Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 1422 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »
Người miền Tây

❊ ❊ ❊

(Kính tặng CCB Đặc công Lê Phú Dân)

Từ Đồng Tháp Mười hành quân về Miền Tây, Đơn vị tôi 279 Đặc công theo biên chế là cấp Tiểu đoàn nhưng khi nhiều nhất có vẻn vẹn bốn mươi người.

Do tính chất chiến trường sông nước, mùa mưa là một biển nước mênh mông, mùa khô sình lầy. Lực lượng quân số ít thì dễ bí mật, cơ động nhanh, nếu bị địch phát hiện thì thương vong cũng ít. Trong đơn vị một người phải kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Chỉ huy kiêm PRC25 thông tin liên lạc, Chính trị viên kiêm Y tá kiêm Đài kỹ thuật, Anh nuôi mua lương thực thực phẩm kiêm mua vũ khí (ngoài vùng tự do)…

Sau hai đêm chúng tôi tới xã Mỹ Hạnh Trung (nơi lừng danh chiến thắng Ấp Bắc 1963) nay là vùng Giải phóng của ta. Đơn vị nghỉ chân gần căn cứ địch tên là Khu trù mật lộ 12. Căn cứ địch trong vùng Giải phóng, thật khó tin nhưng là sự thật, sau Hiệp định Pari một Tiểu đoàn Ngụy cố thủ ở đây mà nhiều lần Trung đoàn 10 khu 8 của ta đánh bao vây, lấy lại không thành.

Một đêm nữa qua xã Tân Hội, vượt Quốc lộ 4 nơi có rất nhiều đồn địch, chúng tôi đến được xã Long Hưng nơi đồn trú của đơn vị.

Xã Long Hưng là vùng đất có truyền thống cách mạng từ thời chống Pháp. Quê hương của nữ Anh hùng Liệt sĩ Lê Thị Hồng Gấm. Địa danh này nằm giữa dày đặc đồn bốt địch. Phía Bắc quốc lộ 4 có hai căn cứ lớn là Long Định và Tiểu khu ngã ba Trung Lương. Phía nam là sông Tiền và căn cứ Đồng Tâm - trung tâm Chỉ huy hành chính của Sư đoàn 7 Ngụy. Phía đông giáp căn cứ Bình Đức và thành phố Mỹ Tho. Thời Ngô Đình Diệm tổ chức hàng trăm cuộc hành quân càn quét để lập ấp chiến lược nơi đây nhưng đều bị du kích và bộ đội địa phương đánh bật. Câu “Kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh bị phá sản” là từ địa danh này.

Đơn vị 279 đặc công của tôi vốn đã ít, sau nhiều trận đánh nay còn một nửa. Vì yêu cầu huấn luyện đặc biệt nên quân số chỉ chờ bổ xung từ ngoài Bắc vào. Lúc này đơn vị tổng số cán bộ chiến sĩ là hai mốt người nhưng trực tiếp chiến đấu chỉ có sáu người (sáu tay súng trong đó có tôi). Đến Long Hưng anh em tôi được Cơ sở đưa đi trú quân trong các nhà dân.

Tôi được đến trú quân trong gia đình rất đông con, có đến mười một người con. Theo tìm hiểu ông bà có năm người con trai thì bốn anh đi lính Ngụy (nghe bảo toàn là lính thợ: thợ xây, thợ mộc, sửa chữa ô tô). Còn ông và người con trai thứ bảy là quân Giải phóng.

Ông làm bên cơ quan an ninh khu 8. Ở đơn vị ông thương một cô gái và lại có thêm hai con với người phụ nữ ấy. Vậy nên ông có cả thảy là mười một người con.

Theo cách đặt tên con thì hai người vợ của ông hòa thuận. Trong gia đình Nam Bộ, con đầu gọi là Hai rồi cứ tiếp, sau người con tên Chín sẽ là con Út. Út Một rồi Út Hai… Chín người con của ông đã lấy vợ chồng đều ở gần ấp trên ấp dưới. Trong nhà chỉ còn hai cô con gái Út Một và Út Hai. Út Một mười bảy tuổi, Út Hai mười lăm.

Chị Tám của các cô lấy chồng cùng ấp nên hay sang nhà mẹ đẻ, quấn quýt với hai em. Đến ngày thứ hai, chị lại gần hỏi tôi: “Chú con thứ mấy trong gia đình? Đã có người yêu chưa”?

Thật thà quý người là bản chất tốt đẹp của người dân Nam Bộ mà không nơi nào có được. Tôi có may mắn đi khắp chiều dài đất nước xin khẳng định như vậy.

Bối rối giật mình như bị bắt quả tang, tôi trả lời chị dài dù hơi ấp úng: “Dạ… em là con thứ sáu. Trên em có mấy chị và một anh đều vào chiến trường. Em là út trong gia đình, bố em đi thoát ly, mẹ làm ruộng”…

Xa thật xa mà sao giống cảnh nhà này, bố chẳng mấy khi ở nhà, mẹ tần tảo nuôi các con… Như thương cảm, chị Tám dịu dàng: “Từ nay tôi gọi chú là Sáu Út nghe… à mà chú tên gì vậy”? “Dạ em là Dân”. “Vậy là từ nay chị gọi chú là Sáu Dân nhé em”!

Rồi nhìn tôi từ đầu đến chân như ngắm nghía điều gì, chị nói luôn: “Chú Sáu Dân chưa trả lời chị hết đâu nhé! Trả lời chị luôn đi”.

Tôi chẳng biết sao buột miệng: “Út Một tên gì chị”?

Chị vui vẻ, tươi tỉnh hẳn lên: “Chú Sáu Dân quá thông minh. Út Một ra đây chị bảo, trả lời Sáu Dân tên gì đi, Sáu Dân vừa hỏi chị đó”.

“Dạ anh Sáu Dân em là Mai. Gọi Út Mai hay Chín Mai cũng được ạ”.

Tôi bấy giờ mới quay sang chị: “Dạ thưa chị em đang học cấp 3, mới hết lớp 9 thì em xung phong đi bộ đội ạ. Đời học sinh lo học. Mẹ em là tối phải ngồi học kể cả Chủ nhật không cho đi chơi, em nhiều lần bị đòn roi mẹ đánh… nên làm sao mà có người yêu? Còn thời gian quân ngũ ngoài Bắc, đơn vị Đặc biệt, kỷ luật quân đội khắt khe lắm chị ơi, bởi thế em chưa biết cầm tay hay gần con gái”.

Chị lại gần tôi chị bảo đưa tay chị xem, vừa cầm tay tôi chị kêu lên: “Sao tay em lạnh ngắt mà em run vậy? Chị có ăn thịt em đâu”!

Út Mai đứng gần nghe, cười tủm tỉm…

Chỉ có mình tôi chém vè ở gia đình này. Cả nhà rất quý tôi (còn mấy ông lính ngụy thì tôi chưa gặp).

