Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 1508 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »
D15 gang thép Thái Nguyên

❊ ❊ ❊

(Kính tặng CCB Phạm Minh Tuấn)

Có một Tiểu đoàn mà cái tên đã là câu chuyện kể, “D15 Gang Thép Thái Nguyên” yêu quý của tôi. Tôi không phải gốc Thái Nguyên. Lý Nhân - Hà Nam nơi tôi sinh ra đất chật người đông, theo chủ trương của Đảng đưa dân đi khai hoang tôi có quê hương thứ hai Bắc Thái.

Khi đó tôi còn là học sinh. Cuộc chiến chống Mỹ đang kỳ ác liệt, tất cả vì tiền tuyến Miền Nam và dù vất vả thế nào mẹ cũng gắng cho tôi học xong lớp 7. Hòa bình thống nhất. Tổ Quốc kêu gọi lớp thanh niên tiên phong xây dựng đất nước hàn gắn vết thương của chiến tranh. Xung phong đi công nhân tôi được tuyển về Công ty Gang thép Thái Nguyên. Công việc nặng nhọc vất vả xong với tinh thần của tuổi trẻ chúng tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành giao.

Nhưng rồi đất nước chưa yên, phía Tây nam Tổ Quốc cần, tại Núi Voi nơi tôi làm việc gồm gần hai mươi anh em xung phong được tuyển chọn vào quân đội. Cả Công ty Gang thép Thái Nguyên tuyển được một Tiểu đoàn thành tên gọi “D15 Gang thép Thái Nguyên”.

Sau buổi tiễn quân trang trọng tại nhà Truyền thống với lễ ký cờ Luân lưu, xe zin khơ đưa chúng tôi qua nơi tập trung gần cầu Gia Bảy rồi thẳng đến xã Mỏ Gà huyện Võ Nhai, tôi được biên chế về c2 d1 e197.

Huấn luyện là những ngày tháng vô cùng vất vả, sinh hoạt gần như dựa vào người dân cho bộ đội ở nhờ. Sáu tháng nơi đây, tấm lòng người dân tộc Tày với bộ đội chúng tôi là ân nghĩa không bao giờ quên được.

Bất ngờ phía Bắc quân xâm lăng gây hấn. Sáu tỉnh biên giới báo động. Đã hoàn thành huấn luyện, ngày 17/2/79 cả Trung đoàn 197 được lệnh lên đường. Nhận lệnh là mười lăm giờ chiều đi luôn. Hướng tới Lạng Sơn, chúng tôi những người lính D15 Gang thép Thái Nguyên xin hứa sẽ bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng Tổ Quốc. “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, thôi thúc quân đi như mùa xuân vẫy gọi”… tiếng xe hòa vào tiếng hát chúng tôi.

Chỉ vài tiếng là tối đêm, xe chạy chậm, từ Bắc Sơn bắt đầu gặp bà con ta người gánh, trâu bò kéo hàng dài về xuôi sơ tán. Trong mưa rét lấm lem, nhìn cảnh dân kêu khóc, lòng mỗi chúng tôi sôi sục căm thù…

Từ Bình Gia, Tu Đồn đã nghe tiếng pháo, được biết pháo quân Trung Quốc bắn sang đất ta đã tới Điềm He. Qua cầu Khánh Khê một đoạn là xã Bình Trung, đến chân dốc Lũng Pảng thì đoàn xe chở chúng tôi dừng lại, toàn bộ quân xuống xe cho xe quay ngược lại. Cán bộ quán triệt tình hình hiện tại là vùng nguy hiểm, lực lượng người Hoa, thám báo hoạt động cả ngày đêm.

Qua Tu Đồn Sở chỉ huy Trung đoàn 197 đóng tại hang Đại An. Theo phân công của chỉ huy d1 chúng tôi vận chuyển súng đạn lên Hồng Phong, nhiệm vụ chặn địch từ phía Đồng Đăng xuống, phía Trục Hồ - Tam Lung sang. Sau đó đơn vị chuyển lên điểm cao hỗ trợ các đơn vị khác đánh chặn địch đến từ nhiều phía vì chúng thạo địa phương (chúng nó có thám báo chỉ đường).

