố gắng lắm nhưng hái được nửa gùi thì chiều đã muộn, tôi trao em gói muối nhỏ anh Thanh đưa dặn làm quà cho đồng bào, em chỉ tay vào bụng tôi (để bộ đội ăn) rồi lắc đầu, mãi mới chịu nhận. Về đến đơn vị mới biết các anh cùng đi về đã lâu rồi và ai cũng chặt cứng một gùi. Họ bứt cả dây khoai dài về nhặt lá ăn còn tôi chỉ ngắt ngọn… Lại trận cười trêu thằng lính mới chắc mải ngắm hoa khôi buôn làng, tức mà phải chịu.
Chưa bằng một trận tôi bị thương vào cằm, hết băng nên anh y tá băng cho tôi cái băng bụng kín mặt và khi bị trêu “mất cằm” tôi đã khóc thật… Giữa mong manh sống chết người lính vẫn ước mơ một hạnh phúc gia đình.
Mùa mưa ấy đơn vị còn trồng lúa nương. Đi xa để giữ bí mật nơi đóng quân, chúng tôi mượn dân làng dao phát rẫy, giống lúa đồng bào san sẻ cho, phụ nữ buôn làng còn giúp tra lúa, bộ ngực trần héo hắt đung đưa nhìn thương không tả… Sau ba tháng thành quả là những bông lúa trĩu hạt, thế mới biết đất bazan màu mỡ. Tuốt lúa bằng tay đến chảy máu, người Thượng cũng làm bằng tay mà, vào buôn nhờ dân giúp sấy khô, rồi nhờ cối giã gạo.
Cái bụng đói của lính nhảy tâng tâng theo nhịp cối, khỏi nói sự háo hức của chúng tôi và thật tuyệt vời nồi cơm ấm tình đồng bào ấy. No cơm, anh em rủ nhau làm bún. Lính mà, các anh tôi gì cũng giỏi. Ngâm gạo rồi giã bằng mũ sắt của Mỹ, màn tuyn là rây, ống đồ hộp đục lỗ là khuôn ép bún và khi mẻ bún trắng muốt ra lò là tôi chỉ ăn bằng mắt, tôi sốt rét ba ngày rồi.
Thèm bàn tay chăm sóc của mẹ mà dâng đầy nước mắt. “Mày trụ được mấy tháng mới bị là giỏi đấy”, anh Tính nói như động viên khi dìu tôi đi viện. Tựa vào anh tôi chẳng thèm nghe, bước chân lê đi trong vô cảm, gần một ngày đường thì đến.
Sau hai mươi ngày nằm viện với những mũi Quy nín đau điếng người, bỏ được nạng tôi tập tễnh trở về đơn vị, tôi nhớ lắm các anh tôi. Nhớ lúc trêu chọc, nhớ bữa măng rừng. Cặp môi khô rộp bong da lộ màu tái thâm sốt rét mà tôi lại vui, tôi ghét các anh gọi tôi là “thằng gái”. Gạo nương tăng gia đã hết nhưng anh nuôi vẫn phần và nấu riêng cho tôi mấy bữa, đến bữa ăn ai cũng đứng lên trước cho tôi được phần nhiều… cảm động đến nghẹt thở.
Ba ngày khi tôi từ viện về là đơn vị có chuyện lớn. Anh Thanh lên Đại đội về kéo tôi xuống hầm gặng hỏi: “Hôm vào buôn xin rau, em có làm gì cô gái ấy không”? Làm gì là làm gì? Tôi còn ngớ ngẩn mãi mới hiểu, hôm vào làng xin rau tôi về muộn nhất với cái gùi vơi thỏm, nên anh nghĩ… Trời, vẻ hoang dã ấy em còn không dám đến gần, giấu nhẹm chuyện cô ấy ôm tôi phải đẩy ra. Mặt anh giãn ra, chắc anh lo cho thằng em là tôi lắm.
Trung đội vừa tập hợp dưới tán cây săng lẻ thì cũng là lúc Đại đội trưởng đến cùng già làng và một cô gái trẻ cái bụng lùm lùm. Cô đi ngó nghiêng từng người. Không biết các anh tôi thì sao chứ tôi sợ đến tái người, sợ cô ấy nhận nhầm.