Má là một bà già gần sáu mươi tuổi, mấy chục năm một mình nuôi chín đứa con. Chồng má lên rừng làm Cách mạng chỉ thi thoảng chuyến công tác ghé qua nhà rồi lại đi miết. Bà là thứ ba nên tôi gọi Thím Ba. Thím Ba cũng trạc tuổi mẹ tôi ngoài Bắc nhưng so với mẹ tôi có phần khắc khổ hơn. Ấy là so với mẹ tôi mấy năm về trước, giờ các con xa hết rồi không biết mẹ tôi có khắc khổ vậy không?

Thím Ba luôn lựa lúc gần tôi để hỏi về người ngoài Bắc sống thế nào? rồi cách xưng hô, nói năng đi lại, hỏi về anh em họ hàng… Tôi trả lời Thím là dân Nam, dân Bắc tập quán sinh hoạt có khác nhau nhưng tình anh em xóm làng đâu cũng giống như nhau cả. Thím mới bảo: “Thế mà quân Thiệu nó tuyên tuyền là Việt Cộng có đuôi”…

Có lẽ ở miền Nam lúc này hàng ngàn gia đình đang như gia đình Thím Ba, nửa đi theo “Chánh phủ quốc gia” nửa chọn gian khổ lên rừng làm Kháng chiến.

Sang ngày thứ ba tôi hỏi thím: “Thím ơi sao mà tiếng xe nhà binh đi đâu chạy suốt ngày đêm nghe nhức cả tai vậy thím”?

Thím bảo: “Trước nhà là cổng chính căn cứ Đồng Tâm của sư đoàn 7 Quốc gia đó con”!

Căn cứ địch chỉ cách nhà hai trăm mét đường chim bay? Vậy là tôi chém dè ngay họng súng! Miệt vườn Miền Tây cây trái quanh năm mà người Bắc khi ấy nhìn chỉ có mà mơ ước. Con lộ trước nhà bị che khuất bởi mấy sào nào là chuối, sầu riêng, vú sữa, bưởi… ngút ngàn.

Gần sát địch bom pháo sẽ an toàn nhưng dễ lộ khi điện đài hoạt động. Bên một căn cứ lớn, lại đang ẩn náu một gia đình một nửa là lính Quốc gia? Tôi rợn tóc gáy, cố giữ vẻ bình thường.

“Con cứ yên tâm ngoài kia người của ta cảnh giới! Mà nhà có hầm bí mật dưới gốc cây vú sữa, quân quốc gia bao lần xăm hầm cũng bó tay”. Lảng sang chuyện khác tôi hỏi thím Ba ấp này tên gì. Thím trả lời: “Con ơi ấp này là Ấp Trùm Bào”.

Ấp Trùm Bào, ôi tên gì lạ vậy? Chưa kịp hỏi thì một cô gái lạ nhanh chân bước vào nhà, không chào, nói nhỏ với thím Ba rồi mất hút vào vườn cây trái.

Có sự chẳng lành rồi.

Thím bảo tôi địch đã phát ra điện đài Việt cộng đang hoạt động ở khu vực này. “Con đi theo thím ra hầm bí mật, đêm nay nó sẽ bới tung ấp này con ơi”. Mới hôm qua thím Ba còn gọi tôi là chú giải phóng Sáu Dân mà nay thím chuyển gọi là Con, đang lúc di chuyển gấp tôi còn nghĩ ra như thế. Dặn tôi yên tâm rồi thím đóng nắp hầm lại.

Đó là hầm bí mật dưới cây vú sữa thím vừa mới nói. Bên trong tối om, tôi sờ soạng đến chỗ phát hiện có hai tấm ván, tôi ngả lưng hai tay gối đầu suy nghĩ mông lung, trong người còn đủ đầy một băng đạn K54 và hai trái lốc mích đủ để hạ gục ít nhất là mười tên địch.

Chân lúc co lúc duỗi đụng một hộp gỗ, tôi ngồi dậy mò mẫm, hóa ra là một cây đèn pin và một cái quẹt (bật lửa). Bật đèn pin kiểm tra, tôi thấy đây là căn hầm xây kiên cố, rêu đá hoen ố. Tôi lại phát hiện thêm khoảng chục trái gài (loại lựu đạn tự chế của du kích không có dây cháy chậm, nổ tức thì).

Tôi xem đồng hồ đã hơn mười giờ đêm. Đây là chiếc đồng hồ Thuỷ quân lục chiến Mỹ, chiến lợi phẩm tôi được giữ để phục vụ cho công tác điều nghiên và chiến đấu, ngâm nước không vào, có đầy đủ chức năng để xác định phương hướng và la bàn tọa độ. Đồ Mỹ đúng là tối tân hiện đại lại dễ dùng.

Vừa lúc nghe có sức gì đang đè nặng rung chuyển trên đầu, tôi thủ thế nhưng tiếng đè nặng đó mỗi lúc xa dần. Im ắng, tôi lại ngả lưng trên tấm ván, bụng đã đói rồi.

Quét đèn hết căn hầm chỉ có trái lựu đạn gài chứ không có gì ăn. Xác định ở đây hết đêm nay và ngày mai nữa. Phát hiện có Việt Cộng nằm vùng chúng sẽ chà đi chà lại cố tìm ra cho bằng được… Và tôi ngủ thiếp đi.

Bỗng có tiếng sột soạt bên cạnh, tôi vội sờ ngay khẩu K54 khẽ hô: “Ai vậy”? Tiếng con gái nhẹ nhàng đủ nghe: “Em đây! Chín Mai đây, làm gì mà hoảng vậy”? và chạm vào tôi: “Anh cất súng đi kẻo cướp cò là cả hai cùng chết đó”.

Tôi thầm nghĩ cô gái du kích Chín Mai mới có mười bảy tuổi hẳn là rất dạn dày với vũ khí.

- Anh bật đèn sáng lên để em mời ăn cơm chiều.

Tôi nhìn đồng hồ ba giờ sáng.

- Mấy giờ mà em bảo anh ăn cơm chiều?

- Này Dáu Dân còn may cho anh đó. Bọn lính lục soát khắp các nhà, bới tung ấp, tưởng suốt đêm. Nhưng rồi chúng về đồn lúc hai giờ sáng, chờ yên má bảo em đem cơm cho anh. Má dặn là em ở dưới hầm này với anh cho đến năm giờ, nghe ngóng mới được lên vì bọn lính có thể còn quay lại.

Thế là Út Mai ở lại hầm cùng tôi. Canh chua hoa điên điển nấu với cá lóc cùng với thịt kho tàu, tôi ăn cơm còn em ngồi ngắm: “Anh Sáu Dân, quần áo ba em mà anh mặc vừa đẹp quá ta”.

Tôi gật, bộ áo nâu sòng làm tôi chả khác thầy chùa.

- Chắc anh đói lắm rồi phải hông?

- Cũng bình thường mà em.