Từ bên kia biên giới pháo quân Trung Quốc bắn sang đất ta liên tục, H12 chia cắt hỗ trợ cho lũ bộ binh. Trải qua chiến đấu lực lượng của ta cũng bị nhiều hao tổn. Chúng tôi luôn được các cấp chỉ huy bám sát động viên.

C1 bảo vệ chốt 607 chặn địch từ hướng bản Nà Luộc không cho địch chiếm điểm cao.

C3 chặn địch từ bản Cốc Nậm không cho địch từ hướng Hoàng văn Thụ liên lạc với nhau.

C4 chốt hướng xã Nhạc Kỳ.

Tất cả những tác chiến trên được chúng tôi chấp hành nghiêm vì đây là cuộc chiến một mất một còn với lực lượng “biển người” của địch.

Đã có bao tấm gương anh hùng của Tiểu đoàn.

Dùng hỏa lực các loại, xe tăng Trung Quốc đã vào tới đất Hồng Phong, với cách đánh lấy ít đánh nhiều, Trung đội trưởng Trần Quốc Thể người Kỳ Anh Hà Tĩnh đã bắn đứt xích xe tăng Trung Quốc, chúng bỏ chạy, tối đến anh xuống tháo khẩu 12ly7 của xe tăng đánh lại địch. Đại trưởng của c2 đã anh dũng hy sinh trên mảnh đất Hồng Phong. Bê trưởng b3 Nguyễn Trọng Bộ quê Mỹ Yên, Đại Từ, Thái Nguyên lên thay thế và anh cũng anh dũng hy sinh khi người vợ ở quê mới sinh con và anh là lính tái ngũ. Tiếp tục bê trưởng b1 Nông Bích Hợp người Na Rì cũng hy sinh… cùng nhiều chiến sĩ.

Đáp lại các đợt tấn công của địch là tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Gang thép Thái Nguyên dũng cảm, ngoan cường.

Không chiếm được chốt tiền tiêu, địch dùng thám báo đưa quân đi vòng xuống từ phía sau đánh vào vị trí d2 chốt giữ gần cầu Khánh Khê và gặp sự kháng cự mạnh mẽ của lực lượng d2 kết hợp với f3 đoàn Sao Vàng. Trong cuộc chiến đấu ác liệt ngày ấy giữa hai bên nước sông Kỳ Cùng chuyển thành màu đỏ.

Sau vài ngày thì địch chiếm được vị trí này nhưng không qua được cầu Khánh Khê, chúng quay lại tấn công vào d1 chúng tôi từ phía sau, phía trên chúng hỗ trợ thành thế vu hồi. Những người con của Gang thép Thái Nguyên đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu với chiến thuật biển người của địch từ hai phía… nhưng với đặc điểm của chúng là đánh theo giờ hành chính như công chức nhà nước.

Trong những ngày này tháng 2/1979 lực lượng f337 từ Nghệ An đã kịp ra chi viện, tiếp cận cầu Khánh Khê. Nghe tiếng pháo biết chủ lực ta hình như quân Trung Quốc khiếp quá tháo chạy, cũng từ đây pháo lớn các loại của ta thỏa sức nhả đạn… Cuối cùng địch tuyên bố rút quân.

Cảm giác của chúng tôi lúc này sung sướng vô cùng xong lại thật buồn vì đồng đội của mình nằm lại…

Người chiến sĩ, người con của quê hương Lạng Sơn, anh Vi Văn Thắng chỉ huy tiểu đội chiến đấu đến hết đạn, quyết giữ trận địa các anh tuốt lê giáp lá cà, cả tiểu đội hy sinh. Ngọn đồi giờ đây mang tên anh. Một miếu thờ được nhân dân dựng tại sườn đồi gọi là miếu Vi Văn Thắng.