Đột ngột cô gái đứng lại trước anh Chung, ngọng líu lô: “Cái bộ đội này đó, nó đổ nác mình”… và e thẹn cúi đầu: “nác nhìu lắm”. Không nói nửa lời anh Chung được đưa ngay về Sư đoàn. Hết lo và buồn cười không nhịn được tôi bị anh Thanh đá cho suýt khuỵu chân. Án phạt của làng là một tạ muối.
Ngay chiều hôm đó chúng tôi bị Chính ủy Trung đoàn xuống mắng cho một trận tơi bời. “Lúc nào cũng thấy chúng mày kêu đồng bào xấu, đen, hôi mùi thuốc, thế mà còn… rúc đầu vào” (không ai dám ho he), “giờ cho chúng mày nhịn muối một tháng cho nhớ đời”… Lát sau qua cơn thịnh nộ, Chính ủy cho chúng tôi ngồi xuống: “Tao thương chúng mày lắm chứ. Có đứa năm năm trong rừng rồi. Nhưng tình cảm của dân không phải tự nhiên mà có”…
Ông kể về những Tiền bối gian khổ được đồng bào người Thượng tin yêu, được uống máu ăn thề, được theo phong tục cưa răng (dùng thanh lồ ô cưa cụt bốn răng cửa, chứng minh lòng dũng cảm, sự trưởng thành), họ sống trọn vẹn với mảnh đất Tây Nguyên, nhen lên ngọn lửa Cách Mạng, niềm tin Đảng Bác và ngày chiến thắng. Ngoài kia các ấp chiến lược của Mỹ với đầy đủ gạo muối, chúng mở các trận càn đốt sạch làng bản dụ dỗ dân vào, mà người dân chạy càn thứ đem theo đầu tiên là ảnh Bác rồi lại về treo lên chỗ trang trọng nhất nơi mái nhà dựng tạm bợ, bám trụ cùng bộ đội, chia sẻ hạt muối hạt gạo ít ỏi, làm rẫy vót chông bảo vệ buôn làng. Đồng bào quan niệm nơi có cây hoa Pơ Lang là nơi đất lành thần linh che chở.
“Từ nay chúng mày nhớ, đứa nào léng phéng, tao bắn bỏ đó nghe”! Ông về rồi chúng tôi mới dám: “Gì cũng mang tiếng rồi, mai vào buôn thực hiện luôn xem Chính ủy bắn được mấy thằng”? Ôm nhau cười rũ, tếu thế thôi, chúng con xin vái cả nón bố ơi.
Nghe nói anh Chung sau đó nhận làm rể buôn làng và bộ đội không bị phạt muối nữa. Phạt là lệ làng thôi chứ nhìn tôi cũng thấy cô gái quý anh. Và sau đó chắc anh vẫn cầm súng chiến đấu trên đất Tây Nguyên. Đối với người lính chúng tôi, ra đi với lời thề, thì không được chiến đấu bên đồng đội là hình phạt lớn nhất. Bên nhau bao gian khổ cũng vượt qua, niềm vui nhỏ bé cũng là kỷ niệm. Nhớ lúc hì hục chặt cây bứa có đường kính hơn chục centimet bằng con dao găm Liên xô bé xíu, chặt cả ngày mới đổ rồi xúm xít vặt lá như lũ vượn sau cái thèm của chua của những trận sốt rừng, bất chợt tôi cao hứng diễn đoạn chèo: “Thầy như táo rụng sân đình, em như gái dở đi tìm của chua đấy các bộ đội ơi”, làm các anh ôm bụng cười, cái tên “cô gái yêu” có từ đấy, gọi vậy thôi chẳng kém các anh chút nào.
Mùa mưa không đánh trận, tôi cùng mấy anh được tăng cường cho d18 thông tin. Dưới trời mưa như đổ nước, trên lưng mỗi người là bẩy cuộn dây hữu tuyến mỗi cuộn chín kilogam. Chẳng thể đi thẳng lưng, tôi liên tục đưa tay vuốt nước mưa có cả nước mắt… Mới biết đó là công việc hàng ngày hàng giờ của bộ đội thông tin. Dây hữu tuyến rải trong rừng pháo bắn đứt phải tìm nối kịp thời bất kể ngày đêm. Không ít hy sinh khi bị lũ thám báo cắt dây rồi gài mìn, phục kích.