Đỡ đói, tôi ăn thong thả hơn:

- Vừa rồi má em bảo là ở dưới hầm đến năm giờ mới lên, nhưng anh lại bảo là tý nữa anh ăn xong là em phải lên rồi.

- Sao anh biết? - Út Mai cảnh giác - Từ lúc này nhất cử nhất động anh dưới quyền theo lệnh em!

- Anh có linh tính thế. Rồi em xem.

Bữa cơm vừa xong, trên miệng hầm hai tiếng cạch ngắt quãng và hai tiếng cạch liên tiếp. Tôi xem đồng hồ gần bốn giờ sáng. “Đúng chưa Chín Mai? giờ là em phải lên rồi”.

Nắp hầm hé mở, tiếng chị Tám: “Sáu Dân ăn xong chưa? Út lên đi em, sửa soạn ra đồng thu hoạch rau. Mà năm giờ sáng bọn Bảo an Dân vệ nó sẽ đi kiểm tra từng nhà trong ấp đó em”.

“Anh đoán giỏi thiệt”. Út Mai khen tôi mà mặt buồn so: “Anh ráng ở dưới này, đến tối mới có cơm, hôm nay tụi lính chắc sẽ lùng sục ghê lắm đó”.

Tôi đã nằm hầm thế này nhiều lần rồi. Có nơi còn là vùng trắng như Gò Công - Chợ Gạo. Chúng tôi vẫn bảo xuống Gò Công là “chuẩn bị rửa chân lên bàn thờ ôm nải chuối xanh”.

Giờ đây no bụng yên tâm tôi lại nằm hầm. Đây là căn hầm đã được đào xây từ rất lâu, bên trên cây vú sữa nay đã như cổ thụ. Không biết các thành viên gia đình là lính ngụy có biết căn hầm bí mật này không?

Và không biết anh em đơn vị có ai việc gì không? Tôi đã đỡ lo khi thấy địch không lùng suốt đêm ráo riết. Trước khi chuyển xuống vùng này đơn vị tôi để lại một máy PCR25 tại kênh Ba, phát tín hiệu theo qui ước. Chắc địch phát hiện sóng này.

Đến sáu giờ chiều có tiếng ám hiệu rồi nắp hầm mở ra, tiếng thím Ba: “Sáu Dân yên rồi lên đi con”. Tôi cùng thím vào nhà.

Nhà vắng, tôi hỏi thím Út Mai đâu? “Nó cùng con Tám đang ngoài đồng thu hái hành hoa để sáng sớm mai bán giao cho chủ vựa chở lên thành phố”.

Tôi hỏi thím nhà ta trồng nhiều hành không má? Thím bảo thuê chủ đất trồng được nửa công (nửa công đất là năm trăm mét vuông).

Vậy nhà thím không có đất trồng mà phải đi thuê mướn? Thím trả lời nhà chỉ có ba công để gieo sạ lúa. “Nhà đông người vất vả lắm con ơi”… chợt thấy thân thiết quá. Trong khoảnh khắc tôi chợt nhận ra lòng Mẹ bao nhẫn nại hy sinh chẳng thể giãi bày.

Tôi hỏi thím Ba có biết tám chữ vàng Bác Hồ tặng: “Anh Hùng Bất Khuất Trung Hậu Đảm Đang”? Thím nhìn đăm đắm: “Bác tặng khi nào đó con”? Tôi nói với thím Bác và Đảng nhân dân Cách mạng luôn đánh giá cao cống hiến của người phụ nữ đặc biệt là Phụ nữ miền Nam, vì miền Nam trong lòng địch. Bức trướng thêu tám chữ vàng Bác dành tặng cho Phụ nữ Việt Nam ngày 8/3/1965 nhân kỷ niệm 55 năm ngày Quốc tế phụ nữ.

Một chút im lặng rồi thím nói… có lần thím đã nghe đâu đó câu nói Bác Hồ: “Miền Nam luôn trong trái tim tôi”… Chỉ có bấy nhiêu thôi mà liều mình, tính mạng cả gia đình sẵn sàng hiến dâng cho Cách mạng. Tôi chẳng nói được gì.

Lát sau hai chị em gánh hành về, mồ hôi bết tóc trán. Tôi đỡ gánh hành cho Út Mai, không dám nhìn áo ướt dính sát da thịt trắng hồng, tiếng em bên tai: “Đêm nay có việc cho anh, ba chị em cùng nhặt hành bó lại cho chủ vựa”.

Bỗng chị du kích hôm trước xuất hiện, chị chào cả nhà và bảo Út Mai cơm nước xong dẫn Sáu Dân đến nhà ông Hai Long. Thế là ba chị em đang rôm rả trò chuyện đứng cả dậy và chị Tám về bên nhà chồng.

Tôi không muốn phiền thêm thím Ba và cũng nóng lòng tin về đơn vị. Tôi xin phép đi ngay. Tôi bảo Út Mai ở nhà nhặt hành kẻo không kịp, vùng huyện Châu Thành này tôi nhiều lần đi lại rồi, nhà ông Hai Long tôi cũng đã đến. Ông tham gia Cách mạng từ thời chống Pháp và nay là Bí thư huyện ủy Châu Thành.

“Anh rành thật nhưng đây là lệnh”! Út Mai nói và tiếp khi thấy tôi không nói gì: “Vậy anh Sáu Dân chịu chưa”? “Chịu”. Đưa tôi đến nhà ông Long bàn giao, bất ngờ Út Mai nắm tay tôi nói trong hơi thở: “Anh Sáu Dân đi mạnh nhé, nhớ thông tin cho Út Mai”! Rồi quay đi mất hút trong đêm tối.

Ông Hai Long nói với tôi hiện nay ở căn cứ Long Định sát nách địa bàn xã, vốn đã có hai khẩu pháo 105ly, địch vừa mới tăng cường thêm một khẩu 155ly tự hành đặt trên xe bánh xích. Trên giao là bằng mọi cách phải tiêu diệt phá hủy ba khẩu pháo này, đặc biệt là khẩu 155ly, không để nó gây thêm tội ác cho đồng bào ta khắp huyện Châu Thành.

Tôi suy nghĩ rồi báo cáo ông Hai Long cần thêm hai người cùng tôi đi điều nghiên, nếu được sẽ báo cáo các anh lên phương án tác chiến.

Hai Long đã biết tôi từ năm 1972 trong chuyến công tác trên R (bộ chỉ huy Miền), và năm ngoái trong chuyến bảo vệ bà phó Tổng Tư Lệnh Các Lực Lượng Giải Phóng Miền Nam Nguyễn Thị Định trong chuyến bà đi thị sát chiến trường Tây Nam Bộ và Sài Gòn. Nghe tôi nói vậy ông không hỏi thêm gì cả.