Sau hai mươi ngày anh dũng chiến đấu, Tiểu đoàn Gang thép Thái Nguyên chúng tôi xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều gương anh dũng được đi báo công. Tập thể chiến sĩ Tiểu đoàn Gang thép Thái Nguyên được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Ngày 24/2/1979 Quân đoàn 14 Quân khu 1 được thành lập là dấu mốc lịch sử quan trọng trong cuộc chiến bảo vệ Tổ Quốc đặc biệt bảo vệ Biên giới phía Bắc. Trung đoàn 197 chúng tôi sáp nhập thành e197 f337 R14. Vinh dự từ đây Sư 337 mang tên Đoàn Khánh Khê - Cánh Cửa Thép Lạng Sơn.

Tại đồi Pá Pách đầu cầu Khánh khê (thuộc xã Bình Trung) Bia Tưởng Niệm được dựng lên nhắc muôn đời sau nhớ những ngày này các chiến sĩ Sư đoàn đã dũng cảm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh bảo vệ Tổ Quốc. Tạm thời các cấp lãnh đạo thống kê ghi nhận sự hy sinh của hơn sáu trăm cán bộ chiến sĩ. Trong đó có Liệt sĩ Tiểu đoàn Gang thép chúng tôi.

Hơn bốn mươi năm vang trong tôi, trong mỗi chúng tôi Cựu chiến binh Tiểu đoàn Gang thép Thái Nguyên lời ca một chiến sĩ của Tiểu đoàn ngẫu hứng viết nên dựa theo nhịp điệu “Bài ca Tiểu đoàn 307”.

“Chốt trên đường 1B anh dũng

Đã chiến đấu hai mươi ngày chiến đấu, lập nên thành tích huy hoàng

Đây Anh hùng Vi Văn Thắng, Nguyễn Kim Tượng quân giặc khiếp kinh

Gang thép, Tiểu đoàn gang thép

Đoàn quân ấy mới rời xưởng máy”…

Sau khi địch rút chúng tôi làm công tác thương binh tử sĩ. Mưa phùn trời Biên giới, lòng người lính tái tê. Mới hôm nào cùng nhau đi từ nơi huấn luyện đoàn xe tải, xe ca, xe zin khơ năm, sáu mươi chiếc hùng dũng nối nhau… giờ một phần Trung đoàn nằm lại.

Đưa các đồng đội về Nghĩa trang. Thật đáng buồn trong bốn người chúng tôi tranh thủ về cưới vợ thời kỳ huấn luyện có hai đồng đội đã hy sinh, đó là Vũ Hồng Khang và Đại đội trưởng của chúng tôi Nguyễn Kim Tượng. Chung một góc nỗi lòng dành cho người vợ trẻ mới làm vợ mấy ngày (với tôi là đúng một ngày), khoảnh khắc này ai có ở tâm trạng tôi mới hiểu. Xót xa vô vàn… Cảm giác mình là hạt gạo lọt sàng, chiến tranh nhất định phải có người “đi” và đồng đội dành cho tôi phần sống.

Tình hình biên giới vẫn liên tục xảy ra xung đột nên chúng tôi vẫn sẵn sàng chiến đấu cao. Khổ nhất giai đoạn này. Làm hầm bê tông vất vả sau còn phải tự túc lương thực do khó khăn chung, lãnh đạo kêu gọi. Mùa lại qua mùa, những khi ngọn cây tuyết kết bông trắng xóa mới thấm câu các cụ: “Cái đói cái rét ngang nhau”, xong tinh thần của chiến sĩ ta hăng hái.

Căm thù quân xâm lấn, thế là công việc hầm hào bê tông được xây dựng vững chắc, sẵn sàng cho những trận chiến đấu tiếp theo. Hồn nhiên như bài thơ viết cho lính chốt chúng tôi ngày ấy:

“Gạo sấy khoai mì bát canh toàn quốc

Nước chấm đại dương đỡ lúc đói lòng

Cũng có khi thịt ấm chân răng

Nhưng có bữa cơm toàn muối trắng

Nghĩ tới đây anh bỗng cười xòa

Đất nước khó khăn quân thù còn đó”…

Thực ra đã tự túc thì đâu có “cơm toàn muối trắng”! Toàn sắn. Chúng tôi vẫn vô tư lãng mạn… Nơi chốt điểm 607 đẹp nhất mùa hoa sim nở, cả một rừng hoa trông thật tuyệt vời.

