
z(Kính tặng CCB Dương Văn Thịnh)
Tôi có hạnh phúc kỳ diệu là gặp em trai, mà gặp đến hai lần, khi hai anh em tôi cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.
Thực ra khi đó chưa ai biết sắp tới là những ngày Lịch sử, chỉ trọn niềm tin thắng lợi. Nơi hậu phương miền Bắc một không khí sục sôi, tất cả thanh niên ao ước góp công. Tròn mười bảy tuổi tôi viết đơn xin nhập ngũ.
Từ quê hương Bắc Thái trung du mang cả sắc thái miền xuôi miền núi… chúng tôi những chàng trai trẻ có một ngày gặp nhau. Đó là mùa hè 1974.
Qua thành phố Thái Nguyên với những con đường thẳng và rộng hơn nhiều lắm đường làng, nơi chúng tôi tập trung là xã Túc Duyên. Tại đây một số được chọn về đơn vị Hậu cần, Kỹ thuật, vân vân… Tôi cùng số đông còn lại trải nghiệm một ngày nắng tháng Sáu đi bộ về xã Tân Đức. Buổi chiều trời đổ cơn mưa to, thảo nào oi bức thế.
Tập trung trên sân d11 f304b, Tiểu đoàn trưởng giới thiệu tên là Sỹ. “Nghiêm”! Một tiếng hô dưới trời mưa lắng đọng tận bây giờ… Chúng tôi về các Xê, trong đó c113 là đơn vị chủ công trong huấn luyện.
Đồng đội ơi ghi khắc ngày 23/12/1974 chúng ta xốc ba lô ra trận. Phiên hiệu Đoàn 2010. Tạm biệt bãi đèo, rừng thông, hồ nước Tân Đức thân thương. Tôi được phong Binh nhất A Trưởng, oách phết nhưng có phần vất vả hơn trên đường hành quân vào đến chiến trường.
Đường Trường Sơn không thể gọi ổ gà… phải là ổ trâu, voi. Những chiếc ô tô gaz 69, Hồng Hà gầm gừ chồm lên tụt xuống, bùn đất khô bụi ngập bánh xe nghe lộp xộp như gõ vào đầu tôi say xe nằm bẹp. Kệ cho ba lô, xoong nồi, cuốc xẻng va đập vào người… Cảm phục sức cha anh khi nhìn bên trái đường, những đường ống nối dài bên sườn núi tiếp xăng dầu cho tiền tuyến.
Trạm nghỉ A Tô Pơ, Sê Pôn gặp đoàn thương binh nặng trên đường quay ra Bắc, các anh nói: “Vào nhanh lên kịp chiến đấu, không thì chỉ còn nhặt ống bơ”…
Được dừng chân ăn Tết Nguyên đán ở làng 7 Lộc Ninh. Dù chỉ huy đã cấm và tháo hết kim hỏa, đón Giao thừa vẫn rộ tiếng súng và tiếng lựu đạn của lính ta. Bịn rịn chia tay các anh chỉ huy huấn luyện… Bê trưởng anh Thế giờ biết còn sống, có khỏe không?
Qua sông Đồng Nai đoàn Tân binh được chia về đơn vị chiến đấu, chủ yếu về e33 và e4. Tôi cùng một số anh em về e4. Đến đón chúng tôi là hai anh cán bộ. Anh Tám Vĩnh (khoác khăn rằn, dép Thái Lan mà anh đi nhanh lắm), và anh Kiều Vĩnh Lộc dẫn quân về.
Lần đầu biết “vượt lộ” nan nguy. Trinh sát bám lộ trải ni lông để đoàn quân qua không dấu vết, thoáng xa thấy động lại cuốn tấm ni lông. Chạy vụt qua lộ 20 tôi liếc nhìn mặt đường tự hỏi mùa khô mà sao lênh láng nước? hóa ra tôi dân quê nay lần đầu thấy mặt đường dầu.
