
(Kính tặng CCB Lê Phú Dân)
Đây là bức ảnh chụp tôi tháng 3/1975. Theo yêu cầu của cấp trên phải đầu xù tóc rối, vào thành điều nghiên trong những ngày cuối cùng Chính quyền Ngụy Sài Gòn.
Nửa Thế kỷ vẫn vẹn nguyên ký ức. Cứ lấy chuẩn mực cuộc sống bây giờ chắc bạn trẻ không hiểu nổi chúng tôi, một thời gian khổ mà sục sôi… mà lãng mạn.
Để đến trận đầu câu chuyện sẽ bắt đầu từ xa một chút. Sinh ra thời loạn lạc, đất nước chia cắt hai miền. Miền Bắc hứng chịu bom đạn Mỹ ngày đêm, miền Nam dưới ách Mỹ xâm lược và chính quyền Ngụy bù nhìn. Đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh chưa bao giờ nguôi ý chí Thống nhất.
Miền Trung là quê nó. Gia đình thường chỉ có sáu mẹ con bởi vì bố nó chẳng mấy khi ở nhà. Nó tự hào bố làm ở ngành Lâm nghiệp, bố chỉ huy con phà lớn chở gỗ tại Bến Sung (nay là khu du lịch nổi tiếng Bến En phía Tây nam thành phố).
Nghèo và đói quanh năm suốt tháng, ước mơ thằng bé chỉ là được no bữa cơm độn sắn, nhà có khoai đầy bao tải là vui mãn nguyện rồi. Bữa cơm gia đình mỗi người chỉ một bát, bữa nào bát cơm thằng bé mà không đầy là nó không chịu, bắt đền anh chị và mẹ phải cho đầy… Nó là con út mà.
Chắc được mọi người nuông chiều, dành phần hơn một chút nên thằng bé lớn nhanh. Lại trắng trẻo trông nó như con gái, hai má “bánh đúc” đỏ hồng nên được gọi là Dân “bánh đúc”… bánh đúc món ngon nhất trong kí ức, hiếm hoi có dịp mẹ nấu bằng bột gạo cùng nước vôi lọc.
Cái đói cái nghèo đeo đẳng nhất là tháng ba ngày tám, bữa cơm bữa cháo, đứt bữa là chuyện thường. Nhà có chiếc nồi đồng của hồi môn mẹ đã mang ra chợ bán đi. Quần áo “bộ nghiêm” đi học, còn “bộ nghỉ” dành cho mặc làm việc ở nhà, chân đi đất.
Bố thoát ly, gánh nặng dồn hết vai mẹ, nhưng nhờ vậy nó có một món quà bao trai làng mơ ước. Đó là chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô, bố mua cho khi nó học lên cấp Hai.
Thằng bé quyết không để đói nghèo theo đuổi. Chủ nhật nghỉ học nó lên rừng chặt tre nứa về bán, rồi xuống biển buôn cá. Thế là có tiền mua sách vở và may quần áo.
Vừa học vừa kiếm tiền bươn chải nhờ có chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô nhưng lực học nó xếp vào loại giỏi của nhà trường. Thằng bé ngây ngô chỉ biết lao vào học và kiếm tiền không để ý những gì xung quanh. Một cô nàng cùng lớp tên là Thúy đã để ý nó từ bao giờ, tối phải học bài nhưng cứ khoảng tám giờ tối Thuý đến kiếm chuyện, hôm thì xin nước uống, hôm thì hỏi bài tập, cứ rình rà đến mười giờ đêm mới chịu ra về. Một ngày không gặp nó chắc cô ấy ăn không ngon ngủ không yên sao ấy.
Lên cấp Ba nó đang học lớp 9 thì có đợt tuyển quân. Thấy có anh còn nhỏ hơn mình, thằng bé xin mẹ đi khám nghĩa vụ. Như bao thanh niên ngày ấy, nó ước ao cầm súng nhưng mẹ và anh chị không đồng ý vì nó chưa đến tuổi. Hơn nữa chị gái đang công tác Giao liên trên dải Trường Sơn.
Mẹ bảo: “Con đi tìm gặp hỏi bố”. Nó muốn đi ngay nhưng lúc này nơi bố làm máy bay Mỹ đánh phá suốt ngày đêm. Đi không biết gặp được bố không hay cơ quan và chiếc phà đã đi sơ tán?