Một ngày oi ả tháng Năm 1980, Trung đoàn 197 được lệnh lên đường vào bình độ 400 thuộc xã Thanh Lòa, Cao Lộc. Diễn tập với tinh thần rất cao sẵn sàng cho mọi tình huống. Một tuần nơi đây được sinh hoạt bằng đồ hộp gạo sấy của Nga. Trong một tuần không có chuyện gì xảy ra chúng tôi lại rút về vị trí cũ.

Những ngày này nói chung căng thẳng, địch chĩa sang ta quyết liệt với truyền đơn, loa kêu gọi “đầu hàng”…

Có lần tôi đưa một trung đội đi trực chốt trên bản Ma Mèo thuộc mốc 16 đường đi Na Sầm. Từ đài quan sát của e197 nhìn sang sườn bên kia, Trung Quốc ngang nhiên xây dựng bằng ô tô chở vật liệu, còn bên mình vận chuyển với sức người. Ở đây nguy hiểm, bí mật, sẵn sàng cao. Ba tháng chốt ai nấy đều cảm thấy như ba năm, không phải là sợ mà là gò bó. Hết thời gian, đơn vị khác lên thay thế, chúng tôi trở về điểm chốt 607.

Rồi cái gì đến cũng phải đến, Bình độ 400 “bùng nổ” nhưng đợt này e197 chúng tôi không tham gia chiến đấu trực tiếp. Tại đây những ngày này sự hy sinh của các đồng đội e52, e198 đặc công là quá lớn. Pháo ta, pháo địch cày xới quả đồi chẳng còn chút màu xanh. Rúng động là trận pháo kích của ta ngày 10/5/1981 có sự góp mặt dàn pháo phản lực Kachiusa.

Sau một thời gian tranh chấp không thành, bè lũ bành trướng phương Bắc đã phải rút quân về bên kia biên giới.

Vang dội những chiến công, lá cờ Đoàn Khánh Khê - Cánh Cửa Thép Lạng Sơn thắm máu bao người con không trở về. Biên giới hôm nay in bóng các anh.

Trong những năm tháng tiếp theo tình hình vẫn chưa thể bình yên, những cuộc giao tranh nhỏ lẻ vẫn liên tục xảy ra. Không khoan nhượng, kiên trung người lính âm thầm giữ gìn từng tấc đất Tổ quốc.

Năm 1983 tôi được đơn vị cho phục viên. Theo nguyện vọng của mình tôi trở về quê hương. Hòm thư 1A 2683 BT và Công ty Gang thép Thái Nguyên thành kỷ niệm.

Được biết năm 1999 Sư đoàn 337 được cấp trên giao chuyển đổi nhiệm vụ và đổi tên thành Đoàn KT- QP 337, luôn phát huy xứng đáng truyền thống vẻ vang, ngày 28/7/2024 tới đây đoàn kỷ niệm 45 năm ngày thành lập. Cũng là 45 năm cuộc chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc lùi xa.

Lạng Sơn, Điểm cao 607 tôi quay lại nhiều lần. Sao quên được nơi những năm tháng tuổi trẻ anh em đồng chí đã gian khổ sống chết cùng nhau. Khắc ghi tình nghĩa bà con nhân dân giúp đỡ cưu mang chúng tôi trong cuộc chiến đấu.

Biên cương mỗi ngày đổi mới, vết thương trên đất đã lành. Nối hai bờ sông Kỳ Cùng, cầu Khánh Khê mới được xây dựng cách cầu cũ - Cánh Cửa Thép một thời chừng năm trăm mét. Thông thương… mang bao mong ước Hòa bình - Hữu nghị.