Về hậu cứ e4 an toàn chúng tôi nghe phổ biến có anh em trong đoàn 2010 hành quân về đơn vị dọc đường gặp địch… lính mới mà nổ súng rất dũng cảm, và đã có hy sinh.
Nghỉ năm ngày để học chính trị, kỹ năng tác chiến. Lớp học trên phủ lá ngụy trang. Xung quanh là tiếng súng, tiếng pháo. U u trên đầu tiếng máy bay L19-OV10 nghiêng ngả soi mói, phát hiện mục tiêu nghi ngờ nó bắn pháo hiệu, vừa nghe “tùng cảo” là rất nhanh A37 lao đến trút bom. Nghe kể đã có đơn vị bị lộ, bị dội bom thiệt hại.
Sau những ngày học tập tôi được phân về c12 d3, chính thức thành anh Giải phóng quân Hòm thư 780050 4Q 3K J12- Q4 Miền Đông Nam Bộ. Tối đó anh em tôi được chỉ huy đưa thẳng đến nơi c12 đang chiến đấu phía đông chân núi Gia Ray.
Bài học kỹ năng đầu tiên là khi về hầm tiểu đội, a trưởng anh Lê Hải Âu người Hải Hưng kéo tôi xuống hầm, tối quá không thấy gì tôi bèn lấy ra bật lửa trang bị khi đi B, vừa quẹt thì bị anh u thò chân đạp ngã chúi: “Địch ngay trước hầm, mày bật lửa làm lộ nó bắn chết à”?
Tiếp đó được phân công gác. Tôi ôm khẩu AK47 cùng anh u mỗi người một cửa hầm chữ T. Chừng nửa đêm qua chớp pháo phát hiện loáng nhoáng bóng mũ sắt ngụy rất gần, có lẽ chỉ khoảng mười lăm, hai mươi mét. Run, thấy cửa hầm bên nổ súng tôi cũng bắn, nhưng không bắn được hai viên mà thành năm, sáu viên một lần. Những viên đạn đầu tiên trên chiến trường chẳng biết có tiêu diệt được thằng địch nào không? Khoảng hai, ba giờ sáng lệnh bí mật rút về hậu cứ.
Hậu cứ c12 phía Tây bên kia núi Gia Ray. Về được hai ngày thì ngày thứ ba lại vượt núi sang phía Đông đánh chi khu Ông Đồn. Được nghe cách đây gần tuần các chiến sĩ đặc công đã đánh nơi này nhưng không thành, vẫn còn năm anh hy sinh chưa lấy được về mai táng. Xuất phát từ chập tối, lực lượng gồm các Tiểu đoàn 1- 2- 3 của e4 và các Đại đội trực thuộc như công binh, DKZ, 12ly7… mò mẫm hành quân vượt dốc đá trong đêm. Tôi từ nay là xạ thủ B41. Nhận bốn viên đạn tôi lắp sẵn một viên vào súng, trên lưng đeo giá đạn ba viên.
Khoảng một, hai giờ sáng tới chiếm lĩnh trận địa. Trận địa là vườn toàn cây chuối nên hai người đào hầm còn một người chặt chuối đắp mặt hầm. Hầm tôi có anh u a trưởng và Dương Xuân Điều đồng hương cùng xã. Hầm làm xong Điều lên khỏi hầm ngồi thở thì bất ngờ một viên đạn bay tới xuyên đùi, vội tụt xuống hầm, máu tuôn ướt quần, băng bó chuyển về sau.
Bốn giờ sáng trong chi khu Ông Đồn có nhiều tiếng nổ, lửa bốc lên hỗn độn chưa biết vì sao… Chờ đợi làm tôi hồi hộp.