Đúng là đời lính đánh giặc không biết đâu mà lần, đáng lẽ có cơ hội được nhặt hành trò chuyện với chị Tám và Út Mai… Ôi cô gái Út Mai hẳn là bao chàng trai mơ ước mà chị Tám nay đã làm cầu nối cho tôi.

Đang suy nghĩ mông lung thì giật mình ông Hai Long hỏi: “Sáu Dân ăn tối chưa”? Chân tình người Miền Tây tôi đã quá quen, nhất là với lính Đặc công, đơn giản tư trang, áo quần mặc cũng nhờ dân cả… “Dạ em chưa ăn”.

“Thế thì chú xuống nhà ăn tối cùng tôi và gia đình, sau đó ta bàn công việc”.

Cơm nước xong ông Hai Long bảo tôi lên nhà rồi pha trà, trong lúc ông rót nước tôi hỏi ông điều tôi quan tâm nhất: đơn vị 279 chạy càn giặc hiện đang chém vè đâu?

“Tôi định cho chú biết thì chú hỏi”. Chú Hai Long thong thả nói. Đơn vị 279 đã nhanh chóng chia làm hai mũi đi hai hướng.

Một mũi vượt lộ 4 đang chém vè tại xã Tam Hiệp huyện nhà, hướng này là có mười cán bộ chiến sĩ do anh Mười Chín chỉ huy (anh Mười Chín quê Bến Tre).

Mũi nữa cũng mười cán bộ chiến sĩ do anh Hai Hà Thanh Chính trị viên (quê Vĩnh Long) chỉ huy, vượt lộ 4 sang Cai Lậy chém vè tại xã Mỹ Phước Tây.

Vậy là yên ổn.

Nhà ông Hai Long là nơi “Đại bản doanh” thu thập tin tức liên lạc và là cầu nối các tỉnh Bến tre, Gò Công, Khu 8. Là nơi dừng chân của cán bộ Miền hướng Tây Nam từ Sài Gòn ra và ngược lại. Ông bảo tôi: “Chú cứ ăn nghỉ ở đây. Kế hoạch điều nghiên chờ liên lạc với anh Mười Chín rồi tính tiếp”.

Tôi hỏi “Chú Long ơi, chú có giúp được không. Chả là từ hôm rồi giặc càn nằm hầm vẫn bộ đồ thím Ba ấp Trùm Bào đưa. Chú có bộ nào dư cho Sáu Dân mượn thay tắm rửa”?

Ông vào trong nhà đưa tôi bộ quần áo màu sáng sọc trắng kiểu mặc ra đồng. “Chắc hơi chật vì chú to cao hơn tôi”, và ông bảo “nếu vừa cho chú luôn khỏi trả lại”.

Bộ đồ như này tôi đã mặc nhiều lần và thấy rất thoải mái. Đồng Tháp Mười đơn vị tôi đồn trú, ban ngày địch kiểm soát, ban đêm là của du kích, Đặc công. Bốn giờ sáng cơm nước xong tất cả vũ khí tư trang bọc ni lông dìm sâu xuống đìa, kênh. Anh em ra đồng giúp dân làm cỏ, gặt hái vẫn cải trang đội mũ trắng bận quần áo sáng màu để máy bay cào rồ (L19) phát hiện đó là thường dân.

Thế là đã có áo quần để thay, tôi đi tắm. Khi tắm xong từ bên ngoài nghe trong nhà tiếng rì rầm. Vừa bước lên nhà trước mặt tôi là người đồng đội bao trận vào sinh ra tử, chúng tôi như thể đôi sam, đó là Trần Quang Dành quê Hải Hưng.

Nhìn tôi chẳng khác lão nông đi làm về, Dành bảo tôi: “Sắp làm rể vùng này hay sao mà ăn mặc kỳ vậy”?

- Ôi! Bồng đồ tư trang rục (giấu) dưới đìa đã lấy lên đâu!

Tôi chống chế như bị bắt quả tang, nói lảng đi: “Chúng ta chuẩn bị đi điều nghiên căn cứ Long Định”. Dành đã biết và bảo: “Có anh Mười Chín cùng đi”. Anh Mười Chín là chỉ huy cao nhất đơn vị Đặc công 279 chúng tôi.

Các quân binh chủng khác là ngồi ở xa chỉ huy qua điện đài. Còn 279 chúng tôi, từ chỉ huy cao nhất đến người lính đều bình đẳng như như nhau. Như câu nói vô tư “làm rể ở đây”, trong chiến đấu tôi và Dành vẫn hay hiểu nhau như thế… Hai thằng tếu rồi cười: “Mười Chín chưa đi với tụi mình bao giờ, lần này cho ổng biết mùi kẽm gai của Đức và đèn pha chiếu quét”! Thật vậy, Thủ trưởng tôi cho dù trước kia đã bao lần điều nghiên căn cứ nhưng qua mỗi thời gian địch lại thay đổi phòng thủ gắt gao hơn.

Đêm 9/12/1974 ba chúng tôi mười chín giờ xuất phát từ nhà ông Hai Long, ra khỏi ấp đến rìa đồng dừng lại hóa trang cho điệp màu cây cỏ.

Căn cứ Long Định điện sáng như ban ngày, thỉnh thoảng tràng đại liên từ chòi gác xả xuống xung quanh, pháo sáng thì bắn lên liên tiếp… Khi chỉ còn cách hàng rào ngoài cùng chừng trăm mét thì thấy như có động… Dừng lại nghe ngóng, tôi bảo anh Mười nằm lại tại đây để tôi và Dành bò thêm vài chục mét xem sao.

Vừa bò tiếp khoảng ba mươi mét tôi phát hiện tụi lính đóng quân bên ngoài căn cứ. Chúng canh gác và bảo vệ khẩu pháo từ xa? Địch thật hiểu ý ta… Chút nữa thì rơi vào miệng cọp… đành xóa dấu vết quay ra gặp anh Mười Chín báo cáo xin tạm rút.

Về đến nhà anh Hai Long mới 23 giờ. Anh Hai Long chưa ngủ hỏi “Ba chú có trắc trở gì mà về sớm vậy”? nhưng chưa ai trả lời, phần không vui và cũng phải đi tắm rửa. Mặc mỗi chiếc quần đùi, từ đầu đến chân lọ nghẹ cùng bùn đất hóa trang trông chúng tôi như lũ quỷ… Tắm xong lên nhà Hai Long đã pha trà, loại chè hãng Củ Măng nổi tiếng Đà lạt Lâm Đồng. “Ba chú uống nước rồi bàn xem cụ thể”.

Anh Mười Chín ngập ngừng đưa chén trà lên miệng nhưng rồi lại bỏ xuống: “Báo cáo anh Long, hướng này ban đêm kẻ địch nống ra ngoài đào công sự đồn trú”. Hai Long uống ngụm trà: “Hướng điều nghiên phía bắc vậy là không được rồi… còn hai hướng nữa”.