“Được về nhận kỷ niệm chương

Trái tim người lính biên cương một thời”…

Câu thơ đầy cảm xúc đó tôi viết trong một ngày đặc biệt. Ngày 30/4/2023 vừa qua tại Tây hồ Hà Nội, Câu lạc bộ Biên Giới Trong Trái Tim Người Lính tổ chức buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương cho Cựu Chiến Binh đã hoàn thành nhiệm vụ cuộc Chiến tranh Biên giới phía Bắc. Từ “Thủ đô gió ngàn” đến có tôi và đồng đội Cao Đức Thuận.

Niềm xúc động lớn nữa là Kỷ niệm chương còn được trao cho người nhà Liệt sĩ Vũ Hồng Khang. Đó là câu chuyện dài đúng như câu “cầu sẽ gặp”. Trước đó trên mạng xã hội tôi tìm và đến được địa chỉ gia đình Liệt sĩ Vũ Hồng Khang ở Hà Đông - Hà Nội. Khi Câu lạc bộ thông báo về việc trao Kỷ niệm Chương đợt này tôi đã đề nghị được làm Kỷ niệm chương cho người Liệt sĩ và được Chủ nhiệm trang đồng ý.

Toại nguyện lòng tôi và người nhà Liệt sĩ, ngày vui đã đến, trên tay tôi tấm Kỷ niệm chương tên Vũ Hồng Khang cùng chữ ký của thủ trưởng Ma Thanh Toàn.

Nâng niu như ôm người đồng đội. Một lần nữa thôi… yên nghỉ nhé!

Vòng tay tôi nhỏ bé, vòng tay bạn giờ đây ôm cả đất trời…

Lịch sử cho tôi là người lính để được thấu hai chữ “lòng dân” như câu thơ của tác giả Tuấn Long cũng là đồng đội:

“Mới hôm nào mẹ Suốt chở ngang sông

Trai xứ Lạng vào miền Nam đánh Mỹ

Và hôm nay những chàng trai xứ Nghệ

Lại có mẹ người Tày dẫn dắt qua sông”…

Tròn bốn nhăm năm tôi trở về một nơi với tôi là nguồn cội, thời tân binh trong lòng người dân tộc Tày xóm Mỏ Gà - Phú Thượng - Võ Nhai. Bồi hồi xúc động lòng tôi… Núi vẫn trập trùng nhưng con đường đã khác xưa nhiều lắm, chân núi xưa hoang vắng giờ chen kín những nhà cao.

Hai bảy tháng Tám 1978 là một ngày không bao giờ quên, từ phòng Truyền thống Công ty Gang thép Thái Nguyên chúng tôi về đóng quân tại Võ Nhai, đoàn tân binh vẫn nguyên áo thợ.

Đường 1B từ thành phố Thái Nguyên đi lên rẽ vào ba trăm mét, qua một con suối nhỏ chưa có cầu (sau này đơn vị tôi lấy gỗ làm cầu và đặt cho tên cho cầu là cầu Quân Dân). Nơi trú quân là một bản thưa thớt những nhà sàn.

Đây rồi đầu bản cây đa nay đã to lớn gấp nhiều lần. Ngày ấy chúng tôi đã ngồi dưới gốc cây đa này để chờ phân bổ về a, sau phân bổ chỉ huy đưa đến các nhà dân. Tiểu đội tôi bảy anh em được đưa về ở nhờ nhà bác Hoàng Văn Đoàn. Nhận quân trang, tắm giặt thay đồ xong nhìn nhau mới lạ. Chúng tôi thành chiến sĩ.

Sau mới biết nơi đây là đội 2 Hợp tác xã Phượng Hoàng. Phượng Hoàng là tên một cái hang hun hút cao. Giờ là điểm du lịch, địa phương xây bậc đá đến tận cửa hang mà nhiều du khách còn không lên nổi. Nhớ ngày đó có một hôm cả Đại đội đang tập bỗng một con hươu chạy vút qua, thế là tất cả chúng tôi đuổi theo đến tận hang này thì quây bắt được, đơn vị được bữa hươu nai… Ngày ấy đói, ăn tinh hạt mạch thôi. Các hạng mục huấn luyện thì chúng tôi đã qua môi trường công nhân mà còn thấy khắc nghiệt. Sợ nhất gác đêm rồi báo động thôi thì các loại. Nói chung thời gian huấn luyện của chúng tôi tương đối dài, vất vả… Sống dựa lòng dân thương mến, thật thà.