Mấy ngày đêm suy nghĩ ráo riết thì bố về. Lần đầu tiên nói chuyện như một người trưởng thành, nó xin bố gác nghiên bút lên đường cứu nước. Do dự một chút nhưng trước quyết tâm của nó, bố đồng ý cho thằng bé khám Nghĩa vụ, tòng quân.
Dễ dàng qua hai vòng sơ tuyển tại Huyện nhà với xếp loại A1. Gia đình bạn bè thôn xóm đến liên hoan mừng nó lên đường, suốt mấy ngày bạn bè gặp gỡ.
Đang chờ ngày lên đường nhập ngũ thì một bất ngờ. Hoa, cô hoa hậu của cả vùng quê lại yêu thầm nhớ trộm nó từ bao giờ không biết. Tìm gặp nó, Hoa mời tối đến nhà “chơi uống nước”. Ôi được Hoa xinh gái nhất vùng mời, nó bỏ hẹn bạn bè, đánh liều đến xem sao cô gái này lại mời nó… tự nhận là “thằng áo rách”, lại sắp xa quê hương.
Nhà Hoa làng dưới, cách khoảng hai kilomet. Đến khi chưa có ai, em mời nó vào nhà. Ngồi khoảng mười phút thì có một chàng trai con ông Chủ tịch Xã, rồi tiếp đến là chàng trai con ông làm ở Sở Nông nghiệp. Ăn mặc tươm tất, quần là áo lượt, hai người lễ phép cùng nó ngồi bàn.
Rồi Hoa xuất hiện rót nước và em cất lời:
- Mời hai anh và người yêu em uống nước.
Ai là người yêu? Ôi, câu nói tế nhị làm ba chàng trai đến “tăm tia” đều hy vọng.
Những ngày sau Hoa tỏ ra rất vui, thường xuyên đến nhà nó chơi mà bỏ lơ hai chàng công tử… rồi chuyện gì đến sẽ đến, “tam ngộ” giữa ba người là Thúy và Hoa xảy ra, không mong muốn và bất khả kháng tại nhà nó.
Giờ đây hai bà Thúy và Hoa đã thành bà nội bà ngoại, chuyện tam ngộ thành kỷ niệm không ai muốn nhắc…
“Thằng bé” là tôi ngày ấy lên đường.
Trúng tuyển bộ đội nhưng hạnh phúc hơn nữa đợt này lứa chúng tôi được tham gia một vòng tuyển chọn đặc biệt. Từ trung tâm huyện Hoàng Hóa lên tàu đến huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây. Chúng tôi gồm con em mười tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây. Ba ngàn tân binh lựa chọn lấy hai trăm chiến sĩ cho Đơn vị 305 bộ Tư lệnh Đặc công. Qua được vòng tuyển chọn nhưng bất ngờ lòi ra… tôi chưa đủ mười tám tuổi, bấy giờ tôi mới nghĩ đến người bác họ Lê Phú Trang, là bác sĩ quân y của Bộ tư lệnh 305, ông cũng là người trực tiếp khám tuyển… Gặp bác tôi mếu máo:
- Bác Trang ơi! giờ cháu phải về quê… xấu hổ lắm, nhờ bác có cách nào “cứu mang” để cháu được ở lại được không?
Bác Trang trả lời: “Được để bác suy nghĩ, nhưng không hứa đâu nhé”!
Chưa yên tâm, tôi xin phép đơn vị tìm đến nhà riêng bác ở Hà Đông, nài nỉ. Thế rồi tôi được ở lại cùng hai trăm anh em vượt qua tiêu chuẩn khắt khe vào đơn vị huấn luyện đặc biệt. Sau này mới biết là đơn vị Đặc công tổng hợp, còn gọi là “Đặc tình”. Đặc công bình thường huấn luyện từ sáu đến tám tháng cấp tốc bổ xung cho các chiến trường. Thời gian huấn luyện của chúng tôi hai năm. Ngoài cổng Đại bản doanh treo biển “Công ty chế biến thực phẩm Hà Nội”, xe ra vào đều mang biển dân sự.