Cũng chính vì những ngày này tôi mới hiểu và thương lính vận tải, nhất là chị em Thanh niên Xung phong, dù không phải nghe tiếng đạn veo véo trên đầu nhưng cái gian khổ có phần hơn cánh lính chiến. Tận mắt chứng kiến Tây Nguyên những ngày cuối năm Bảy hai sục sôi khí thế, các loại pháo mặt đất cỡ lớn được tháo rời từng bộ phận rồi trên vai người lính vận tải cùng chị em Thanh niên Xung phong khiêng vác, bộ đội xăng dầu cũng hối hả lắp đặt đường ống kéo dài.
Bước đi cùng “đoàn ngựa thồ”, lũ “tham mưu con” chúng tôi biết sắp có chiến dịch lớn (sau mới biết để giành thế chủ động trên bàn đàm phán). Qua mùa mưa về lại đơn vị tham gia những trận chiến đấu vô cùng ác liệt. Đánh nhanh, đánh mạnh, mở rộng vùng Giải phóng. Chúng tôi không biết gì đến ngày tháng và ôm nhau nhảy cẫng, vui mừng tột độ khi được thông báo Hiệp định Pari ký kết 27/1/1973.
Không ngờ ngày đất nước Thống nhất còn kéo dài hai năm nữa.
Chỉ là một quả pháo từ Hạm đội Hàm Rồng của địch bắn vu vơ trúng hầm, hai anh trung đội tôi đã hy sinh. Rồi sau mỗi trận đánh không bao giờ tôi quên những gương mặt các anh lần lượt không về. Nhưng với người anh Trung đội trưởng thì sự ra đi của anh là một phần hồn tôi ở lại. Trận đánh đồn Bản Đôn tôi thay anh nhận trách nhiệm với hơn chục bà mẹ gửi gắm đứa con yêu dấu của mình.
Một năm trong Tây Nguyên, chưa tròn mười tám tuổi tôi thành lính cựu. Lại một mùa mưa, đơn vị di chuyển đến hậu cứ Gia Lai, quân số lại được bổ sung đầy đủ đón mùa khô đỏ lửa, có anh hơn tuổi vẫn gọi tôi là anh. Trong bao đồng đội anh em vẫn có một “tri kỷ”, thằng Tiến kém tôi một tuổi, đi đâu làm gì cũng có nhau.
Tiếng cồng chiêng rộn rã từ làng Bò vọng tới, Tiến bắt tôi dẫn nó đi xem. Sân nhà rông hôm nay đông nghịt, một đám bắt chồng. Người Ê Đê theo Mẫu hệ, nhà gái trao lễ vật cho nhà trai rồi đón chồng về. Trai gái đua nhau nhảy múa. Hôm nay có mấy cô mặc áo, chiếc áo cộc tay hoa văn rất đẹp, đầu thắt mảnh vải nhỏ đỏ tươi. Còn phần lớn vẫn hồn nhiên ở trần, bộ ngực lắc lư nhìn thương mà thú thật rất buồn cười. Thấy bộ đội các cô mời vào cùng nhảy múa. Lại được mời uống rượu cần. Từ giã khi cuộc vui còn dở, trên đường về cu cậu cứ làu bàu: “Sao anh không cho em ở lại ăn cơm với đồng bào”? “Trời, mày có biết ăn bốc không”? Nó ngớ người rồi nhoẻn miệng vớt vát: “Rượu cần nhạt toẹt anh nhỉ”? Không nhịn được cười, nhìn nó như thấy thằng tôi một năm trước.
Hai anh em đi lấy măng, mùa mưa đây là thực phẩm chính. Tôi phải lòng cái sự hâm mộ nó dành cho mình, chỉ là lấy măng nó cũng thán phục. Nhặm nhuội rủ xuống sông Poko tắm mắt cu cậu sáng lên… chắc giống tôi ngày mới đến đây nghe tên Poko trong câu hát.
Dưới sông có người, hai cái lưng con gái lấp loáng. Lanh lảnh tiếng xứ Thanh: “Nhìn là mù mắt đấy”, đúng giọng đanh đá của các cô Thanh niên Xung phong Binh trạm 5 gần đó rồi. “Mình giấu quần áo trêu họ đi”, thằng Tiến có sáng kiến vậy nhưng tôi không đồng ý, tôi muốn làm quen với cái lưng trần ấy. Anh em tôi tạm lánh đi lát sau quay lại vừa đi vừa nghêu ngao hát (không các cô tưởng là thám báo chả bắn cho)… và tôi có tình yêu đầu. Phương mới đến với Tây Nguyên hai tháng, đẹp rạng rỡ… Tôi đã biết yêu. Trước đây chỉ biết thương lắm các nữ Thanh niên Xung phong thân gái trong rừng môi thâm mắt trắng, thương các cô gái buôn làng trần trụi hoang dại. Tình thương cùng kỷ luật quân đội khiến tôi đôi lúc cũng nghi ngờ… giới tính của mình.