Nhà bác vẫn đây, hai bác không còn nhưng các em nhớ tôi ngay, nhớ tất cả lứa tân binh chúng tôi Tiểu đoàn Gang thép. Chắc vì qua môi trường công nhân nên chúng tôi cứng cáp và dân vận tuyệt vời, hai bác coi như con cái trong nhà, các em thì thân thiết, đặc biệt ba em gái rất đáng yêu. Nhớ chú em dạy tôi tiếng dân tộc, ra nói chuyện với mấy chị em bị họ cười cho… Nhớ các em gái hay trêu vì tôi sớm lộ ra “chân tẩy” người yêu. Kỷ niệm khó quên vài tiếng đồng hồ đến đây tôi là người đầu tiên có khách, khách là người yêu và hai người bạn cùng làng… cảm kích, cảm ơn tận đáy lòng.

Những ngày đầu nhớ nhà nhớ người yêu da diết, gắng lòng hướng theo lớp người đi trước, tự an ủi phải thích nghi với mọi môi trường. Thế rồi cũng quen. Mùa huấn luyện qua, tất cả chúng tôi đều thành thạo.

Cán bộ khung của chúng tôi ngày ấy đều là lính tái ngũ. Đại trưởng Nguyễn Kim Tượng quê Thanh Ba - Phú Thọ nổi trội vì dáng dấp cao to, chính xác anh cao nhất e197 thời kỳ đó, mỗi mùa quân trang anh lại vất vả vì dáng người ngoại cỡ, bị lính trêu chỉ mặc quần đùi và đi giày khoét mõm. Đến bây giờ tôi vẫn nguyên hình dung về người chỉ huy chuẩn mực là anh. Nhớ lần đơn vị đi lấy gạo mãi tận Đình Cả có chiến sĩ yếu không mang nổi anh hỏi thăm rồi khoác luôn cho. Đi dã ngoại hàng tuần, đói mệt cạn lương, anh san sẻ phần ăn cùng chiến sĩ. Với tôi còn một nỗi niềm… C2 thời huấn luyện trong bốn người được tranh thủ về cưới vợ có tôi và Đại đội trưởng Nguyễn Kim Tượng. Trận đánh trên điểm cao 455, đối diện với biển người của địch, hết đạn anh dùng K54 chiến đấu và ngã xuống trên đất Hồng Phong - Văn Lãng - Lạng Sơn… Người dân Mỏ Gà vẫn nhớ anh, rưng rưng nghe tôi kể.

A trưởng anh Trần Quốc Thể người Kỳ Anh - Hà Tĩnh có kỷ niệm một đêm báo động, trời tối đen như mực a trưởng chạy trước không may ngã xuống ruộng, tiện thể anh bắt toàn bộ chiến sĩ cứ ruộng thụt chạy theo. Đen cho tôi đợt ấy mang RPD vừa nặng lại cồng kềnh, bị ngã và “ông cụ” trung liên đập vào đầu gối sưng đau mất mấy ngày… chú em con bác Đoàn vẫn nhớ chuyện này, hôm nay nhắc lại.

Gặp gỡ các em sau 45 năm xa cách, tay bắt mặt mừng bao đổi thay tốt đẹp, ôn chuyện cũ bùi ngùi điểm tên những anh trong tiểu đội tôi ngày đó không về. Cuộc vui nào cũng tàn, chia tay các em mà lưu luyến quá.

Lưu luyến còn bởi nơi đất này nảy mầm hạnh phúc gia đình. Tình cảm lên một nấc thang khi người yêu đến thăm tôi ngay sau một tiếng đồng hồ biên chế. Cô ấy đang là bộ đội ở sân bay Nội Bài lên quản lý doanh trại quân đội của đơn vị nam đóng quân tại làng tôi, khi yêu nhau tôi là công nhân còn giờ đây là tình yêu của hai người chiến sĩ.