Thời gian huấn luyện mười tám tháng đầu chúng tôi đến nhiều nơi. Học đánh cứ điểm tại Bất Bạt - Chương Mỹ - Hà Tây và Đồi Ngô, đồi Yên Ngựa - Lục Nam - Hà Bắc. Học đánh sân bay và đánh trong thành phố tại sân bay Gia Lâm và ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những khoa mục này gọi là Đặc công khô. Rồi về đoàn 5 Thủy Nguyên Hải Phòng học bơi lội của Đặc công nước. Sau huấn luyện sát hạch, số chiến sĩ không đáp ứng được chuyển sang đơn vị khác, nhiệm vụ khác… Đơn vị trụ lại sáu mươi chiến sĩ. Về trường học chỉ huy Trung đội trưởng 6 tháng. Sau khóa học cấp trên cho tất cả chúng tôi từ Binh nhất vượt cấp lên Thượng sĩ.
Tiêu chuẩn ăn huấn luyện bộ binh thời đó là 6 hào 8 xu/ người/ ngày, đặc công ăn tiêu chuẩn là 1 đồng 8 hào và 2 đồng 4 hào. Ngang với tiêu chuẩn Phi công… Điều đó nói lên huấn luyện Đặc công khắc nghiệt đến thế nào. Bí mật không giấu được nét tự hào. Với các cô gái thanh lịch Hà thành, mỗi tối Thứ bảy dù mặc đồ dân sự dạo chơi, lính đặc công luôn rạng ngời thu hút.
Trước ngày vào Nam đơn vị đóng tại xã Hạ Hồi - Thường Tín - Hà Tây, nơi mà cách đây hai năm chúng tôi được tuyển chọn. Gọi là trường nhưng tất cả đều ở nhờ nhà dân. Tại đây chúng tôi được nghỉ hai ngày để nhận quân trang vũ khí. Rất nhiều thứ lạ đời lính chưa bao giờ nhìn thấy, đặc biệt là hai quả lựu đạn mỏ vịt chỉ to bằng quả trứng vịt và một túi nilon có in chữ bên ngoài CCCP cấp trên phổ biến là không được mở ra khi chưa có lệnh. Quân tư trang và ba lô đều là vải dù của Nga như lính đặc nhiệm dù.
Biên chế là Lữ đoàn nhưng quân số đơn vị chỉ sáu mươi cán bộ chiến sĩ do Trung tá đoàn trưởng chỉ huy. Trước lúc lên tàu vào Nam đoàn chúng tôi được ông Cao Pha, Phó Tư lệnh 305 kiêm Cục trưởng Cục 2 trực tiếp đến giao nhiệm vụ.
Đó là vào tháng 11/1971.
Toàn đơn vị đã được kết nạp Đảng, kỷ luật nghiêm đến ngặt nghèo. Việc lấy vợ phải được cấp trên về quê người yêu thẩm tra lý lịch được mới cho cưới. Nhưng khi chuẩn bị vào chiến trường phải kê khai thân nhân lại lòi ra một trường hợp cưới vợ chui, đó là chiến sĩ Thường quê Hải Hưng… Ôi khổ cho cả đơn vị một lần toát mồ hôi.
Ngày lên đường vào buổi chiều thì “sự cố” xảy ra khi sáng ra, tập trung điểm danh phát hiện thiếu hai chiến sĩ. Gọi là chiến sĩ nhưng đã được đào tạo nghiêm khắc đến cấp Trung đội. Thôi khổ rồi sao lại vô kỷ luật như vậy? Cấp trên yêu cầu phải tìm cho bằng được và xử lý thật nghiêm để răn đe. Nhưng đến hai giờ chiều thì họ tự xuất hiện, hai anh về Hà Nội chơi để tạm biệt người yêu, tiện có đám giỗ nên ở lại cùng gia đình. Toàn đơn vị tập trung tại sân đình xã Hà Hồi, đứng gần tiếng đồng hồ nghe hai chiến sĩ đọc bản kiểm điểm trước hàng quân. Đọc hai lần, lần thứ ba yêu cầu không được nhìn giấy, đọc thuộc lòng.
Đoàn tàu chở toàn đơn vị xuất phát từ ga Thường Tín lúc trời nhá nhem để tránh máy bay, đến ga Cát Đằng xuống tàu chúng tôi lên ô tô thùng, xe dừng lại ở huyện Triệu Sơn - Thanh Hóa.
Tại đây được nghỉ hai ngày tắm giặt, tôi xin đơn vị về thăm nhà. Triệu Sơn khác huyện nhưng gần nhà, đường tắt chỉ hai kilomet thôi nhưng phải qua một bến đò do dân tự lập.
Tôi đến bến đò lúc khoảng 22 giờ. Phải làm gì để có thể đò sang chở một mình? Rút súng ngắn tôi bắn chỉ thiên ba phát, thế là một cô gái cầm đèn chèo đò sang. Cô lái đò nói to: “Có việc gì mà chú bộ đội nổ súng đêm khuya khoắt vậy”? Tôi đáp đang nhiệm vụ khẩn cấp. Khi sang hỏi phí đò thì gái bảo riêng bộ đội không được phép thu phí. Cảm ơn cô hẹn ngày mai gặp lại, qua đò tôi rảo bước nhanh, với tất cả sức lực dồn hết để được gặp người yêu và gia đình.
Về đến gia đình chưa ai ngủ, mọi người đang trò chuyện, thấy con em mình xuất hiện trong bộ quân phục cả nhà mừng rỡ vui không biết đến chừng nào… Sáng ra tôi hỏi mẹ Thúy có nhà không? Mẹ làm câu: “Hỏng rồi… nó vừa cưới chồng cách đây hai tháng”. Tôi buồn tụt hứng, không bõ công đêm tối về quê. Thôi có lẽ về đơn vị thôi, tạm biệt mẹ và gia đình lần cuối, con ra trận.
Thời gian còn bốn tiếng đồng mới có mặt đơn vị, một ý nghĩ lóe trong đầu. Tôi lấy xe đạp xin mẹ đến nhà bạn xóm bên. Mẹ bảo: “Bạn nào mà mẹ chưa được biết”? “Khi nào con về cho mẹ biết”.
Tôi phóng thật nhanh… Hoa xinh gái nhất vùng, Hoa theo tôi say tôi như điều đổ, chỉ tại cuộc “tam ngộ” hai năm trước làm “xôi hỏng bỏng không”. Rút kinh nghiệm cô bạn gần nhà, gần đến nhà Hoa tôi đạp xe chậm lại, hỏi thăm… Gặp một em nhỏ tôi hỏi nhà cô Hoa, cháu chỉ nhà. Tôi lại hỏi: “Cô Hoa có nhà không”? Cậu bé nói cô Hoa đi bộ đội được ba tháng rồi.
- Có đúng không vậy?
- Cháu nói thật mà.
Lại chưng hửng nhưng phải tin thôi, các cụ xưa nói rồi: “Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ”!
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường lũ học trò chúng tôi say mê cuốn tiểu thuyết lãng mạn “Mùa hoa dẻ”. Gọi là “sách cấm” nhưng tuổi trẻ mà, chuyền tay nhau đọc, thậm chí nhiều bạn còn chép lại bằng bút mực… sao đúng thế với hoàn cảnh tôi lúc này. Lòng vẳng câu thơ buồn:
“Anh đến với hoa thì hoa đã nở
Anh đến con đò, đò đã sang sông
Anh đến với em thì em đã lấy chồng”…
Vậy là chẳng còn lưu luyến gì trên đường ra trận.
Vượt Trường Sơn, Đơn vị tôi trú quân trong một rừng già thuộc tỉnh Kongpong Cham (Campuchia). Từ đây mọi thứ rất lạ, trừ vũ khí đặc biệt của đặc công, mọi tư trang cá nhân của chúng tôi đều được thu lại. Được phát tiền Riel Campuchia để tiêu vặt, mua vải may mặc như dân thường.
Được học thêm chính trị, học tiếng Anh, tiếng Thái, Campuchia. Chúng tôi rất bất ngờ… những thứ hình như chẳng liên quan đến chiến trường, chiến đấu.
Mặc dù sâu trong rừng mọi thứ đều cảnh giác, nấu cơm bếp Hoàng Cầm, chặt cành cây che chắn ngụy trang như khi trên dãy Trường Sơn. Ngoài giờ học tập anh em đơn vị tranh thủ vào rừng hái măng le và bắt cá dưới suối để cải thiện bữa ăn. Ong mật có rất nhiều cả trên cây cao và dưới đất.
Chúng tôi muốn đến ngay các chiến trường nhưng đang phải chờ đợi thì nhận lệnh đi giải cứu một đoàn xe chở hàng của ta bị kẹt do quân Giải phóng Khmer đỏ bắt giữ, tại một khu rừng cách nơi chúng tôi khoảng một ngày đường (50 kilomet). Nghe vậy ai nấy đều háo hức, ai cũng muốn được tham gia nhưng vị chỉ huy Miền chỉ lấy bốn Đặc công tinh nhuệ.
Thời gian đó ta vẫn thường gọi là “Quân Giải phóng khơ me đỏ” với Quân Giải phóng Miền Nam hữu hảo anh em. Được biết các chuyến hàng của ta chở lương thực, nhu yếu phẩm phục vụ chiến trường Miền Nam đi qua vùng kiểm soát của quân Giải phóng Khmer đỏ… bị phát hiện cứ mười xe là ta phải “nộp thuế” ba xe. Không cần biết là trong xe có gì. Bọn chúng (lúc này là bạn) quen ăn chặn nhiều lần nhưng vì tình bạn ta cho tung hoành thoải mái… Trên hết vì chiến lược lâu dài giải phóng Miền Nam.
Chuyến hàng lớn này là vũ khí ta chuẩn bị mở Chiến dịch Nguyễn Huệ - Mùa hè đỏ lửa 1972. Xuất phát từ cảng Hải Phòng bằng tàu không số, đã phải quá cảnh sang Singapore mất hơn sáu tháng mới cập cảng Sihanoukville. Đoàn xe gồm mười một chiếc, “bạn” muốn thu ba xe. Riêng lần này ta không chịu, đàm phán nộp một xe…
Anh em xì xào: “Tiêu diệt hết mẹ đi”! Chưa đến bốn mươi tên, chỉ cần ba đến năm chiến sĩ ta là “ăn gỏi”… Đang ngứa ngáy chân tay, khí thế lên hừng hực. Nhưng cấp trên yêu cầu không được manh động.
Lại nói về đất nước Campuchia những năm 1970 - 1975 tồn tại hai chính quyền: Chính quyền Lon Nol được Mỹ hậu thuẫn đóng tại thủ đô Nongpenh. Và chính quyền Khmer đỏ (gồm Pôn pốt - Iêng xa ri và Khieu xam pon) chủ yếu trong rừng các tỉnh Đông Bắc Campuchia giáp Việt Nam và Lào, được chính phủ cách mạng Lâm thời Miền Nam hậu thuẫn.
Campuchia còn gọi là đất nước Chùa Tháp bởi có nhiều kiến trúc cổ, nhà chùa khắp đất nước. Con trai muốn lấy vợ phải vào chùa tu ở ba năm. Người dân Campuchia không phân biệt độ tuổi rất tôn sùng Quốc trưởng Norodom Sihanouk.
Năm 1970 Lon Nol lật đổ Quốc trưởng Sihanouk, gia tộc hoàng gia phải lưu vong cư trú tại Bắc Kinh - Trung Quốc, được Trung Quốc bảo trợ. Đến cuối năm 1971 ta đã giải phóng cao nguyên Boloven và vùng đông nam Lào, quốc trưởng Sihanouk không muốn sống lưu vong, đã đề nghị phía Việt Nam đưa về nước. Đó là một câu chuyện dài, lúc này cả ba nước Đông Dương đều cùng chiến tranh với đế quốc Mỹ. Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh Đại tá Đặng Tính khi đưa quốc trưởng Sihanouk đi theo đường dây 559 trên dãy Trường Sơn.
Giờ đây nơi trú quân của chúng tôi giữa rừng già mà bầu trời hàng ngày đủ các loại máy bay trinh sát 0V10, C130 của Mỹ tìm diệt Việt Cộng… Đó là “công” của chính quyền Lon Nol.
Khmer đỏ cũng được bọn tình báo Hoa nam Trung Quốc huấn luyện chuyên ám sát quân giải phóng ta ở Campuchia. Đặc biệt man rợ bằng dao chém. Bởi vậy thời đó nơi này chúng tôi gọi là “Tọa độ dao quắm”, đơn vị phổ biến khi ra đường là phải ba người trở lên và mang theo lốc mích (lựu đạn). Sau này trên đường hành quân sang nước thứ ba (Thái Lan) rất nhiều lần đơn vị tôi bị Quân Giải phóng Khmer đỏ đe dọa hành quyết (vì lực lượng nhỏ chỉ có bốn mươi cán bộ chiến sĩ).
Cần phải nói thêm là Quốc trưởng Sihanouk khi chưa bị lật đổ đã ký cho ta mượn ba tỉnh Đông Bắc Campuchia để làm hậu cứ chuyển quân, chuyển vũ khí từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Tại đây có Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền. Cùng là hai bệnh viện lớn K50-51, các bệnh xá K7-8-9-10 quân Giải phóng Miền Nam.