Anh Mười Chín như đọc được tôi: “Sáu Dân có phương án nào hay không”? “Dạ em Sáu Dân xin có ý kiến nhưng không biết các thủ trưởng có đồng ý cho em nói không”? Dành xen vào: “Thủ trưởng cho phép rồi cứ đưa ra đi, biết đâu lại là phương án hay tốt nhất”.

Mười Chín bảo Dành: “Thôi để Sáu Dân đưa ra phương án đi, nhiều chuyện quá”… Vậy là tôi xin đưa ra hai phương án như sau: Căn cứ Long Định này bốn hướng đã hai hướng không thể vào điều nghiên, vậy còn hai hướng là cầu Long Định hướng đông và hướng tây có Chợ Long Định cách khoảng hai trăm mét.

Một là ban ngày ta nhờ các má cơ sở đi chợ qua dòm hai hướng xem địch phòng bố thế nào.

Phương án tiếp theo nhờ các cô gái du kích trẻ (chịu hy sinh) vào vui chơi nhảy múa và xem xét bên trong: vị trí Sở chỉ huy, Khu truyền tin và nơi để ba khẩu pháo.

Ông Hai Long chăm chú nghe. “Ba người xem có ai có ý kiến khác không? Vậy là nhất trí phương án của Sáu Dân, tôi và anh Mười Chín sẽ bàn và tìm người tin tưởng. Xin được kết thúc tại đây. Sẽ có tin cho các anh sớm nhất”.

Thế rồi từ các má chúng tôi cũng có những thông tin tin cậy nhất. Hướng đông cầu Long Định có chòi gác cao, hai đèn pha và một khẩu đại liên mã lai 60. Hướng tây địch xây thành cao bốn mét với sáu lớp rào kẽm gai và hai hào sâu ba mét.

Anh Mười Chín kêu hai chúng tôi đến và bàn bạc, thống nhất chọn hướng Tây.

Cũng như mọi lần mười chín giờ cơm nước xong ba anh em bí mật ra rìa ấp giáp cánh đồng làm công tác hóa trang. Lần này đi điều nghiên hướng tây căn cứ có một du kích nam dẫn đường, vì hướng tây tiếp giáp ấp dân sinh sống, tụi lính hay lui tới. Nhà dân thì nuôi chó, chó sủa lộ là bỏ mạng. Gần đến ấp tôi thì thì thào nói nhỏ: “Hay anh Mười nằm tại đây để bọn em vô”? “Không được, anh phải vào tận hang ổ bọn nó”! Anh Mười Chín trả lời.

Người Du kích đưa ba chúng tôi bí mật mò mẫm qua hết ấp, đến hàng rào dây thép gai ngoài cùng của căn cứ thì bảo “em hết nhiệm vụ” rồi biến luôn trong đêm tối. Gần đó một nhà dân đèn sáng, có rất nhiều tiếng trai gái nô đùa… Tôi đoán đây là tụi lính hết phiên trực gác ra ngoài vui chơi.

Hàng rào kẽm gai um tùm lau sậy cây cỏ đan xen, muốn vạch một lỗ để chui qua mà loay hoay cả tiếng đồng hồ không được. Địch xây dựng chắc đã nhiều năm. Khó vạch được để vào thì khi ra càng khó xóa dấu vết. Làm sao đây?

Sốt ruột thấy gần hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa khắc phục được một lỗ để chui vào. Sáu lớp rào mà đây mới là lớp ngoài cùng. Anh Mười thì thào bảo “lui ra để anh”! Vừa đụng vào thấy anh Mười kêu á! Phản xạ tự nhiên tay trái tôi bịt miệng anh, tay phải rút súng thủ thế và thì thào: “Thủ trưởng định giao ba sinh mạng cho giặc à”? Sờ tay anh nhầy nhụa, tôi đoán kẽm gai cứa rách tay rồi, loại rào của Đức này còn sắc hơn cả dao cạo râu. Tôi bảo anh bịt thật chặt chỗ rách không cho máu vương, ngày mai chó nghiệp vụ đánh hơi ra là đơn vị chẳng yên, rồi khổ dân cả vùng huyện Châu Thành chứ chẳng chơi đâu.

Bấy giờ đã hơn ba giờ sáng. Anh Mười thì thào “thôi… rút”. Đường về tôi đi trước quay lại dặn hai anh: “Nếu sai sót khi qua ấp của dân thì chỉ tôi được phép nổ súng thôi, mọi người rõ chứ”! Rồi cũng qua được ấp an toàn. Về đến nhà ông Hai Long, tắm rửa xong cũng gần năm giờ sáng.

Thím Hai Long đã chuẩn bị bữa sáng cùng chai rượu đế. Mọi người ngồi vào ăn trong lặng lẽ, nét mặt ai cũng có vẻ không vui. Thế là một đêm đi điều nghiên mà chưa qua được lớp rào ngoài cùng căn cứ trong khi địch giăng tới sáu lớp rào.

Lại nhớ căn cứ địch Tống Lê Chân ở Tây Ninh, nằm gọn giữa vùng Giải phóng rộng lớn xung quanh có 3 công trường (sư 5, sư 7, sư 9 quân Giải phóng) và Trung đoàn đặc công 429. Trong khi căn cứ Tống Lê Chân địch chỉ có một tiểu đoàn mà đội quân hùng hậu của Miền đánh vào nhiều lần, cả xe tăng mà không lại. Cuối cùng tại căn cứ Tống Lê Chân này địch tự rút hai ngày ta mới biết… Và mới biết bên trong có hầm ngầm. Khi bị ta tấn công thì địch đã bí mật nống ra, rồi dưới hầm ngầm độn thổ đánh lên kết hợp bên ngoài đánh úp.

Làm sao có phương án tối ưu đỡ hy sinh xương máu? Cấp trên đang chờ 279 sớm hoàn thành báo cáo kết quả điều nghiên. Lo âu hằn trên nét mặt mỗi người. Ông Hai Long và anh Mười Chín bàn và quyết định theo phương án cho nữ du kích mật vào vẽ sơ đồ căn cứ.

Địa phương nói phải tìm cơ sở có người nhà là lính quốc gia và thật bất ngờ gia đình Thím Ba được chọn, hai cô du kích chị Tám và Út Mai tình nguyện vào căn cứ Long Định tìm hướng điều nghiên cho đơn vị 279 của tôi.

Đến nhận nhiệm vụ tại nhà Hai Long, Út Mai gặp tôi, nét mặt cử chỉ mừng vui như vừa vớ được cái gì đáng giá… Còn tôi thật khó tả cảm xúc khi cùng chung một nhiệm vụ với em.

Sau khi cơ sở cách mạng đã có sơ đồ theo trí nhớ, bốn chúng tôi lại họp bàn tìm phương án điều nghiên. Sở chỉ huy và Khu truyền tin tiếp giáp lộ 4. Bên ngoài có bốn lớp rào và một đường hào, khu ba khẩu pháo địch bố trí riêng cách Sở chỉ huy năm mươi mét.