Huấn luyện được gần bốn tháng thì gia đình tôi có ý định xin cho tôi tranh thủ về để làm đám cưới, lúc này chương trình huấn luyện chúng tôi cơ bản đã hoàn thành. Tôi hiểu lòng mẹ. Như lớp cha anh lên đường chống Mỹ, mẹ muốn tôi tròn nhiệm vụ với gia đình. Tình cảm chúng tôi đã chín muồi, và mẹ tôi người Cựu chiến binh thời chống Pháp không biết bằng cách nào “quân vận” để chỉ huy đơn vị tôi đồng ý.

Vậy là thuận lợi, cầm tấm giấy “Đi lại phạm vi trong tỉnh Bắc Thái” tôi ung dung phấn khởi ra về. Đi bộ lên Đình Cả xe chạy rồi, tôi đi bộ tiếp xuống La Hiên, may mắn còn chuyến xe buýt cuối cùng ra thành phố Thái Nguyên. Tôi về nhà vừa sáu giờ tối. Lúc này đầu tháng mười một âm lịch nên trời đã rất tối, cả gia đình vui quá là vui.

“Công việc” chỉ chờ tôi về là tiến hành. Bàn bạc xong xuôi tôi khẩn trương lên đơn vị người yêu (lúc này vẫn chưa hết nghĩa vụ). Gặp cán bộ quản lý doanh trại, cả hai chúng tôi đều là bộ đội nên việc thông cảm cho nhau cũng dễ dàng. Hôm sau cùng về nhà người yêu tôi ở Hà Tây.

Đi tàu về Hà Nội rồi lên xe buýt về Hà Tây, hai gia đình trao đổi rồi thế là một đám cưới nhanh chóng ngay ngày hôm sau, họ mạc bạn bè đến mừng hạnh phúc. Hai chúng tôi tranh thủ đi thăm hỏi bà con cô bác để hôm sau cùng đại diện nhà gái về nhà trai tổ chức. Thế là hết hai phần ba thời gian thủ trưởng cho về.

Cô dâu chẳng khác ngày thường là mấy, tôi mặc bộ quân phục mang về. Cuối cùng một đám cưới nhà binh cũng được tổ chức trọn vẹn. Vợ chồng tôi chỉ có một đêm ngày cưới, hôm sau là hết thời gian. Tổng thể có bảy ngày tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, là người đã có gia đình, trả phép đúng thời gian. Kỷ niệm đẹp nhất là một việc làm ý nghĩa, vừa tới đơn vị hôm sau tôi được tham gia lấy gỗ làm cầu bắc qua suối Mỏ Gà cùng chi Đoàn thanh niên của xóm và gọi đó là cầu Quân Dân.

Công tác huấn luyện xong xuôi, chúng tôi phát bãi trồng ngô, cấy lúa để tự túc lương thực. Đã tới Tết Nguyên đán, đơn vị đón Tết tại nơi huấn luyện. Tiểu đội tôi ăn Tết tại gia đình bác người Tày. Năm nay bác thịt cả con lợn một tạ vì có các chú bộ đội ăn cùng. Ấm áp lòng, Tết xa gia đình, xa vợ cũng vơi đi buồn nhớ.

Cùng lúc này đơn vị có thêm ba đồng đội nữa được về cưới vợ sau tôi đã lên kịp ăn Tết tại đây. Chắc các đồng đội ấy phải cảm ơn mẹ tôi đã làm thành tiền lệ.

Nói vui vậy để cho tôi bày tỏ nỗi lòng tới mẹ… một lòng yêu kính xót thương. Không có ngòi bút nào tả hết công lao nuôi dạy, bàn tay mẹ tôi thay cả tay cha. Theo tiếng gọi của Đảng mẹ dẫn ba con trai đi xây dựng vùng Kinh tế mới. Thời gian này giặc Mỹ đang đánh bom miền Bắc. Tôi khi ấy sáu tuổi còn nhớ tàu chở đoàn Kinh tế mới chúng tôi phải dừng lại ở ga Quán Triều, một đêm trú ẩn nheo nhóc vì máy bay Mỹ ném bom trúng vào ga Lưu Xá.