“Vì tình bạn Quốc tế, thậm chí mất một nửa đoàn xe cũng phải chịu”. Với tinh thần như vậy kế hoạch giải cứu hình thành… Mục đích lấy lại đoàn xe của ta trong tay quân Khmer đỏ mà vẫn giữ được tình bằng hữu. Tổ công tác gồm bốn chiến sĩ đặc công và hai chỉ huy quân sự của Miền. Tất cả ăn mặc, trang bị vũ khí như biệt kích Mỹ.
Theo mật báo cho biết, quân Khmer đỏ dồn xe cướp được của ta lại thành hình tam giác để dễ bề kiểm tra kiểm soát, ba tên gác theo ba cạnh tam giác.
Kế hoạch chi tiết phổ biến rất cụ thể cho từng cá nhân. Tuyệt đối không được nổ súng, không được làm tổn thương nặng phía bên kia. Mỗi người được phát cuộn băng dính dùng để trói chân, tay, miệng.
Như vậy tổng số 6 người chia làm hai tổ, mỗi tổ do một cán bộ Miền chỉ huy. Hai mốt giờ bí mật lên đường. Hai ba giờ tiếp cận mục tiêu. Xác định toàn bộ là xe Mỹ GMC. Lính gác đang đi lại, chúng tăng cường thành bốn tên.
Công tác chuẩn bị cách vị trí đoàn xe khoảng hai trăm mét, mọi người đeo mặt nạ chống độc, ém quân. Đúng 1 giờ 15 phút sáng phối hợp làm gọn bốn tên gác, trói chặt chân tay bịt miệng bằng bằng băng dính. Bên trong tất cả chỉ huy và quân lính vẫn say giấc mộng, chớp nhoáng xịt bình thuốc mê… cả mấy tên gác nữa, cho ngủ ngon luôn.
Một tổ đưa đoàn xe khẩn trương rời vị trí, một tổ ở lại xóa dấu vết.
Tất cả xe rời khoảng hai mươi phút thì tổ xóa dấu vết mới rút lui an toàn.
Sáng cùng ngày phía ta điện đàm trên sóng PRC25 với quân Khmer đỏ để đàm phán về đoàn xe… Phía bạn cho biết một tin xấu là đêm qua biệt kích Mỹ và Lon Nol đã cướp hết đi rồi.
Thực hiện kiểu biệt kích hai bên không thương vong cũng không tốn một viên đạn nào, không dấu vết, nói lên tài tình của Bộ Chỉ huy Miền. Một trong hai người chỉ huy trận đó sau này tôi được gặp nhiều. Ông rất giỏi tiếng Miên vì mấy năm trước ông trong vai nhà buôn lớn ở Nongpenh, sau đảo chính Campuchia 1970 ông về Cứ.
Thời gian đơn vị tôi trú quân trong rừng già Kongpongcham chừng hai tháng. Lần lượt một số bổ sung đi các chiến trường Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và trung đoàn đặc công 429 Miền. Số còn lại chúng tôi khoảng hơn hai chục người tiếp tục học ngoại ngữ: tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Campuchia. Riêng tiếng Campuchia ra dân “học bồi” nên nói rất nhanh. Ngày lên đường được bổ sung thêm một số cán bộ chiến sĩ 126 đặc công nước Hải quân, đủ quân số là ba mươi chiến sĩ.
Cũng thời gian đó tại đây lần đầu tôi dính cơn sốt rét ác tính. Đồng đội đắp cho đến mười cái chăn mà vẫn rét run co giật, bốn thằng giữ chân tay. Nghe mình nghiến đến trẹo hàm, chỉ biết đồng đội cậy răng cho cái muỗng vào rồi tôi mê đi. Lúc tỉnh dậy thấy mình ở nơi rất đông người qua lại. Có tiếng phụ nữ: “Ôi lạy Chúa! Dân sống lại rồi”… Hai đồng đội túc trực bên tôi đã mấy ngày đêm, các anh cho biết đây là khoa Cấp cứu tích cực bệnh viện K50 Miền Đông Nam Bộ.
Biết ơn y bác sĩ tận tâm, ơn đồng đội. Ơn Nhà nước, Quân đội, Nhân dân bỏ tiền để đào tạo chúng tôi thành người chiến sĩ Đặc tình với kinh phí không hề nhỏ.
Được cống hiến đến ngày Chiến thắng. Qua hơn nửa Thế kỷ, ký ức trận đầu một phần đơn vị tham gia thắng lợi trong tôi chẳng phai mờ.
23/2/2024
Lưu Giang