Tôi chợt có suy nghĩ hay biến cái “không thể thành có thể” mà đơn vị 279 cụm H7 đã từng làm, là hướng Bắc qua cổng chính? Đầu tiên vượt lộ 4 sang huyện Châu Thành Bắc, rồi lại vượt lộ 4 tiếp cận cổng chính căn cứ, lợi dụng khi đổi gác tiền nhập.

Nghe tôi trình bày Hai Long và người chỉ huy Mười Chín không đồng ý vì quá nguy hiểm, nhưng Trần Quang Dành lại đồng ý với phương án của tôi, bốn người mà 50/50. Hai Long gọi là “nửa người Bắc nửa người Nam”, và cuối cùng phương án của tôi được các anh đồng ý.

Tôi đề nghị chỉ có hai chúng tôi đi điều nghiên vì thêm người là không an toàn và không cơ động, nhưng Mười Chín lại không yên tâm, anh muốn hỗ trợ chúng tôi. Vì ông là chỉ huy tôi đành đồng ý nhưng với điều kiện khi vượt qua lộ 4 ông nằm lại ở cánh đồng chờ chúng tôi ra… Hai Long bảo anh Mười Chín: “Chú nghe Sáu Dân heng”!

Đây là chuyến đi điều nghiên cuối tháng 12/1974. Cơm nước chiều xong khoảng 18 giờ trời còn sáng chúng tôi đã rời nhà Hai Long, phải xuất phát sớm vì lần này hành trình theo vòng thúng rất dài.

Trên lộ 4 hàng đoàn xe vận tải ngược xuôi nối đuôi nhau lẫn xe nhà binh, xe ngụy tuần tra. Chúng tôi cứ nhìn các loại xe trên mui có gắn nhiều đèn (biết là xe dân sự) thì bám theo vượt lộ.

Trên cánh đồng cách căn cứ Long Định khoảng năm trăm mét chúng tôi dừng lại hóa trang chuẩn bị tư thế tiền nhập. Qua bên kia lộ 4 là cổng chính căn cứ Long Định. Dọc lộ luôn có những tốp lính tuần tra. Hai bên cổng lính gác súng lăm lăm. Trên chòi gác là khẩu 12ly7 và hai tên lính nữa, khẩu 12ly7 ấy vừa nhả một tràng đạn xuống cánh đồng trước mặt chúng tôi, bùn nước tung lên… rõ mồn một vì đèn pha sáng quá.

Để anh Mười nằm lại đây. Hai chúng tôi tiến sát lộ chém dè chờ thời cơ vượt lộ, khoảng cách bốn mươi mét này để vượt qua ít nhất phải là hai tiếng đồng hồ. Vừa lúc địch bắn lên một loạt pháo sáng, cả trời đất huyện Châu Thành Bắc sáng như ban ngày. Tôi nhìn đồng hồ hai mốt giờ, như cơ sở báo thì còn gần một tiếng nữa mới tới ca đổi gác.

Đột nhiên tôi nhớ quê hương miền Bắc thắt lưng buộc bụng với khẩu hiệu “Tất cả vì đồng bào miền Nam ruột thịt”. Tôi nhớ mẹ, lần lượt các con chưa báo đáp đã đi xa. Nhớ khi bé mùa đông giá rét năm mẹ con nằm chung một gường, lót rơm rạ, lá chuối khô. Rồi bữa cơm chỉ toàn khoai lang, tôi con út nên được mẹ nựng “cố ăn đi mai bố về mua gạo mẹ nấu cháo hoa cho”, được thể tôi cứ khóc, thế là mẹ cho tôi hai roi vào mông và tôi im thin thít hết đòi… Bỗng mỉm cười, rồi thực trạng hiện ra, tim tôi đập mạnh. Tôi bảo Dành: “Để tao quay ra chỗ anh Mười”. “Có chuyện gì sao”? “Nhắc ổng muỗi hay rắn cắn cũng phải nằm im không thì xơi kẹo đồng chứ sao”!

Thú thực là vượt lộ dù bao lần thì lần nào cũng là vô cùng căng thẳng.

Vừa lúc một xe GMC chở khoảng một tiểu đội lính đổ ngay trước mặt, toàn bộ lính xuống xe vào căn cứ, chiếc xe cũng từ từ hướng về Tiểu khu ngã ba Trung Lương.

Rồi địch cũng đổi gác, chúng đổi gác xong thì hai chúng tôi đã vượt lộ 4. Lại nằm chờ lần đổi gác tiếp theo.

Một thằng lính chắc là đang nhậu nhẹt từ căn cứ đi ra đứng lại ngay chỗ tôi đang nằm, vạch quần ra, nó tè trúng vào đầu tôi, nước tiểu vào cả miệng tôi mặn chát, lại thêm mùi gì lạ rất là khó tả. Tên lính ngụy khốn nạn, nó còn “ve vẩy”.

Giật mình từ trong căn cứ địch có hai tiếng nổ lớn đầu nòng, tôi đoán đây là pháo “đĩ”… nghe mà căm ghét. Không có quy luật cũng không có tọa độ cụ thể, pháo này do mấy đứa con gái lầu xanh vào đồn mây mưa cùng tụi lính rồi nhõng nhẽo đòi bắn đại bác ra vùng giải phóng của ta đôi khi gây thiệt hại bất ngờ.

Lũ con gái này có khi còn đứng trên chòi gác the thé hét vào loa: “đ… má mấy thằng diệt cộng bò dô đây làm gì? bà nhìn thấy tụi bay rồi”… Những câu thế này chúng tôi đang cắt rào gỡ mìn vẫn thường xuyên nghe thấy, người sợ phải là bọn chúng, chiến tranh tâm lý chỉ dành cho kẻ yếu tim.

Đồng hồ chỉ một giờ. Tôi đang nghĩ trước khi trời sáng vào được căn cứ thì cũng phải chém dè đêm sau mới có thể ra. Bỗng ùa cơn gió mạnh. Mây đen ùn tới rồi mưa mù mịt đất trời. Ôi cơn mưa cuối mùa. Ông trời phù hộ rồi… Trong căn cứ nhốn nháo, lính gác cũng tìm áo che mưa. Cơ hội ngàn vàng cho hai chúng tôi luồn qua cổng chính.

Đúng như cơ sở cho biết. Bên trong Căn cứ địch bố trí rào kẽm gai phân chia từng khu. Mỗi khu tập trung nhiều dãy nhà lợp bằng tôn. Hai chúng tôi chia nhau mỗi người một hướng, hẹn ai điều nghiên xong tìm đường ra trước chỗ anh Mười Chín chém dè.

Tôi lướt nhanh Sở chỉ huy, Khu truyền tin, khu giải trí vui chơi và cuối cùng đến khu trận địa pháo.