Cuộc đời của mẹ lớn lên tham gia dân quân du kích đuổi Nhật, đánh Tây. Năm 1946 mẹ vào bộ đội, là chiến sĩ quân báo của tỉnh Hà Nam. Nhọc nhằn vùng kinh tế mới tại Phú Xuyên - Đại Từ - Bắc Thái, mẹ không từ việc làm thuê để nuôi các con. Sau khi đón con trai cả tham gia chống Mỹ bị thương nặng trở về mẹ lại tiễn người con thứ hai là tôi lên Biên giới phía Bắc.

Bốn nhăm năm kỷ niệm ngày nhập ngũ năm nay năm đầu tiên tôi không còn mẹ để đáp đền, vui vầy chia sẻ. Cùng là Lễ Vu Lan rằm tháng Bảy đã rất gần… tôi nhớ Mẹ.

Lại nhớ ngày tạm biệt nhân dân Mỏ Gà lên đường chiến đấu, bà con ra tiễn chúng tôi thật cảm động. Lướt qua cửa xe như có mẹ, có vợ… những ánh mắt trông cậy tin yêu là hành trang theo người lính lên đường.

Làm sao có thể không quên mình cho Đất Mẹ Việt Nam?

27/8/2023

Lưu Giang

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Không biết nói gì Lời tác giả Thầy giáo Phương ơi Đoạn cuối Phương ơi Bác Thắng viết sử Lũ quét Tây Nguyên là nhà Anh Thanh Tri kỷ Về quê mẹ Con cô giáo Tôi xin lỗi Văn nghệ Tân binh nhớ mẹ Vừa đi vừa lớn Chuyến tàu bão táp Ông ngoại Mẹ là nhành hoa Lá thư chung Anh Lánh - Người Mường Cô du kích Củ Chi Mắt biếc Tình nguyện “Mẹ ơi”… Bức ảnh kể chuyện Tết đầu trên Tây Nguyên Bữa cơm Tuy An Nỗi nhớ lòng hồ Góc nhỏ chuyện lính Em đẹp như hoa Pơlang Chiến dịch Lòng trung Niềm vui sau một bài báo Cây đời Đứng khóc giữa trời Kachiusa Việt Nam, bình độ 400 và ngày giỗ trận sư đoàn Giữ vùng giải phóng Chị Nụ Nỗi niềm - Tình yêu người lính Hơi ấm Tháng bảy ngày này Câu nói và bài thơ để lại Quân ơi Chuyện tù binh Đã có vợ chưa Võ đặc công Nhớ người bạn tuổi thơ Từ nơi cây rừng trụi lá Mái trường của anh Nhớ giao liên Kiêu hùng Bạn chiến của tôi Em ghét anh Nhớ về xã Ái Quốc Ký ức bên dòng kinh Ngang Ngày 55 tuổi Đảng Thu Hà truyện Giấc mơ quê Trận đầu - Trận lớn Vị thần trong mơ Nơi giữ đời con gái Tiếng hô vang từ phía cổng trời Chia tay voi chiến Mầy ơi! Thằng Hải Cùng voi vào chiến dịch Cùng một dạ xung phong Một góc lính hậu cần Chuyện tình mùa xuân Phong lan mỉm cười Đồng hương binh chủng hợp thành Kể chuyện hành Người cùng tên Cảm xúc mùa xuân Nhớ từ tấm áo của cha Nhớ mãi nụ cười Kỷ niệm về một bản nhạc Quốc Oai kiên cường cách mạng Đường tới miền Đông Chặng về chiến trường sông nước miền Tây Khăn rằn thương nhớ Đồng hương tôi - Tùng điên Ngày 55 tuổi Đảng Bài ca giữ nước Những vần thơ của lính Tôi tìm bạn tôi Đường tôi đến Sài Gòn Trận đầu lính đặc công Người giao liên đặc biệt Người miền Tây Một quãng mùa xuân Đón và bảo vệ bà nữ tướng Một chiến công kỳ lạ D15 gang thép Thái Nguyên
Tiến »