Giờ G nổ súng là năm giờ sáng mà năm giờ kém mười thông tin mới được mở máy lên sóng, rồi liên lạc Ma Đình Thảo xuống truyền lệnh phân công tôi đi cùng một tốp năm- sáu anh trinh sát Tiểu đoàn. Cũng như các anh tôi ở trần, sau này mới biết khi tác chiến cởi trần, chân dép đi tất là đặc thù riêng của e4 Đồng Nai - Đông nam bộ.
Tôi ôm khẩu B41 theo đội trinh sát vượt lộ, vòng qua cửa chi khu, bám rừng chuối được khoảng hai trăm mét thì phát hiện trên lộ quân ngụy đang rút ngược ra hướng Tánh Linh. Một số các anh chạy về báo Tiểu đoàn, tôi được phân công cùng hai anh bám địch.
Khoảng mười lăm phút sau lực lượng Tiểu đoàn vận động tới, đồng loạt nổ súng. Địch tản ra bên kia đường bắn lại. Giữa loạn xạ tiếng đạn vẫn tiếng xe gắn máy của dân chạy tới gần rồi cuống quýt quay lui. Nổ súng một lúc thì chúng tôi được lệnh rút lui. Lúc này pháo, cối, M79 của địch bắt đầu nã trùm lên rừng chuối.
Trinh sát rút sau cùng, tôi loay hoay thế nào lại rút sau cùng đội trinh sát. Bất ngờ một mảnh M79 găm vào phần mềm gần đầu gối làm tôi không đứng được nữa. Phía trước thoáng thấy anh Quyết, mừng quá tôi gọi. Không nghĩ tôi bị thương, ngoảnh nhìn rồi anh chạy tiếp… đồng hương tôi cũng trận đầu mà.
Vậy là tôi vừa bò vừa lết, thở hổn hển, cùng là người sừn sừn sốt… vượt qua dốc núi cùng khẩu B41 và ba viên đạn, một lắp sẵn vào súng và hai viên trong giá đạn (tôi mới bắn một viên).
Về tới đơn vị, băng vết thương xong y tá cặp nhiệt độ cho biết tôi vừa lúc bị thương lại cơn sốt rét. Tôi được cáng lên trạm phẫu K23 và được chuyển lên Viện tiền phương của Miền. Viện đóng cạnh sông La Ngà. Vào viện tôi được gặp Dương Văn Lợi e33 là người cùng làng bị thương trước mấy ngày.
Khi vết thương tạm ổn tôi rủ Lợi xuống rìa sông La Ngà chơi. Mùa khô nước cạn, chúng tôi vui thích men theo dòng nước trong veo để lộ đáy sông đá trắng xen cỏ mọc xanh nơi nước mới rút ven bờ. Và thật bất ngờ phát hiện xe tăng ta T34-T54 được giấu trong hầm kín lá ngụy trang chỉ lộ ra nòng pháo.
Còn nữa hai bên bờ sông, nhất là bên phải hướng ngược dòng cơ man các loại súng, cối, B40-41, các thùng đạn, các thùng liều phóng của B40-41 được cất giấu ngụy trang… có chỗ gần ngay mép nước. Nơi đây rất gần Xuân Lộc căn cứ lớn của địch. Tình hình vũ khí như vậy chắc mình sắp đánh lớn rồi, lòng tôi xốn xang.
Bắt đầu những ngày Tháng Tư năm 1975.
Sau thời gian điều trị trở về đơn vị chiến đấu thương binh e4 chúng tôi đi tập trung thành đoàn. Mờ mờ ánh trăng non, cứ thấy địch lại vòng tránh ra xa, qua ngã ba Ông Đồn nơi trận đầu tôi tham gia và bị thương hơn hai mươi ngày mùi cao su vẫn còn khét lẹt.
Hành trình hai ngày hai đêm về tới đơn vị. Mới biết cuộc chiến đang hồi quyết liệt. Thời gian tôi điều trị đã lỡ nhiều trận đánh của e4- e33. E4 của tôi còn bị lính ngụy rút chạy từ Nha Trang - Phan Rang về Sài Gòn tràn qua hầm, anh em nổ súng không cản nổi… tôi đã không còn gặp một số người.