Ba khẩu pháo địch bố trí khá xa tách biệt, hàng kẽm gai chỉ có một lối vào, trong hàng rào bao cát xếp cao mét rưỡi xung quanh, hai khẩu 105ly “đĩ” vừa bắn mùi thuốc pháo vẫn còn khét lẹt. Tôi tiến sát gần xe xích, trên xe xích là khẩu pháo tự hành 155ly mới tinh, thơm mùi sơn, dưới ánh điện màu sơn xanh rêu bóng lộn.

Giờ phải tìm đường thoát ra ngoài. Không biết phần Dành điều nghiên phần mình đã xong chưa? Xem đồng hồ ba giờ ba mươi hai sáng.

Vào căn cứ địch đã khó tìm đường ra cũng vô cùng khó. Các phân khu địch kéo rào kẽm gai hết, các lối đều khóa lại. Đang suy nghĩ thì gặp Dành, thì thào hỏi tôi: “Mày đi hết các mục tiêu chưa”? Tôi bảo: “Việc cần là tìm đường thoát ra ngoài nếu không trời sẽ sáng”.

Cổng chính địch đã khóa chặt, lúc này con chuột không thể chui qua. Bỗng một loạt pháo sáng ở chòi canh địch bắn lên, nhờ đó tôi phát hiện cổng phụ phía đông địch còn vẫn mở. Chắc đang chờ tàu địch tuần tra trên kênh Long Định về neo đậu nghỉ ngơi.

Lại may cũng là vừa lúc địch đổi gác, và đang con nước lớn. Hai chúng tôi thoát ra cổng, bơi sang bờ bên kia cùng lúc một tàu địch tuần tra về.

Đồng hồ chỉ bốn giờ sáng. Tôi bảo Dành chúng ta không thể vượt lộ 4 để tìm Thủ trưởng mà giờ này Thủ trưởng phải có phương án để tìm nơi ẩn náu rồi. Hơn năm giờ sáng hai chúng tôi về đến nhà Hai Long.

Ông Hai Long hình như không ngủ. Đợi chúng tôi tắm rửa xong, nghe tôi trình bày cụ thể ông cười tươi tỉnh: “Đặc công các anh giỏi lắm! Vô căn cứ địch mà như đi chợ. Vậy không phải lo, Mười Chín nó sẽ tìm được về, không bây giờ thì cũng đêm nay nó sẽ có mặt nhà Hai Long cho mà coi”. Lại ăn bữa thím Hai nấu cho rồi Hai Long bảo hai chúng tôi đi ngủ.

Chẳng biết bao lâu thì có người gọi lay, tôi đang thèm ngủ quát lại: “Làm gì dậy sớm vậy”? thì nghe tiếng giọng Nam bộ “rặt” (Nam bộ chính gốc) tôi đang mong đợi: “Sáu Dân dậy đi, năm giờ chiều còn gì”. Tôi mừng rỡ tỉnh hẳn, người gọi tôi là thủ trưởng Mười Chín đêm qua hai chúng tôi để nằm lại giữa đồng.

- Xin lỗi Thủ trưởng tại em đang thèm ngủ, mà Thủ trưởng cách nào, đi hay bay về đây?

“Chuyện đó để nói sau. Hai em dậy cơm nước rồi bàn công việc”. Mừng vui như vất đi gánh nặng, thủ trưởng Mười Chín nói nói cười cười.

Ăn xong Hai Long chủ trì cuộc họp gồm bốn người. Cuộc họp sẽ dài, ông dặn bên ngoài chú ý canh gác và thông báo: “Lập phương án xong, ta sẽ mật tập căn cứ Long Định bằng lực lượng đặc công vào đêm 30 sáng mùng 1 Tết cổ truyền”.

Được chỉ định trình bày trước (trong chiến trường chỉ có báo cáo miệng), tôi báo cáo kết quả điều nghiên và Phương án của mình.

Về vũ khí. Thuốc nổ phải là hợp chất C3 và C4 mới có thể công phá hầm ngầm địch. Cần ba mìn lõm nam châm để phá hủy ba khẩu đại bác, bốn khẩu B41 dùng để tiêu diệt bốn lô cốt đầu cầu, cần năm thủ pháo dù.

Về người gồm hai mũi đặc công chính và một mũi dự phòng, mũi dự phòng do đơn vị 2069 của thành phố Mỹ Tho đảm nhiệm. Mọi phương án tác chiến rất hoàn tất, diễn tập như đánh thật tại sa bàn. Giờ chỉ còn lệnh trên là xuất kích.

Tết đã đến rất gần. Tôi cùng Trần Quang Dành đã ba cái Tết chiến trường: Tết đầu trên binh trạm 27 với những câu thơ tâm lý chiến truyền đơn địch thả như bươm bướm. Rồi một Tết ở chiến trường Campuchia tại tỉnh Congphongcham. Tiếp là Tết ở chiến trường Miền đông Nam bộ cạnh suối Bà Chiêm gần lộ Trần Lệ Xuân (hay còn gọi là Lộ Đỏ) thực phẩm duy nhất là lạc với đậu xanh. Tết này là bốn.

Cận kề ngày Tết, chúng tôi càng háo hức chờ vào trận đánh lúc giao thừa… Nhưng rồi vẫn chưa có động tĩnh của lệnh trên.

Trong lúc chờ đợi, tôi nảy ý định đi thăm gia đình nữ Anh hùng liệt sĩ Lê Thị Hồng Gấm chỉ cách nhà Hai Long khoảng tám trăm mét. Báo cáo Hai Long, ông đồng ý: “Các chú đặc công thì tôi yên tâm”! và dặn chúng tôi bí mật.

Nhà Liệt sĩ Lê thị Hồng Gấm đây rồi, ngỡ ngàng khác với hoàn cảnh gia đình thím Ba. Ngôi nhà kiểu cách nhà thờ Tổ của người dân Nam bộ trên khuôn viên khoảng hai công đất (hai ngàn mét vuông). Bên trong cổng hai cây me lớn uy nghi, xung quanh vườn nào là dừa, xoài, chôm chôm, chuối, mận hồng đào trù phú… Người Liệt sĩ hy sinh không vì cơm áo của mình.

Từ ngoài đã nghe thấy tiếng gõ mõ tụng kinh. Bước vào nhà, một ông già mặc áo cà sa nâu sòng, biết chúng tôi là Giải phóng quân, ông đứng dậy chắp tay “Mô Phật” rồi ra mời nước.

Hỏi ông nơi thờ Liệt sĩ, ông từ từ đứng dậy đưa chúng tôi vào chỗ góc nhà thờ, bấy giờ mới nhìn thấy tấm ảnh nhỏ của Lê Thị Hồng Gấm. Ông bảo vì bọn giặc hay đến làm khó dễ là thờ “Con Việt cộng”, và dặn: “Các chú nhìn thôi, đừng thắp hương”… Trên bát hương trơ trọi ba chân que hương đã cũ.