Sau hiệp định Paris lính Tây Nguyên cũng dễ thở hơn. Vùng Giải phóng được mở rộng, đơn vị cho phép chúng tôi tự cải thiện để thỉnh thoảng có thêm nữa thịt tươi tăng cường sức khỏe, lính gọi là “ca cóng”.
Lần đầu là con voi rừng bị bắn hạ bên bờ suối. Hai năm rồi đây là lần đầu có thịt tươi. Chúng tôi gọi thanh niên trong buôn đến mổ thịt chia nhau. Mấy cậu lính mới người mường Thanh Hóa đua nhau trổ tài “ca cóng”, gia vị chẳng có gì ngoài muối và chút mì chính, anh em quây quần háo hức và thất vọng thật nhiều, miếng thịt khô khốc chẳng hơn món măng rừng, đúng như câu “trăm voi… nước xáo”, từ bữa đó chẳng con voi nào bị bắn nữa.
Tôi cùng thằng Tiến ra sông Poko bắt cá. Nó lau tau quả US của tôi đòi tự mình ném. Đứng bên bờ sông tôi hướng dẫn cho cu cậu cách sử dụng, tháo chốt an toàn nó vung tay ra sau, nghe tiếng “bụp” quay lại thì quả US nằm bụi cỏ ngay cạnh chân, vội ôm nó lăn tùm xuống sông, lặn một hơi nhô lên khỏi mặt nước nhìn đất đá bay bụi mù trên bờ mà hú vía… Rồi cũng cá gánh lặc lè về nhưng chẳng thấy nó cười nữa. Nó biết đâu tôi cũng có kỷ niệm muốn quên đi là trong một trận đầu đời lính chiến có lần tôi đã lắp nhầm quả đạn hóa học M79 và suýt chặn mũi tiến công của chính Trung đội mình.
Một lần gặp con lợn rừng hơn tạ. Dứt tiếng súng, con lợn quay phắt lại, lao thẳng chỗ anh em tôi đứng. Bản năng lính chiến mới giúp tôi kịp nhảy tránh sang bên cạnh, quay lại thằng Tiến đã kịp đu người lên cành cây, nhe răng ra cười với tôi, dân Cao Bằng nhanh nhẹn thật. Con lợn húc đầu mắc kẹt vào bạnh cây, bốn chân đạp đạp, nhìn cú húc mà ghê đến nghẹt thở. Đơn vị được mấy bữa ăn tươi.
Lôi cái đèn pin “cổ ngoéo” chiến lợi phẩm, tôi kéo thằng Tiến đi rình bắn hươu nai ra ăn cỏ ban đêm. Hai anh em lần theo khe nước nhỏ, cách nơi đóng quân chừng một kilomet, bước chân tôi khựng lại trước cái gì đó vằn vằn… ôi trời, là con rắn cỡ bắp chân nằm vắt ngang khe, thấy động nó ngóc đầu nghe tiếng phì phì. Rắn Tây Nguyên to và độc. Vùng quay lại xô vào Tiến ngã chúi hai anh em cùng chạy bán sống bán chết về nơi đóng quân, ướt như chuột lột, thằng Tiến vừa kể vừa run.
Tôi nhớ cái cười hồn nhiên của nó, cái lúc mặt xịu trẻ con, lúc gan lì đánh trận, lúc vun vén cho tình yêu của tôi như hạnh phúc của mình. Chỉ còn nhớ thôi, bởi trận đánh giải phóng thị xã Cheo Reo, tôi mất nó rồi.
Tình yêu tôi với Phương không đơm hoa kết trái. Vào chiến dịch Giải phóng Tây Nguyên, để giữ bí mật tôi chia tay em không nói lời nào và mãi xa.
Đón Xuân 1975 đơn vị ăn Tết trước bốn ngày. Bước chân như thác lũ, chúng tôi tiến về đồng bằng…
Những bông hoa gạo đầu tiên mở mắt vẫy chào. Tạm biệt nhé đất lành hoa Pơ Lang.
(Kính tặng Ccb Nguyễn Ngọc Lâm)
18/4/2022