Thương nhất là suốt dọc đường, đoàn thương binh có anh Bản lớn tuổi hơn cả (hình như anh quê Nam Hà) cứ năn nỉ tôi đổi cho anh ấy cái màn tuyn để anh ấy khâu làm màn trùm võng. Đổi lại là một cái võng dù đạn đã xuyên nhiều lỗ với chiếc màn chữ A đơn. Cố kèo thêm hai túi cầm máu, sang ngày thứ ba tôi mới đồng ý. Sau này cái màn khâu chưa xong anh đã hy sinh.
Nhận nhiệm vụ tiền đồn Xuân Lộc - Ngã ba Dầu Giây. Từ cứ hậu phương c12 chúng tôi đi qua một rừng cao su, chui qua một hầm cầu đường sắt, vượt qua lộ 1 và hai khoảng trống (hai bên lộ địch ủi sạch khoảng rộng hơn trăm mét)… Không ngớt trên cao tiếng pháo của địch ở Trảng Bom bắn ra, tiếng hỏa tiễn H12 của ta vun vút từ phía sau hướng tới.
Về đơn vị tôi lúc này vết thương chưa lành hẳn, mang chiếc bồng bên trong là võng dù và cơm vắt, tôi lại được giao giữ B41 và sáu quả đạn. Đến vị trí chiến đấu một quả lắp sẵn ở súng, còn năm quả tôi để sau lưng hầm.
Hầm được làm chắc chắn bằng những khúc cây cao su do anh em mới làm hôm qua. Hôm qua hầm này có ba người, một bị thương, một đã hy sinh, giờ chỉ còn mình Phúc. Phúc đồng hương cùng nhập ngũ với tôi thấy tôi đến bổ xung thì mừng lắm… Phúc kể: hôm qua Tiểu đoàn 3 mình tập trung đánh vào trại lính ở ấp Trần Hưng Đạo.
Sau khi cối của ta rót vào trận địa, theo hợp đồng tổ công binh cho nổ bộc phá phá hàng rào. Căn cứ phòng ngự kiên cố, địch liều chết phản công… các anh công binh bị thương và hy sinh gần hết. Sau cùng Đại đội trưởng công binh (anh tên là Tứ thì phải) ôm bộc phá lao lên cửa mở, anh hy sinh ngay trước mắt bao người… Chiếm lĩnh trận địa, thu dọn chiến trường xong ta rút về đây.
Chỉ có hai anh em mà trên phổ biến là phải chuẩn bị các cửa hầm đằng trước, đằng sau, hai bên. Hóa ra không phải như các trận trước đánh chiếm xong thu dọn chiến trường, nay đơn vị tôi giữ chốt.
Những ngày chốt giữ tại lô cao su rìa quốc lộ 1 sát ấp Trần Hưng Đạo thật vô cùng khốc liệt. Pháo địch trút xuống không khi nào dứt. Hướng Trảng Bom ra, hướng Long Khánh vào, hướng Túc Trương Gia Kiệm sau lưng lên. Máy bay liên tục quần đảo trên trời, cứ nghe tiếng rít của máy bay A37 là “ục ục” đồng thời hai tiếng bom tức thở.
Có đêm pháo nã vào sườn hầm làm nổ tan tành cả giàn năm trái B41 cùng cơm nắm và thùng đạn đại liên nước. Chúng tôi dưới hầm không bị mảnh pháo nhưng chảy máu tai, máu mũi… đầu ù ù mất mấy ngày.
Ban ngày thì lính biệt động quân, bộ binh ngụy dàn hàng ngang với đủ loại đạn nhọn, súng chống tăng, súng đại liên Mã lai nã vào. Có hôm buổi tối vẫn xe tăng cùng lố nhố mũ sắt loang loáng theo hiệu lệnh còi, tiếng đốc quân… Nghe nói đoạn đường do c11 đảm nhiệm đã có lúc M48 địch tràn vào nghiến sập hầm.