Chúng tôi ra về cùng chút ít hoa quả trong vườn ông hái, cùng lời ông mời đến vui Tết với gia đình… Hơn cả là trong lòng bao niềm khâm phục, nung nấu quyết tâm.

Đang háo hức để vào trận đánh, hy vọng là thắng lợi để đón xuân thì ông Hai Long gọi ba chúng tôi thông báo Mìn lõm nam châm và Thủ pháo dù hiện nay đã hết. Quân khu đã cho một Tiểu đội vận tải khẩn trương lên R để mang về.

Tôi biết đường lên R không dễ dàng, đi qua hàng trăm kênh rạch, nhiều đồn bốt địch… có nhanh cũng mất nửa tháng. Hôm nay đã là 28 tháng Chạp. Vậy là không thể theo kế hoạch. “Thật uổng”! Tôi nghĩ mà không dám nói ra.

Lại nữa, theo mật báo cơ sở của ta. Tên chỉ huy căn cứ Long Định đã thông báo là sáng 30 Tết làm lễ khai trương khẩu pháo 155ly tự hành đặt trên xe xích và bắn vài phát ra vùng Việt cộng… nhưng nay thông báo hoãn, vì chính quyền Thiệu cấp súng nhưng chưa cấp đạn. Đạn pháo 155ly ưu tiên cấp cho vùng chiến thuật 1 và 2.

Nói thế để biết diệt khẩu pháo 155ly tự hành có ý nghĩa thế nào.

Vùng Giải phóng lúc này nhà nhà cũng âm thầm lo cái Tết kháng chiến. Súng đạn hai bên cũng thưa hẳn, chỉ còn vài tiếng lẹt đẹt cầm canh. Ban chỉ huy đơn vị 279 cũng tạm rời nhà Hai Long vì Tết nhà ông sẽ có đông khách trên R và khu xuống. Chúng tôi chuyển đến nhà em trai của Hai Long là ông Tư Đẩu. Nhà nhỏ nên một số bộ phận ra vườn cây mắc võng để trú quân.

Thế là đón Xuân 1975 đơn vị được ăn Tết cùng dân vùng giải phóng Tây Nam Bộ. Mỗi chiến sĩ được một bao thuốc Rubi quân tiếp vụ, cứ ba người một gói trà hiệu Củ măng Lâm đồng. Nhân dân trong vùng mang đến cho chúng tôi trái cây và bánh tét. Các cô du kích chưng diện áo nhiều màu rực rỡ nhưng vẫn mang súng bên mình.

Tôi nhìn thấy cơ hội đến nhà Thím Ba gặp được Út Mai nhưng đơn vị thông báo mấy ngày Tết tất cả cán bộ chiến sĩ cấm trại một trăm phần trăm, sẵn sàng chiến đấu.

Chiều tối mùng Một Tết thủ trưởng Mười Chín gọi tôi: “Sáu Dân đâu, có khách”! Có phải Út Mai? nhưng khi gặp thì đó là Chị Tám. Dù sao cũng mừng quá… đến khi chị bảo: “Mấy ngày Tết em đừng đến nhà nhé! Năm nay nhà đón Tết đông đủ, mấy anh lính quốc gia cũng về”.

Tôi như hụt hơi… “Vậy tốt quá chứ sao”?

Chị nhìn tôi: “Chị rất quý em, khi nào mấy ổng đi chị cho em hay nhé”!

Nhưng rồi đột ngột đêm mùng Hai tết cả đơn vị hành quân vượt lộ 4 sang Châu Thành Bắc, tập trung dưới một vườn toàn xoài và vú sữa cao to rậm rạp nghe lệnh cấp trên.

Một ông cán bộ chắc trên R phổ biến, ông nói đại ý vừa qua đơn vị đã điều nghiên căn cứ Long Định hoàn thành, chờ lệnh là tiêu diệt căn cứ này. Nhưng cấp trên xét thấy còn có nhiệm vụ khác quan trọng hơn cho cả chiến trường Miền Nam nói chung và chiến trường Tây Nam Bộ nói riêng. Căn cứ Long Định sẽ giao cho đơn vị khác đảm nhiệm…

Ông nói tiếp: “Tình hình chiến trường Miền Nam đang có nhiều thay đổi có lợi cho ta. Đơn vị 279 từ nay sẽ đảm nhiệm một vùng rộng lớn hơn một trăm kilomet hướng Tây nam Sài Gòn”.

Như vậy trừ bộ phận thông tin liên lạc, tài vụ, quân y… chỉ còn mười bảy người trải dài hơn một trăm kilomet? Mà không biết nhiệm vụ cụ thể? Mặc chúng tôi xì xào, ông bảo: “Mọi người mắc võng nghỉ ngơi rồi có Cơ sở cách mạng đến đón từng người”.

Mùa xuân 1975 tôi rời xa Châu Thành như thế đó. Rồi cuốn theo đường Kháng chiến, sau Giải phóng tôi mới gặp lại cô du kích Út Mai… thực ra là em vượt sáu mươi kilomet đến thăm tôi được vài lần. Công việc bộn bề sau chiến tranh, chẳng có thời gian dành cho việc riêng tư. Duy nhất một lần trên sông Sài Gòn hẹn ước, tâm sự với nhau được khoảng ba mươi phút.

Tôi được điều ra Bắc ăn dưỡng và tiếp tục học văn hóa do quân khu Tả Ngạn tổ chức cho các chiến sĩ ở chiến trường ra, được cử sang Liên Xô học tập bảy năm. Mất liên lạc, rồi vất vả mưu sinh. Tôi không còn nhớ Cô gái Miền Tây và lời thề “duyên không thành sẽ cắt tóc đi tu”… Cứ ngỡ em cuộc sống đủ đầy nơi đất lành hoa trái.

Cho đến một ngày năm 1997, trên quê hương tôi Thanh Hóa có người ni cô tìm đến… Ba tháng ròng đi bộ vượt một ngàn bảy trăm cây số là Út Mai với bộ nâu sồng hành khất bán hương. Không nói gì… An nhiên buông xả.

Tôi làm nên chuyện gì đây?

Miền Tây trong kháng chiến là nơi mỗi người lính đi qua như sinh ra lần nữa, những tên người tên địa phương thôi thúc trong lòng không thể nào quên. Riêng tôi còn hơn thế…

Quê hương thứ hai của tôi có chợ quê Xoài Hột, có đặc sản giống xoài to và ngon ngọt nhất vùng. Nửa Thế kỷ đã bạc mái đầu gặp lại người dân cùng thời vẫn nhớ và gọi tôi là “Chú Đặc công biệt động quân Giải phóng”. Ấp Trùm Bào - xã Phước Thạnh - huyện Châu Thành - tỉnh Tiền Giang nơi ấy tôi nợ đất, nợ người… để mỗi lần có dịp ghé qua, nén hương dâng người mẹ Thím Ba trọn niềm tri ân hối lỗi.

02/8/2023

Lưu Giang

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »