Nói về lực lượng Giao liên phải nói đến sức mạnh, tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập. Chúng ta hình dung theo bản đồ hình S, con đường mà các đồng chí Giao liên phụ trách được ví như mạch máu trong cơ thể, vươn tới khắp các mặt trận. Nhìn nhận với góc độ cá nhân, các đồng chí Giao liên làm tôi thực sự ngưỡng mộ và khâm phục.
Thế hệ chúng tôi nhập ngũ sau Hiệp định Paris, trên đường ra trận, vượt Trường Sơn chúng tôi được đi bằng phương tiện xe cơ giới. Tới ngã ba Đông Dương xe dừng lại. Chúng tôi bắt đầu đi bộ vào đường dây Giải phóng do đoàn C50 quản lý.
Binh trạm nối tiếp trạm khách… đêm ngày hành quân qua những cánh rừng già bạt ngàn. Theo chỉ dẫn của các đồng chí Giao liên, đoàn chúng tôi đi tới tỉnh Cam Bốt (Campuchia).
Từ thượng nguồn sông vàm cỏ Đông đi về miền Tây, đường gần nhất đi theo lối Kiến Phong - Kiến Tường song mấy tháng trước đường này bị lộ, một đơn vị chủ yếu Tân binh Sinh viên trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã hy sinh gần như tất cả, cùng với thực tế chiến trường Sư đoàn 5 quân giải phóng đang tác chiến khu vực lộ 4 (từ Long An đến Mỹ Tho), đơn vị tôi đổi hướng hành quân theo cung đường 1C. Chặng đường này rất nguy hiểm, qua kênh Vĩnh Tế rồi vượt qua các ấp chiến lược còn gọi là “vùng trắng”.
Không phải lúc nào cũng theo quy luật. Có Cơ sở báo, có Giao liên dẫn đường… đoàn chúng tôi vẫn bị phục kích ở lộ Cây Sắn. Nóng giận, trách và hiểu nhầm ba người Giao liên (một nam, hai nữ) hôm ấy là nỗi ân hận không bao giờ quên…
Sau này vào thăm lại chiến trường, qua giao lưu với các CCB mới biết năm đó những người Giao liên bảo vệ con đường 1C phải chi bốn mươi cây vàng cho Thượng cấp ngụy (mà ta vẫn mua vũ khí), để nó hạ lệnh không pháo kích: “Có mấy thằng du kích nhằm nhò gì”… Vậy là hơn ba trăm người chúng tôi được sống.
Cung đường 1C xuất phát từ Cảng Xihanucvin (chuyển vũ khí) đi về 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ. Từ cung đường này chúng tôi được tiếp xúc nhiều, trực tiếp với những người chiến sĩ Giao liên. Hình ảnh họ rất bình thường giản dị, quần áo như những người dân Nam Bộ. Ấn tượng nhất đối với tôi là những người con gái Giao liên nhỏ nhắn với bộ bà ba, chiếc khăn rằn, vai khoác súng M16 của Mỹ.
Đoàn chúng tôi (ban đầu) gần 400 người, hành quân ban đêm dưới sự chỉ huy của ba người con gái Giao liên. Họ đi trước bơi qua sông, rồi thoắt quay lại dẫn đường. Họ thực sự dũng cảm, coi cái chết nhẹ như lông hồng. Họ sẵn sàng hy sinh để bảo vệ an toàn cho các đoàn quân Giải phóng. Mọi cung đường, địa hình, địa vật… họ thuộc như những đường vân trong lòng bàn tay. Sau này hai tiếng Giao liên luôn sát cánh cùng người chiến sĩ chúng tôi trên chiến trường sông nước.
Những đêm vượt mênh mông sông Hậu, hai thuyền kẹp hai máy Cole 12 sức ngựa, tuân thủ theo đường dây Giao liên. Các đồng chí Giao liên hẳn đã nắm chắc được quy luật con nước, quy luật của các Giang thuyền ngụy.
Những đêm hành quân trên cánh đồng rộng chẳng biết bãi bờ, tối đen như mực… Giao liên nói nhìn sao trên trời để xác định hướng đi.
Có cả những chuyến hành quân bằng thuyền qua vùng địch hậu giữa ban ngày. Là những trường hợp các đồng chí nằm viện, chuyển viện, đi công tác một hai người… nếu đi bằng đường bộ lại phải một tổ Giao liên bám lộ bám sông. Cơ sở của ta làm thuyền hai đáy, anh em nằm ở dưới, các má các chị để thóc gạo, củi khô ở trên.
Giữa cái sống và cái chết trong gang tấc mới hiểu được những người làm công tác Giao liên. Từ vĩ tuyến 17 cho tới vùng rừng đước Năm Căn - Đất Mũi, mạng lưới Giao liên thông suốt mang ánh sáng của Đảng tới tận bản làng ấp xã. Công việc của họ thầm lặng… Chiến công của họ góp phần rất lớn trong cuộc chiến đấu Giải phóng Dân tộc để đến ngày toàn thắng.
Vinh dự sống và chiến đấu ở đơn vị tiểu đoàn 306 Trung đoàn 3 quân khu 9 - đơn vị được Đảng Nhà nước Tuyên dương ba lần Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Chúng tôi luôn được bà con cô bác che chở, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho.
Thật lòng chiến trường nào cũng ác liệt cả, nhưng người chiến sĩ Giải phóng sống và công tác trên chiến trường sông nước Cửu Long miền Tây Nam Bộ chúng tôi có phần hơn những người lính khác là được sống nhờ vào dân. Các má, các chị, các dượng lo cho từng miếng cơm, ít khi bị đói. Nếu không may những nắm cơm buộc vào chiếc khăn rằn treo sau gáy bị dính nước thì chuyển sang ăn trái cây. Có khi ban ngày dân cho xuống chum “chém vè”, ban đêm mới lại đưa lên… cuộc sống của người lính chiến trường Miền Tây là vậy.
Những ngày công tác trên chiến trường Vĩnh Trà (hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh), những trận đánh công đồn Chi khu, Yếu khu… con đường hành quân đêm chúng tôi tiếp xúc nhiều với những người con trai, con gái Giao liên. Họ phụ trách các cung đường, dẫn chúng tôi luồn qua các ấp chiến lược, ấp nọ đến xã kia.
Bộ bà ba đen, chiếc khăn rằn, mũ tai bèo, thuyền ba lá cùng chiếc cầu khỉ bắc qua kênh rạch… để lại nhiều nỗi nhớ cho những người chiến sĩ Giải phóng chúng tôi.
(Theo Ccb Phan Trọng Sâm)
19/8/2022