Hậu cứ của Trung đoàn tôi ở dọc suối Nhạn cũng chẳng hơn. Nghe kể hôm mười bốn, mười lăm gì đó bị địch ném bom hy sinh một số anh em. Bên d2 còn thiệt hại nặng hơn do bom trúng vào nơi Tiểu đoàn đang họp.
Từ phía Xuân Lộc cách chỗ chúng tôi hơn chục kilomet bom pháo nổ suốt từ trước ngày mười. Nghe phổ biến địch dùng bom hủy diệt không khí làm Quân đoàn 4 của ta hy sinh rất nhiều. Có lần thấy các đồng đội mặc quân phục ga ba đin còn mới vào xin trú nhờ hầm, hỏi thăm mới biết đơn vị anh em đánh vào Xuân Lộc suốt tuần nay chưa thắng còn bị bom pháo nó nã cho tan tác lạc vào.
Anh em cũng ngạc nhiên hỏi chúng tôi là du kích sao lại nói tiếng Bắc? Hóa ra thấy chúng tôi cởi trần, đen thủi, họ tưởng là du kích miền Nam.
Những ngày này trên trời dày đặc các loại máy bay. Trực thăng chở ngụy quân tiếp viện, máy bay cánh quạt treo lủng lẳng dưới thân là các loại pháo, 105ly và có cả 155ly. Chúng bay rất thấp trên đầu chúng tôi nhưng lệnh trên không cho bắn. Nhiệm vụ chúng tôi là không cho địch tăng viện Long Khánh bằng đường bộ.
Cứ như vậy, đất đỏ bị cày xới cùng với những cây cao su cụt cành xơ xác, trống hoác một khu rừng. Tối đến hậu phương mang cơm ra còn không nhận ra trận địa, phải vừa bò vừa tắc lưỡi ra ám hiệu gọi nhau. Có lần can nước bị mảnh đạn làm thủng anh em tôi còn mỗi nắm cơm với muối lạc khô, lạo xạo mì chính chắc anh nuôi thêm vào cho chúng tôi bồi dưỡng… Khổ nhất là những đồng chí bị hy sinh hoặc bị thương phải chờ tối đêm mới được bên vận tải mang ra.
Khoảng quá trưa ngày 18/4/1975 toàn Tiểu đoàn được lệnh xuất kích. Vượt qua khu trận địa phía đông bắc, qua mấy quả đồi. Liên tiếp những làn pháo địch, bom A37 cứ hai quả một dội vào đội hình… Biết làm sao, ai còn vẫn phải vận động lên. Tiếp cận một khu lô cao su, lao vào tránh pháo bom tôi phát hiện dày mìn claymore, vội hô nhau lùi lại tản hướng khác.
Qua rừng cao su là tới nơi Căn cứ địch đã im tiếng súng, đầu sân gặp ngay một chiếc tăng M48 vẫn đang nổ máy, giật mình rồi mới thấy nó không còn hoạt động, tiếng rên dưới gầm xe giọng Nam pha Bắc “ối bố mẹ ơi con đau quá”! Có anh lấy đèn pin (lúc này trời đã sẩm tối) soi vào, ra là một lính ngụy bị thương nằm kẹt đó.
Đây là nơi đồn trú của Chiến đoàn 52 ngụy, ấp Nguyễn Thái Học, mấy ngày qua cả e4 và e33 của ta tập trung đánh vào. Trận đánh vừa thắng lợi lúc chiều. Chúng tôi vào chiếm lĩnh trận địa có hầm ngụy đèn vẫn sáng.
Suốt đêm hôm đó chúng tôi dọn dẹp củng cố lại các hầm chiến đấu. Ngồi gác mà nghe tiếng rên tên ngụy bị thương, lính ta đã tắt máy xe tăng cộng trong đêm tiếng rên nghe càng rõ, căm thù bao nhiêu thì tiếng kêu đồng loại cũng xót lòng, đến nửa đêm thì không còn nghe thấy nữa… Gần sáng c12 chúng tôi được lệnh lên xe GMC trở về vị trí cũ ở ấp Trần Hưng Đạo.
Khoảng ngày hai mươi hay hai mốt lệnh trên xuất kích. Băng qua lộ 1, qua lô cao su Ông Quế, đến suối Râm thì đuổi kịp ngụy quân đang rút bộ từ Long Khánh, hướng Cẩm Đường ra Long Thành… Chấm dứt hơn chục ngày nằm hầm hứng bom pháo địch.
Và giữa thời gian này là điều kỳ diệu của chiến tranh.
Đêm mười tám tháng Tư tôi còn ở chiến đoàn 52 ngụy, thì hôm sau khoảng quá nửa đêm tại trận địa ấp Trần Hưng Đạo có đoàn bộ đội hành quân qua, qua chớp pháo thấy anh em ta toàn mặc quần áo ga ba đin còn mới, hỏi ra là một đơn vị thông tin tiền trạm, chúng tôi gọi tìm đồng hương. Thật bất ngờ thấy có người nói quê Bắc Thái, tôi hỏi huyện nào, anh em trả lời huyện Phú Bình, hỏi xã thì được trả lời xã Hương Sơn…
Bước chân như lôi, tôi sách xúng chạy đến gần thì hóa ra là chú Điều em ruột, ở nhà tên gọi là Đều. Hai anh em ôm nhau mừng quá. Không khóc, em tôi nguyên nét trẻ miệng cười. Tôi hỏi ngay “sao mới mười sáu tuổi mà đi bộ đội”? Đều trả lời “em giấu mẹ xung phong”! Tháng 2/1975 em vào đơn vị thông tin huấn luyện ở Hòa Bình, đầu tháng 4/1975 đơn vị lên tàu biển vào miền Trung. Em theo Bộ tư lệnh Tiền phương đến đây và nay cùng đơn vị đi tiền trạm.
Đoàn quân cứ vội qua, chia vui với anh em tôi là những nụ cười loang loáng. Có tiếng gọi chỉ huy… Đều chạy theo đơn vị.
Quá bất ngờ, vậy là em nhập ngũ khi chưa tròn mười sáu, để anh em gặp nhau giữa chiến trường, nơi Ngã Ba Dầu Giây khốc liệt. May trong đêm em chẳng thấy tôi: da bong tróc, tóc lông mày đất đỏ bết cứng, bàn tay đen đậm máu thương binh… Tôi cũng không nhìn rõ Đều ra sao, chỉ biết quãng đường người lính gian lao, còn nhỏ chắc em phải gắng hơn tôi nhiều lắm.
Chút giận, chút thương. Chí trai đã thỏa nhưng chiến tranh không phải trò đùa… ước gì gian lao dồn hết vào tôi.
Sau Giải phóng Miền Nam được mấy ngày, tôi lại gặp Đều ở khu tổng kho vật tư Biên Hòa sát cầu Ghềnh, Đồng Nai… mới biết đơn vị hai anh em cùng đóng ở hai cổng sân bay Biên Hòa. Thật may mắn vì chỉ vài ngày sau, ngày 10/5/1975 đơn vị em di chuyển.
Còn lúc này đây, buông tay để em tôi vào sâu nơi chiến trận lòng tôi bao cảm xúc đầy vơi. Ôm vội lần nữa, tay tôi ôm vào khẩu súng trên lưng người lính trẻ, có lẽ là trẻ nhất đoàn quân.
Tự hào dâng trong mắt! Bài ca giữ nước, Bài ca ra trận… có nơi nào đẹp hơn Việt Nam tôi?
26/5/2023